Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cù Lao Dung (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 18/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 04/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị S tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản với anh A, chị H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 04-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Nguyễn Văn Ngộ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung,
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST-DS ngày
12 tháng 7 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Sa V – Chủ hộ kinh doanh T.
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn:
1. Anh Trần Hoàng A, sinh năm 1986;
2. Chị Danh Bé H, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Tất cả đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lập ngày 01 tháng 7 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung lập
ngày 18 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Thạch Thị Sa V – Chủ hộ kinh doanh T
trình bày:

2
Vào ngày 01/02/2019, chị Thạch Thị Sa V – Chủ hộ kinh doanh T (sau đây
gọi tắt là chị V) có Hợp đồng bán thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất cho anh
Trần Hoàng A và chị Danh Bé H do anh Trần Hoàng A đại diện ký hợp đồng.
Theo hợp đồng, chị V có giao thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất cho anh
Hoàng A và chị H để nuôi tôm. Trong quá trình nuôi tôm thì anh Hoàng A và chị
H có trả tiền, trả không đủ rồi thiếu nợ lại chị V một ít, chị V tiếp tục bán thức ăn
nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất cho anh Hoàng A và chị H nuôi vụ tiếp theo theo
yêu cầu của anh Hoàng A và chị H. Đến ngày 04/3/2022, vợ chồng anh Hoàng A
và chị H chốt nợ với chị V do anh Hoàng A đại diện ký chốt nợ tại “Sổ theo dõi
hàng – công nợ” lập ngày 04/3/2022, thì vợ chồng anh Hoàng A và chị H còn nợ
chị V số tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất tổng cộng là
513.955.000 đồng.
Sau khi xác nhận nợ thì anh Hoàng A và chị H còn cam kết hàng tháng anh
Hoàng A và chị H còn phải chịu khoản tiền lãi là 1%/1 tháng trên số tiền còn nợ
gốc. Do anh Hoàng A và chị H thống nhất xác định còn nợ chị V số tiền là
513.955.000 đồng có thỏa thuận lãi suất hàng tháng mà đến nay anh Hoàng A và
chị H không trả tiền lãi cũng không trả tiền gốc cho chị V, vi phạm việc thỏa thuận
trả nợ tiền thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất nên chị V yêu cầu anh Hoàng
A và chị H phải có trách nhiệm trả thêm cho chị V tiền lãi suất theo thỏa thuận là
1%/01 tháng trên số tiền nợ gốc là 513.955.000 đồng và thời gian yêu cầu tính lãi
từ ngày 04/3/2022 cho đến khi trả dứt nợ. Tạm tính từ ngày 04/3/2022 đến ngày
04/7/2024 là 28 tháng với số tiền lãi là 143.907.400 đồng (513.955.000 đồng x
1%/01 tháng x 28 tháng). Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi là 657.862.400 đồng.
Nay chị V yêu cầu Tòa án giải quyết:
Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xem xét giải quyết: Buộc anh
Hoàng A và chị H có trách nhiệm hoàn trả cho chị V số tiền vốn mà anh Hoàng A
và chị H còn nợ chị V trong hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và
hóa chất là 513.955.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận, tính từ ngày
04/3/2022 cho đến khi trả dứt nợ với lãi suất là 1%/1 tháng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong
quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Trần Hoàng
A và chị Danh Bé H trình bày:
Vào ngày 01/02/2019, vợ chồng anh Trần Hoàng A và chị Danh Bé H có ký
Hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất với chị Thạch Thị Sa
V – Chủ hộ kinh doanh T. Thực hiện theo hợp đồng, tính đến ngày 04/3/2022, vợ
chồng anh Hoàng A và chị H chốt nợ với chị V do anh Hoàng A đại diện ký chốt
nợ tại “Sổ theo dõi hàng – công nợ” lập ngày 04/3/2022, thì vợ chồng anh Hoàng
A và chị H còn nợ chị V số tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất tổng
cộng là 513.955.000 đồng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì khi chốt nợ, vợ
chồng anh Hoàng A và chị H không trả dứt nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi,
thuốc và hóa chất cho chị V thì anh Hoàng A và chị H không được chiết khấu và
phải chịu lãi suất 1%/tháng trên số tiền nợ gốc cho đến khi trả dứt nợ. Nay vợ
chồng anh Hoàng A và chị H đồng ý trả toàn bộ số tiền nợ 513.955.000 đồng cho

3
chị V nhưng do điều kiện kinh tế đang gặp khó khăn nên xin trả dần mỗi năm
50.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Vợ chồng anh Hoàng A và chị H xin chị V
không tính lãi suất trên số tiền vốn gốc kể từ ngày chốt nợ vì hiện nay vợ chồng
anh Hoàng A và chị H không có khả năng trả tiền vốn gốc và lãi suất.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 16/7/2024, nguyên đơn chị V có đơn
yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” quy định tại Điều
126 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa
đất số 735, tờ bản đồ số 1, diện tích 12.806m
2
tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc
Trăng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 062793, vào sổ cấp GCN:
CS01473 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/8/2020 cho ông
Trần Hoàng A vì cho rằng ông Hoàng A có dấu hiệu tẩu tán tài sản bằng hình thức
tặng cho quyền sử dụng đất trên cho bà Trần Hồng L (có cung cấp bản chứng thực
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 15/7/2024) và Tòa án nhân dân
huyện Cù Lao Dung đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật
và đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản
của người có nghĩa vụ” là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 735, tờ bản đồ số 1,
diện tích 12.806m
2
tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thuộc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CU 062793, số vào sổ cấp GCN: CS01473 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/8/2020 cho ông Trần Hoàng A theo
quyết định số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 19 tháng 7 năm 2024 để đảm bảo cho
việc thi hành án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của
những người tham gia tố tụng là các đương sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn chị Thạch
Thị Sa V – Chủ hộ kinh doanh T có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ trả
nợ cho nguyên đơn số tiền còn nợ mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hoá chất để
nuôi thủy sản là 513.955.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 04/3/2022 cho đến
khi trả dứt nợ với lãi suất là 1%/1 tháng. Đề nghị tiếp tục duy trì áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa án đã ra quyết định.
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu toàn bộ
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

4
[1] Về thủ tục tố tụng: Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và
thẩm quyền giải quyết: Khi chị Thạch Thị Sa V – Chủ hộ kinh doanh T nộp đơn
khởi kiện, thì người bị kiện anh Trần Hoàng A và chị Danh Bé H, cùng cư trú tại
ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chị V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc
anh Hoàng A và chị H phải trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc, hóa chất
còn nợ và tiền lãi suất. Chị V đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù
Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án nhân dân
huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị V nộp tiền tạm
ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị V đã thực hiện việc nộp tiền tạm
ứng án phí đúng quy định. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh
Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của chị V là đúng thẩm quyền và đúng theo trình
tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả cho nguyên
đơn số tiền đã mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hoá chất để nuôi thủy sản còn
nợ là 513.955.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 04/3/2022 cho đến khi trả
dứt nợ với lãi suất là 1%/1 tháng.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình
giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị đơn anh Hoàng A và chị H
đều thừa nhận có ký hợp đồng mua bán với chị Thạch Thị Sa V – Chủ hộ kinh
doanh T vào ngày 01/02/2019 và tính đến ngày hôm nay, thì anh Hoàng A và chị
H còn nợ chị V số tiền 513.955.000 đồng. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình
tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự
kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, căn cứ vào quy định này,
Hội đồng xét xử công nhận anh Hoàng A và chị H còn nợ chị V số tiền mua thức
ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hoá chất để nuôi thủy sản là 513.955.000 đồng là sự
thật. Tại phiên tòa sơ thẩm, vợ chồng anh Hoàng A và chị H xin trả dần mỗi năm
50.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ và xin chị V không tính lãi suất đối với số
tiền nợ gốc do gặp khó khăn về kinh tế và không có khả năng trả tiền vốn gốc và
lãi suất. Tuy nhiên, nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu của các bị đơn và vấn
đề này cũng không thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở để
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các bị đơn.
[5] Căn cứ vào Điều 430 Bộ luật Dân sự quy định “Hợp đồng mua bán tài
sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản
cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” và Điều 440 Bộ luật Dân sự quy
định về nghĩa vụ trả tiền, thì tại khoản 1 quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh
toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng”.
Thỏa thuận theo hợp đồng, thì “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền mặt
100% trước hoặc ngay sau khi thu hoạch tôm”. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm
xong bên mua là anh Hoàng A và chị H không thanh toán dứt điểm toàn bộ công
nợ cho bên bán là chị V. Do đó, chị V yêu cầu các bị đơn anh Hoàng A và chị H

5
phải trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hoá chất còn nợ 513.955.000
đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6] Xét về yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi suất từ ngày 04/3/2022, cho
đến khi trả dứt số tiền nợ với lãi suất là 1%/1 tháng trên số tiền nợ gốc
513.955.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Hợp đồng mua bán lập ngày
01/02/2019 giữa nguyên đơn với bị đơn, thì tại Điều 4 có quy định: “Trường hợp
bên B (bên mua) không thanh toán đủ sẽ không được chiết khấu, đồng thời phần
nợ còn lại sẽ tính lãi suất 1%/tháng cho đến khi bên B thanh toán hết”; tại “Sổ theo
dõi hàng – công nợ” lập ngày 04/3/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn xác nhận tổng
công nợ là 513.955.000 đồng. Căn cứ vào Điều 440 Bộ luật Dân sự quy định về
nghĩa vụ trả tiền, thì tại khoản 3 quy định: “Trường hợp bên mua không thực hiện
đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều
357 của Bộ luật này”, theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự quy định về trách
nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Lãi suất phát sinh do chậm
trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá
mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này…”. Theo khoản
1 Điều 468 quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có
thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm
của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác…”. Căn cứ vào các
quy định nêu trên, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền lãi suất 1%/1
tháng trên số tiền nợ gốc 513.955.000 đồng tính từ ngày 04/3/2022 cho đến khi trả
dứt nợ là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp
nhận. Số tiền lãi tính từ ngày 04/3/2022 đến ngày 04/9/2024, nguyên đơn đồng ý
tính tròn là 30 tháng x 513.955.000 đồng x 1%/tháng = 154.186.500 đồng.
[7] Từ những nhận định tại các đoạn [4], [5], [6], Hội đồng xét xử chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ
trả cho nguyên đơn tiền mua thức ăn nuôi tôm, vôi, thuốc và hóa chất còn nợ với
số tiền 513.955.000 đồng và số tiền lãi là 154.186.500 đồng. Tổng cộng số tiền nợ
gốc và lãi là 668.141.500 đồng.
[8] Xét thấy, tại phiên tòa, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án hủy bỏ việc
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên việc tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” là quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 735, tờ bản đồ số 1, diện tích 12.806m
2
tại ấp A, xã A, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 062793, vào sổ
cấp GCN: CS01473 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/8/2020
cho ông Trần Hoàng A theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cù
Lao Dung để đảm bảo cho việc thi hành án là cần thiết.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc

6
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án nên các bị đơn anh Trần Hoàng A và chị Danh B H phải chịu toàn bộ án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 30.725.660 đồng án phí dân sự sơ thẩm (anh
Trần Hoàng A nộp 15.362.830 đồng, chị D Bé H nộp 15.362.830 đồng).
[11] Nguyên đơn chị V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn
được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 357; Điều 430; khoản 1, 3 Điều 440 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Sa V
– Chủ Hộ kinh doanh T đối với các bị đơn anh Trần Hoàng A và chị Danh Bé H.
2. Xử buộc các bị đơn anh Trần Hoàng A và chị Danh Bé H phải có nghĩa
vụ trả cho nguyên đơn chị Thạch Thị Sa V – Chủ Hộ kinh doanh T tiền mua thức
ăn thủy sản, vôi, thuốc và hóa chất còn nợ vốn gốc với số tiền 513.955.000 đồng
và số tiền lãi là 154.186.500 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi là 668.141.500
đồng (sáu trăm sáu mươi tám triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 05/9/2024), anh Hoàng A
và chị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận 1%/tháng của số tiền
nợ vốn gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ vốn gốc trên.
3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cù
Lao Dung về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của
người có nghĩa vụ” là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 735, tờ bản đồ số 1,
diện tích 12.806m
2
tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thuộc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CU 062793, số vào sổ cấp GCN: CS01473 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/8/2020 cho ông Trần Hoàng A để đảm
bảo cho việc thi hành án.
4. Về án phí:
4.1. Các bị đơn anh Trần Hoàng A và chị Danh Bé H phải chịu số tiền án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 30.725.660 đồng (anh Trần Hoàng A nộp
15.362.830 đồng, chị Danh Bé H nộp 15.362.830 đồng).
4.2. Nguyên đơn chị Thạch Thị Sa V – Chủ Hộ kinh doanh T không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả số tiền tạm tạm ứng án phí sơ thẩm
7
tổng cộng 15.876.000 đồng theo các biên lai thu tiền số: 0004444 ngày 03 tháng 7
năm 2024 (số tiền 12.279.000 đồng) và biên lai thu tiền số: 0004459 ngày 19
tháng 7 năm 2024 (số tiền 3.597.000 đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự
phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Cù Lao Dung;
- Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung;
- TAND tỉnh Sóc Trăng
(P.KTNV & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đặng Phước Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm