Bản án số 336/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 336/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 336/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 336/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nguyễn Thị Thùy T - Lăng Anh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 336/2026/DS-PT Bản án số 336/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 336/2026/DS-PT Bản án số 336/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 336/2026/DS-PT
Ngày 30 tháng 6 năm 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyn
nhượng quyn s dụng đất, yêu cầu
tuyên bố hợp đồng vô hiệu, gii quyết
hu qu ca hợp đồng vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.
Các Thẩm phán: Ông Đào Chí Keo và ông Nguyễn Hoàng Thám.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày ngày 23/6/2026 ngày 30/6/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai v án dân sự thụ số:
143/2026/TLPT-DS ngày 27/02/2026 về việc Tranh chp hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, gii quyết hu
qu ca hp đồng vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 233/2026/QĐ-PT ngày
28 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 1987; vắng mặt;
- Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1982; có mặt;
Cùng cư trú: số nhà D, Đường số F, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:
- Ông Lăng Anh T1, sinh năm 1984; vắng mặt;
- Bà Triệu Ngọc T2, sinh năm 1989; vắng mặt;
2
Cùng cư trú: số B đường L, phường L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số F
đường Y, phường L, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Anh T3, sinh năm 1977; trú: số 265/1 hẻm R, khóm B,
phường B, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Anh T3: Đặng Ngọc M,
sinh năm 2000; địa chỉ: khóm C, phường L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số C
đường B, phường L, tỉnh An Giang, có mặt.
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Phòng thi hành án dân sự khu vực
9 - Thi hành án dân sự tỉnh A; địa chỉ: số G N, Tổ A, khóm Đ, phường L, tỉnh
An Giang; vắng mặt;
- Văn phòng C, tỉnh An Giang; địa chỉ: số C đường L, phường L, tỉnh An
Giang; vắng mặt;
- Người kháng cáo: Ông Đinh Anh T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh H, bà Trần Thị Thùy T trình bày:
Ngày 29/10/2024 vợ chồng ông Nguyễn Minh H, Trần Thị Thùy T
nhận chuyển nhượng của ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 diện tích đất
90,0m
2
, thửa s 485, t bản đồ s 101 tại phường M, thành phố L (nay
phường L), tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CH18752 do Ủy ban nhân dân
thành phố L cấp ngày 14/12/2023 cho ông Đinh Võ Minh T4, Đoàn Thị Bích
N ngày 31/05/2024 được Văn phòng đăng đất đai chi nhánh thành phố L
chính lý biến động sang tên cho ông Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2.
Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nêu trên đang được ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 thế chấp tại Ngân
hàng TMCP V - Chi nhánh A để đảm bảo cho khoản vay với số tiền 2 tỷ đồng,
do ông T1, T2 cần tất toán khoản vay, nên vợ chồng ông H đã đưa tiền mặt
01 tỷ đồng, chuyển khoản 01 tỷ đồng, vợ chồng ông T1 đã m giấy xác nhận
nhận tiền vào ngày 29/10/2024. Sau khi tất toán khoản giải chấp tài sản,
ngày 30/10/2024 ông T1, bà T2 tiến hành xóa đăng giao dịch bảo đảm, cùng
ngày đã hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông H tại Văn phòng C,
đồng thời 02 bên đã thực hiện bàn giao khu đất nộp hồ đăng biến động
tại Văn phòng đăng ký đất, theo giấy hẹn sẽ kết quả vào ngày 14/11/2024,
nhưng đến ngày 19/11/2024 Văn phòng Đ chi nhánh L thông báo về việc
dừng giải quyết thủ tục đăng ký biến động với lý do: Theo quyết định số 19/QĐ-
CCTHADS ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long
Xuyên. Do việc dừng hồ sơ, đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
vợ chồng ông H, nên đã có yêu cầu khởi kiện:
3
- Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Minh H, Trần Thị Thùy T với ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc
T2 đối với phần đất diện tích 90,0m
2
thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH18752, thửa số 485, tờ
bản đồ số 101 tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang được chứng thực tại
Văn phòng C số 1289 ngày 30/10/2024.
- Yêu cầu ông T1, T2 thực hiện thủ tục sang tên, chuyển quyền cho
ông H, bà T.
Tại văn bản đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 04/02/2025 bị đơn ông Lăng
Anh T1, Triệu Ngọc T2 trình bày: Ông T1, T2 nhận được Thông báo
thụ của Tòa án, cũng như giấy triệu tập của Tòa án, nhưng do sức khỏe hiện
nay không tốt không trực tiếp tham gia vụ án được, nên xin vắng mặt tại các
buổi làm việc của Tòa án, cũng như xin vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử
của Tòa án.
Do tình hình kinh tế khó khăn, kinh doanh giảm sút nên chúng tôi không
đủ tiền để đóng lãi ngân hàng tại V1 dẫn tới nợ xấu, nên ông Nguyễn Minh H
nhiều lần bàn bạc, thương lượng để mua lại tài sản để xử lý nợ xấu, với tài sản là
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số CH18752 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp của chúng tôi
chúng tôi đồng ý. Ngày 29/10/2024 chúng tôi cùng ông H, bà T đến Văn phòng
C, ký các hợp đồng:
Hợp đồng ủy quyền để ông H đi xóa thế chấp tại Ngân hàng V1 và làm hồ
sang tên. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, T (ký
treo).
Cùng ngày 29/10/2024, sau khi làm hồ tất toán khoản vay với số tiền
2.025.000.000 đồng, bao gồm ông H đưa cho bà T2 01 tỷ đồng tiền mặt nộp vào
tài khoản bên vay tại Ngân hàng V1 1.100 triệu đồng với hình thức chuyển
khoản, khi tất toán xong, Ngân hàng đã giao giấy chứng nhận cho chúng tôi,
chúng tôi đưa lại cho ông H, ngày 30/10/2024 khi văn phòng công chứng ký xác
nhận chính thức thì chúng tôi ông H, T biên bản xác nhận tiền
biên bản bàn giao đất; ngày 31/10/2024 ông H đến Văn phòng đăng đất đai
chi nhánh L đsang tên nhận giấy hẹn trả kết quả ngày 14/11/2024, cho tới
ngày 21/11/2024 chúng tôi mới nhận được đơn của Chi cục Thi hành án dân s
thành phố Long Xuyên vviệc ngăn chặn tài sản của chúng tôi, bản thân mới
biết tài sản bị ngăn chặn. Việc bản án số 359/2024/DS-ST tchúng tôi hoàn
toàn không biết, vì không nhận được giấy triệu tập của Tòa án, chỉ khi nhận giấy
triệu tập của Thi hành án mới biết việc này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Ông Đinh Anh T3 do bà Đặng Ngọc M làm đại diện trình bày:
Ngày 30/01/2024, ông Đinh Anh T3 chuyển nhượng 02 quyền sử dụng
đất tại thửa số 485, tờ bản đồ số 101, diện tích 90,0m
2
theo giấy chứng nhận
4
quyền sử dụng đất số CH18752 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày
14/12/2023 thửa số 486, tờ bản đồ s101, diện tích 90,0m
2
theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CH18710 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày
13/12/2023 cho ông Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2 với giá 5,5 tỷ đồng, ông
T1, bà T2 đã trả trước 2 tỷ đồng, còn nợ số tiền 3,5 tỷ đồng.
Do nhiều lần yêu cầu ông T1, T2 thanh toán, nhưng không thực hiện
thanh toán, ông Đinh Anh T3 đơn yêu cầu khởi kiện tại Tòa án thành phố L
(nay Tòa án nhân dân khu vực 9), tại Bản án số 359/2024/DS-ST ngày
27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đã tuyên xử: Buộc ông
Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 phải nghĩa vụ trả cho ông Đinh Anh T3 số
tiền 3.610.274.000 đồng, trong đó 3,5 tỷ đồng tiền nợ (theo thỏa thuận chuyển
nhượng thửa đát số 485, 496 thuộc tờ bản đồ số 101) tiền lãi do chậm thực
hiện nghĩa vụ 110.274.000 đồng. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật, ông
Đinh Anh T3 đơn yêu cầu thi hành án đối với bản án, sau đó ông được biết
thông tin việc ông Lăng Anh T1, T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
485 cho ông H, T nhưng chưa sang tên. Ngày 19/11/2024 Chi cục THADS
thành phố L văn bản thi hành án và dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu,
thay đổi hiện trạng đối với thửa 485, diện tích 90,0m
2
, nên ông T1, T2 không
sang tên cho ông H, T được. Việc ông T1, T2 chuyển nhượng tài sản
nhưng không dùng khoản tiền chuyển nhượng để trả cho ông, hành vi chuyển
nhượng sau khi bản án hiệu lực pháp luật nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi
hành án, nh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của ông. vậy, ông Đinh Anh T3
yêu cầu:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QDSĐ lập
ngày 30/10/2024 do Văn phòng C chứng nhận số 1289, quyển số
01/2023/TP/CC-SCC/HĐ giữa ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 với ông
Nguyễn Minh H, bà Trần Thị Thùy T.
- Yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất hiệu: Buộc ông ng Anh T1, Triệu Ngọc T2 trả lại số tiền
chuyển nhượng đất cho ông H, T. Đồng thời buộc ông Nguyễn Minh H,
Trần Thị T trả lại diện tích 90,0m
2
đất đô thị, thửa đất 485, tbản đồ số 101
thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH18710 do UBND thành phố L
cấp ngày 13/12/2023 tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cho ông
Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2 để đảm bảo thi hành án cho ông.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác gồm: Chi cục THADS thành
phố L (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9), Phòng C1 vắng mặt trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử, không văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện
việc cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H, bà Trần
Thị Thu T5 đối với ông Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2.
5
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Minh H, Trần Thị Thùy T với ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2
đối với phần đất diện tích 90,0m
2
thuộc giấy chứng nhận quyền s dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DM 885839, số vào sổ
CH18752, thửa số 485, tờ bản đồ số 101 tọa lạc tại phường M, thành phố L (nay
phường L), tỉnh An Giang được chứng thực tại Văn phòng C số 1289 ngày
30/10/2024.
- Buộc ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 thực hiện thủ tục sang tên,
chuyển quyền cho ông H, bà T.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Đinh Anh T3 về
việc:
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QDSĐ lập ngày 30/10/2024
do Văn phòng C chứng nhận số 1289, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐ giữa
ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 với ông Nguyễn Minh H, Trần Th
Thùy T.
- Yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất hiệu: Buộc ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 trả lại số tiền
chuyển nhượng đất cho ông H, T. Đồng thời buộc ông Nguyễn Minh H,
Trần Thị Thùy T trả lại diện tích 90,0m
2
đất đô thị, thửa đất 485, tờ bản đồ số
101 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH18752 do UBND thành phố
L cấp ngày 14/12/2023 tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cho ông
Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2 để đảm bảo thi hành cho ông Đinh Anh T3.
Ngoài ra, bản án n tuyên vchi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 12/9/2025 ông Đinh Anh T3 kháng cáo toàn bộ nội dung bản án
thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ginguyên yêu cầu khởi kiện, ông
Đinh Anh T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Các đương sự không tranh luận
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư
phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và
nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử:
không chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh
Anh T3; giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 05/09/2025
6
của TAND khu vực 9 - tỉnh An Giang; ông Đinh Anh T3 phải chịu án phí phúc
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Đinh Anh T3 kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong
hạn luật định. Tại phiên tòa mặt nguyên đơn, người quyền nghĩa vụ liên
quan bà Đinh Anh T3; các đương sự còn lại đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ
2 nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng
mặt các đương sự vắng mặt.
[2] Xét kháng cáo của ông Đinh Anh T3
Ngày 29/10/2024 ông Nguyễn Minh H, bà Trần Thị Thùy T chuyển
nhượng của ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 diện tích đất 90,0m
2
, tại thửa
số 485, tờ bản đồ số 101 tọa lạc phường M, thành phố L (nay phường L), tỉnh
An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài
sản khác gắn liền với đất sổ CH18752 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp
ngày 14/12/2023 cho ông Đinh Minh T4, Đoàn Thị Bích N, được Văn
phòng đăng đất đai chi nhánh thành phố L chính biến động sang n cho
ông Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2 ngày 31/05/2024.
Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nêu trên đang được ông Lăng Anh T1, T2 đang thế chấp tại Ngân hàng
TMCP V - Chi nhánh A để đảm bảo cho khoản vay 02 tỷ đồng theo Hợp đồng
tín dụng ký ngày 17/5/2024 Hợp đồng hạn mức thấu chi ngày 01/7/2024; tài
sản thế chấp để đảm bảo cho 02 khoản vay diện tích đất 90,0m
2
, tại thửa số
485, tờ bản đồ số 101 nêu trên, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày
06/6/2026. Ông H, T đã đưa cho ông Lăng Anh T1, T2 2,1 tỷ đồng (đưa
trực tiếp chuyển vào tài khoản của T2), ông Lăng Anh T1, T2 đã dùng
số tiền này để tất toán hợp đồng vay cho Ngân hàng TMCP V vào ngày
29/10/2024. Ngày 30/10/2024 ông ông Lăng Anh T1, T2 xóa thế chấp. Cùng
ngày 30/10/2024 ông ông Lăng Anh T1, T2 ông H, bà T hợp đồng
chuyển nhượng diện tích đất 90,0m
2
, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng
C. Ngày 31/10/2024 ông Lăng Anh T1, T2 đã lập biên bản giao đất cho ông
H, T ông H, T nộp hồ đăng biến động tại Bộ phận tiếp nhận
trả kết quả của UBND thành phố L và hẹn trả kết quả giải quyết hồ vào ngày
14/11/2024. Ngày 14/11/2024 ông T1, T đã nộp thuế thu nhập nhân lệ
phí trước bxong. Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các
bên tự nguyện xác lập, đúng hình thức theo quy định pháp luật, thanh toán
tiền thực tế và đã thực hiện xong việc giao nhận tài sản; ông H, T đã thực
hiện xong nghĩa vụ thuế cho Nhà nước.
Đến ngày 19/11/2024, Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Long
Xuyên Quyết định số 19/QĐ-CCTHADS v việc tạm dừng việc đăng ký,
chuyển quyền s hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với tích đất
7
90,0m
2
, tại thửa số 485, tờ bản đồ số 101 cho ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc
T2 đứng tên. Cùng ngày 19/11/2024 Văn phòng Đ chi nhánh L thông báo về
việc dừng giải quyết thủ tục đăng biến động với do: Theo quyết định số
19/QĐ-CCTHADS ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Long Xuyên.
Nhận thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các bên tự
nguyện xác lập, đúng hình thức theo quy định pháp luật, thanh toán tiền thực
tế đã thực hiện xong việc giao nhận tài sản; ông H, T đã thực hiện xong
nghĩa vụ thuế cho Nhà nước. Tại thời điểm các bên kết hợp đồng chuyển
nhượng nộp hồ đăng biến động, thửa đất tranh chấp không báp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời, không bị biên, phong tỏa hoặc bị quan
thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch. Ngày 11/11/2024 ông T1
mới xin xác nhận bản án hiệu lực pháp luật và đến ngày 19/11/2024 mới
đơn yêu cầu thi hành án, đơn đề nghtạm dừng giao dịch tài sản; cùng ngày Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên mới ban hành Quyết định số
19/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng
đối với tài sản. Toàn bộ quá trình giao kết hợp đồng, thanh toán tiền, giải chấp
tài sản, bàn giao đất và nộp hồ sang tên đều diễn ra trước thời điểm quyết
định ngăn chặn của cơ quan thi hành án. Do đó, việc Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Long Xuyên ban hành Quyết định số 19/QĐ-CCTHADS vviệc tạm
dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản diện tích đất
90m
2
ảnh hưởng đến quyền lợi của ông H, T. Do đó, Tòa án cấp thẩm
xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T là có căn cứ.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Đinh Anh T3: Toàn bộ số tiền chuyển
nhượng ông Lăng Anh T1, bà T2 đã sử dụng vào việc tất toán hợp đồng vay với
Ngân hàng TMCP V; không chứng cứ chứng minh các bên tham gia giao
dịch có sự thông đồng nhằm che giấu giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa
vụ đối với người thứ ba. Ông H, T là bên nhận chuyển nhượng ngay tình, đã
thanh toán thực tế số tiền 2,1 tỷ đồng; số tiền này được sử dụng để tất toán
khoản vay ngân hàng giải chấp chính tài sản chuyển nhượng. vậy, không
căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
30/10/2024 là giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại các Điều 117, 122, 123
và 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập
của ông Đinh Anh T3 căn cứ. Ông Đinh Anh T3 kháng cáo nhưng không
cung cấp được chứng cứ chứng minh, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của ông Đinh Anh T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông Đinh Anh T3 phải chịu 300.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1
Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
8
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Anh T3.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H, bà Trần
Thị Thu T5 đối với ông Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Nguyễn Minh H, Trần Thị Thùy T với ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2
đối với phần đất diện tích 90,0m
2
thuộc giấy chứng nhận quyền s dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DM 885839, số vào sổ
CH18752, thửa số 485, tờ bản đồ số 101 tọa lạc tại phường M, thành phố L (nay
phường L), tỉnh An Giang được chứng thực tại Văn phòng C số 1289 ngày
30/10/2024.
- Buộc ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 thực hiện thủ tục sang tên,
chuyển quyền cho ông H, bà T.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Đinh Anh T3 về
việc:
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QDSĐ lập ngày 30/10/2024
do Văn phòng C chứng nhận số 1289, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐ giữa
ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 với ông Nguyễn Minh H, Trần Thị
Thùy T.
- Yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất hiệu: Buộc ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 trả lại số tiền
chuyển nhượng đất cho ông H, T. Đồng thời buộc ông Nguyễn Minh H,
Trần Thị Thùy T trả lại diện tích 90,0m
2
đất đô thị, thửa đất 485, tờ bản đồ số
101 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH18752 do UBND thành phố
L cấp ngày 14/12/2023 tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cho ông
Lăng Anh T1, bà Triệu Ngọc T2 để đảm bảo thi hành cho ông Đinh Anh T3.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Minh H, Trần Th Thùy T tự
nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng: Trong đó chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
1.135.000 đồng (Một triệu, một trăm ba mươi lăm nghìn đồng) Chi phí
định giá tài sản số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) theo
phiếu thu số 001256 ngày 15/5/2025 của Công ty cổ phần T6. Tổng số tiền
5.635.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm ba ơi m nghìn đồng); ông H, T đã
nộp đủ chi phí tố tụng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lăng Anh T1, Triệu Ngọc T2 cùng phải chịu án phí dân sự
thẩm với số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), ông T1, T2 phải nộp
tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
9
- Ông Nguyễn Minh H, Trần Thị Thùy T được trả lại số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí tòa án số 0002015 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Long Xuyên (nay Phòng thi hành án dân skhu vực 9 - Thi
hành án dân sự tỉnh An Giang).
- Ông Đinh Anh T3 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án p
dân sự thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
0003023 ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên
(nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
5. Về án phí phúc thẩm: Ông Đinh Anh T3 phải chịu 300.000 đồng, được
khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nôp tại biên lai thu hiệu
BLTU/25E, số 0002469 ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- THADS tỉnh An Giang;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA tỉnh;
- TAND khu vực 9- An Giang;
- Phòng THADS khu vực 9 - An Giang;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 336/2026/DS-PT Bản án số 336/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 336/2026/DS-PT Bản án số 336/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất