Bản án số 345/2026/DS-PT ngày 09/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 345/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 345/2026/DS-PT ngày 09/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 345/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa L-S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 345/2026/DS-PT Bản án số 345/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 345/2026/DS-PT Bản án số 345/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
_________________
Bản án số: 345/2026/DS-PT
Ngày : 09/7/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Đào Chí Keo và ông Trương Văn Hai.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trọng - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (
sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số
297/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 5 năm 2026 về việc Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”.
Do Bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 290/2026/QĐ-PT ngày
25 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 425/2026/QĐ-PT ngày 22
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Thị Sinh L, sinh năm 1965; CCCD số:
************, cấp ngày 20/10/2025; nơi ttại: Tổ I, ấp M, M, tỉnh An
Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của Hà ThSinh L: Ông Trần Minh H,
sinh năm 1963; CCCD số: ************; cấp ngày 07/02/2023; nơi trú: ấp
V, xã C, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2026) (có mặt)
2. Bđơn: Ông Văn S, sinh năm 1979; CCCD số: ************; cấp
ngày 04/11/2022; nơi cư trú tại: Tổ G, ấp M, xã V, tỉnh An Giang (có mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Tuyết N, sinh
năm 1957; cư trú tại: Tổ A, ấp M, xã M, tỉnh An Giang (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn S.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn bà Hà Thị Sinh L trình bày:
Ngày 24/3/2022 ông S nhận của L tiền đặt cọc 300.000.000đ để
chuyển nhượng đất nông nghiệp 24.000m
2
, đất tọa lạc M, huyện C, tỉnh An
Giang. Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc ông S nói đất của ông S, ông S có đưa
đi xem đất xem bản photo mặt trong của giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Khi ký hợp đồng đặt cọc hai bên không thỏa thuận thời gian chuyển
nhượng. Sau này bà phát hiện diện tích đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà
Trần Thị Tuyết N; nên giữa bà với ông S và bà N gặp nhau để trao đổi thì
mới biết ông S có đặt cọc để nhận chuyển nhượng diện tích đất 24.000m
2
của bà
N ông S lấy diện tích đất này để chuyển nhượng lại cho bà. Sau khi sviệc
xảy ra thì N đã trả lại tiền nhận đặt cọc cho ông S nhưng ông S không trả lại
tiền đã nhận đặt cọc của bà. L không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng đất với ông S. Ngoài ra, trong thời gian ký hợp đồng đặt cọc ông
S không thông báo cho đến Văn phòng công chứng để hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
Nay L khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày
24/3/2022 giữa Thị Sinh L với ông Văn S hiệu yêu cầu giải
quyết hậu quả phápcủa hợp đồng hiệu, buộc ông S trách nhiệm trả cho
bà số tiền 300.000.000đ.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn S trình bày:
Thống nhất ngày 24/3/2022 ông hợp đồng đặt cọc với L, mục
đích để tiến đến ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 24.000m
2
, đất tọa lạc
xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Ông có nhận tiền đặt cọc của bà L 300.000.000đ
vào ngày 24/3/2022, stiền này ông quản sdụng vào việc kinh doanh.
Khi hợp đồng đặt cọc với L thì diện tích đất trên ông đang quản lý, canh
tác nhưng đất vẫn thuộc quyền sử dụng của Trần Thị Tuyết N. Lý do đất của
N đứng tên mà ông ký hợp đồng đặt cọc với L là vì: Trước đó ông đã đặt cọc
để giao kết tiến đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với N
nhưng giữa ông N chưa hợp đồng chuyển nhượng. Ông thông báo
cho bà L biết nếu có mua bán thì sau này ra văn phòng công chứng ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà N thì bà L đồng ý.
Ông không nhớ tại thời điểm hợp đồng đặt cọc ông đưa giấy đất
thông báo đất do N đứng tên cho L biết hay không vì thời gian đã lâu. Khi
hợp đồng đặt cọc thì hai bên thỏa thuận trong thời hạn 01 tháng L với ông
phải ra Văn phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng tuy nhiên L
không hợp đồng chuyển nhượng là vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, L xin
thêm thời hạn 03 tháng sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông đồng ý.
Diện tích đất ông S hợp đồng đặt cọc với L thì hiện nay N đang
đứng tên chủ sử dụng đang quản lý, canh tác đất. Trước đây, ông đặt cọc cho
N 600.000.000đ để nhận chuyển nhượng diện tích đất 24.000m
2
nhưng do
3
L không hợp đồng chuyển nhượng với N nên N trả lại ông
400.000.000đ, hiện n lại 200.000.000đ. Nay ông yêu cầu L tiếp tục thực
hiện theo hợp đồng đặt cọc đã ký với ông vào ngày 24/3/2022.
Tại Bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực An Giang:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều
228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131, Điều 328, Điều
407 Điều 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 và điểm b
khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà Thị Sinh L đối với ông Văn S. Tuyên bố hợp đồng đặt
cọc ngày 24/3/2022 đã giữa Thị Sinh L với ông Lê Văn S là hiệu.
Buộc ông Văn S trách nhiệm trả cho Thị Sinh L số tiền
300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí quyền kháng cáo của các
đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 13 tháng 10 năm 2025 ngày 22 tháng 10
năm 2025, bị đơn ông Lê Văn S đơn kháng cáo không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của Thị Sinh L về việc tuyên bhợp đồng đặt cọc ngày
24/3/2022 đã giữa Thị Sinh L với ông Văn S hiệu buộc ông
Văn S có trách nhiệm trả cho bà Hà Thị Sinh L số tiền 300.000.000 đồng.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành
Quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn số 08/2026/QĐ-PT về việc chấp nhận
kháng cáo quá hạn của ông Lê Văn S đối với bản án dân sự sơ thẩm số
41/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực An
Giang về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn ông Văn S trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông
không đồng ý trả cho L số tiền 300.000.000 đồng, bởi L không đến
phòng công chứng để hợp đồng chuyển nhượng để thực hiện thủ tục chuyển
nhượng đất hoàn toàn là lỗi của bà L.
Ông Trần Minh H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến: Tại giai
đoạn phúc thẩm những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tuân thủ đúng pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
4
quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, thành phần
Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ
luật Ttụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn ông Văn S. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
41/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực An
Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Ông Văn S đơn kháng
cáo quá hạn, đã được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang chấp nhận theo Quyết định
chấp nhận kháng cáo quá hạn số 08/2026/QĐ-PT ngày 05/02/2026 ông S
nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.2] Về thủ tục ủy quyền: Nguyên đơn Thị Sinh L ủy quyền cho
ông Trần Minh H theo Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2026 do Phòng Công chứng
Nguyễn Thúc T chứng nhận số công chứng 1131/2026/CCGD. Hội đồng xét xử
xét thấy thủ tục ủy quyền trên phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 85 của B
luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Bà L và ông S đều thống nhất có ký hợp đồng đặt cọc ngày
24/3/2022. Quá trình giải quyết thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,
ông S đều thừa nhận nhận tiền đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho L với s tiền 300.000.000 đồng. Diện tích đất ông S muốn chuyển
nhượng cho L do N đứng tên quyền sử dụng đất N hiện đang quản
lý, canh tác. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác
định hợp đồng đặt cọc ngày 24/3/2022 sthống nhất của L và ông S nêu
trên là sự thật không cần phải chứng minh.
[2.2] Xét thấy, mục đích bà L và ông S ký hợp đồng đặt cọc ngày
24/3/2022 là để tiến đến ký hợp đồng chuyển nhượng phần diện tích đất
24.000m². Tuy nhiên, tại thời điểm hợp đồng đặt cọc, diện tích đất 24.000m²
do Trần Thị Tuyết N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sdụng đất
hiện nay phần đất này vẫn do N đứng tên N đang quản lý, sử dụng đất.
Do đó, ông S không phải chủ sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp
luật nên ông S không quyền hợp đồng đặt cọc để tiến đến hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đối tượng của hợp đồng không thể thực
hiện được nên L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hiệu hợp đồng đặt cọc ngày
24/3/2022 giữa Thị Sinh L với ông Văn S và yêu cầu ông S trả lại cho
bà L 300.000.000 đồng là có căn cứ.
5
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn ông Văn S kháng cáo
nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo
của mình nên không có cơ sở xem xét chấp nhận; do vậy, cần giữ nguyên bản án
sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông Lê Văn S phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015; Không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn S.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực An Giang.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 131, Điều 328, Điều 407, Điều 408 của Bộ luật Dân
sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Sinh L đối với ông
Văn S. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 24/3/2022 đã giữa Thị
Sinh L với ông Văn S hiệu. Buộc ông Văn S trách nhiệm trả cho
Hà Thị Sinh L số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
2. Về án phí:
2.1. Dân sự sơ thẩm:
Ông Văn S phải chịu 15.300.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hà Thị Sinh L được nhận lại 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 0009472 ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực An
Giang).
2. Dân sự phúc thẩm: Ông Văn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo Biên lai thu số 0000610 ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh A) (đã nộp xong).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
6
Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
- Phòng Thi hành án DS khu vực -An
Giang;
- Tòa án nhân dân khu vực -An Giang;
- Phòng KTNV & THA;
- Đương sự “Để thi hành”;
- Văn phòng; Tòa Dân sự, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 345/2026/DS-PT Bản án số 345/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 345/2026/DS-PT Bản án số 345/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất