Bản án số 140/2026/HS-PT ngày 08/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 140/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 140/2026/HS-PT ngày 08/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 140/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Xét xử phúc thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 140/2026/HS-PT
Ngày: 08- 9- 2026
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Thị Thọ
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Dũng
Ông Bùi Thanh Quốc
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn Thư viên, Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Nguyễn Thị Thanh Hương Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 189/2026/TLPT-
HS ngày 19 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Hồng D do có kháng cáo
của bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 55/2026/HS-ST ngày 07 tháng 7
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 Cần Thơ.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Hồng D, sinh ngày: 27/8/1967 tại thành phố H Chí Minh; nơi
trú: ấp T, T, thành phố Cần Thơ; ngh nghiệp: Giám đốc công ty; trình độ
học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) Thị B (chết); vợ Nguyễn Thị
Diệu H 02 người con (người con lớn sinh năm 1994, người con nhỏ sinh năm
2000); tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên toà).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Văn H1 Luật sư Văn phòng L,
thuộc Đoàn Luật thành phố C (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Hoàn Đ, sinh năm 1987
Nơi trú: p T, Đ, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
2. Nguyễn Thị Huỳnh Đ1, sinh năm 1987
Nơi trú: p T, Đ, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Chiêm Phúc T1, sinh năm 1965 (xin vắng mặt)
Nơi trú: Số A, khu V, phường A, thành phố Cần Thơ.
2. Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1969
Nơi trú: Ấp T, T, thành phố Cần Thơ (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 04/4/2022, Tòa án huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay Tòa án
nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ) thụ vụ án dân sự theo đơn khởi kiện của ông
Nguyễn Hoàn Đ cùng với vợ bà Nguyễn Thị Huỳnh Đ1 khởi kiện ông Nguyễn
Hồng D Nguyễn Thị Diệu H yêu cầu trả lại s tiền cọc mua bán đất
400.000.000 đồng (trong đó tiền đặt cọc 200.000.000 đồng tiền bồi thường
cọc là 200.000.000 đồng) theo hợp đồng mua bán đất xác lập ngày 11/12/2020
tại thửa đất mua bán số 137, tờ bản đồ số 15, địa chỉ ấp T, T, huyện C, tỉnh
Hậu Giang (nay p T, T, thành phố Cần Thơ) tổng diện tích 115m
2
(chiều
ngang 5m, chiều dài 23m), trong đó 100m
2
đất thổ cư. Sau khi nghiên cứu hồ
vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A nhận thấy vụ việc dấu hiệu
tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã ban hành văn bản số 97/TA ngày
17/8/2022 chuyển toàn bộ hồ đến quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C,
tỉnh Hậu Giang để làm hành vi ông Nguyễn Hồng D. Quá trình điều tra xác
định: Vào ngày. 30/7/2014, ông Nguyễn n T cha ruột Nguyễn Hồng D cho
ông D Nguyễn Thị Diệu H (vợ của ông D) thửa đất 1968, tờ bản đồ số 4B,
địa chỉ: ấp T, T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp T, T, thành phố Cần
Thơ), với diện tích: 2.913,5 m
2
, loại đất trồng cây lâu năm. Đến năm 2018,
Nguyễn Hồng D đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Hậu Giang
xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư
được Phòng Tài nguyên Môi trường huyện C, tỉnh Hậu Giang thống nhất việc
cho tách thửa đất 1968 thành 03 thửa đất (132, 137, 138). Trong đó thừa 138 có
diện tích 1.305,3m
2
(tách từ thửa 1968) Nguyễn Hồng D xin lên thổ toàn bộ,
còn thửa 132, 137 đất trồng cây lâu năm. Lúc này, Công ty trách nhiệm hữu
hạn Nguyễn Hồng P do bị cáo D làm giám đốc hoạt động khó khăn, không
tiền đóng thuế tiền tách thửa để lên thổ nên Nguyễn Hồng D không tách thửa
được. Đến năm 2020, Nguyễn Hồng D đến Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện C, tỉnh Hậu Giang để xin tách thửa 1968, thành 02 thửa đất. Sau đó,
Nguyễn Hồng D được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh H (nay Sở N1, thành
phố Cần Thơ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất gồm thửa 137, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.280,2 m
2
thửa 132, tờ bản đồ số 15, diện tích: 351,3 m
2
được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vào ngày 26/02/2020, cấp cho vợ chồng Nguyễn Hồng D Nguyễn
Thị Diệu H cùng đứng tên.
3
Do Công ty trách nhiệm hữu hạn Nguyễn Hồng P gặp k khăn về tài
chính nên vào khoảng tháng 6/2020, Nguyễn Hồng D tìm gặp người phụ n tên
T2 (theo lời khai của D, chưa xác định được nhân thân, lai lịch) nói với T2
muốn cầm cố thửa đất số 137 tờ bản đ số 15, diện tích 2.280,2 m
2
. Lúc này, T2
đồng ý giới thiệu người cầm cố thửa đất của Nguyễn Hồng D với số tiền
1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng) với lãi suất 4%/01 tháng,
Nguyễn Hồng D đồng ý cho tiền là 06%. Đến đầu tháng 11/2020, thông qua
giới thiệu của T2, có T3 đi cùng một người đàn ông khoảng 35- 36 tuổi (không
nhân thân, lai lịch) gặp Nguyễn Hồng D đ trao đổi cầm cố thửa đất 137, tờ
bản đồ số 15, diện tích: 2.280,2 m
2
. Sau đó, Nguyễn Hồng D dẫn T3 01 người
đàn ông đi cùng vào coi đất. Đến ngày 08/11/2020, ông Chiêm Phúc T1 cùng T3
người đàn ông không biết tên gặp Nguyễn Hồng D quán C1. Sau khi đi
xem phần đất, ông Chiêm Phúc T1 Nguyễn Hồng D trao đổi, thỏa thuận
thống nhất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 137, tờ bản đồ
số 15, diện tích: 2.280,2m
2
công chứng sang tên cho ông Chiêm Phúc T1.
Đến ngày 11/11/2020, Nguyễn Hồng D, Nguyễn Thị Diệu H ông Chiêm Phúc
T1 đến Văn phòng C2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 137
với số tiền: 600.000.000 đồng, D nhận số tiền: 600.000.000 đồng từ ông T1
quán p phía trước Văn phòng C2. Sau đó, Nguyễn Hồng D, H vào
hợp đồng mua bán nhà đất (bản viết tay) ông T1 soạn với nội dung thể
hiện Nguyễn Hồng D, bà H đồng ý bán thửa đất 137, tờ bản đồ 15, diện tích:
2.280,2 m
2
với số tiền 600.000.000 đồng 02 căn nhà trên thửa đất 137, tờ bản
đồ 15 với số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền bán đất n
1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Ngày 13/11/2020, Nguyễn
Hồng D nhận thêm số tiền: 600.000.000 đồng từ ông T1. Đến ngày 16/11/2020,
Nguyễn Hồng D tiếp tục nhận từ 300.000.000 đồng từ Chiêm P.
Đến ngày 11/12/2020, do Công ty TNHH N2 do Nguyễn Hồng D làm
Giám đốc hoạt động khó khăn, không tiền trả tiền lương cho công nhân nên
Nguyễn Hồng D thỏa thuận bán cho vợ chồng ông Nguyễn Hoàn Đ
Nguyễn Thị Huỳnh Đ1 một nền nhà 115 m
2
(chiều ngang 5m, chiều dài 23m),
trong đó 100 m
2
đất thổ trong thửa đất 137 và 15 m
2
đất trồng cây lâu năm,
với số tiền 300.000.000 đồng. Vợ chồng ông Đ, Đ1 hợp đồng mua bán đất
đưa trước số tiền cho Nguyễn Hồng D số tiền 200.000.000 đồng. Nguyễn
Hồng D thỏa thuận 07 ngày sau khi hợp đồng s đến UBND T, huyện C,
tỉnh Hậu Giang sẽ hoàn thiện thủ tục xác nhận hợp đồng theo quy định của pháp
luật. Nhưng sau khi hợp đồng mua bán đất nhận 200.000.000 đồng t ông
Đ, Nguyễn Hồng D không thực hiện đúng hợp đồng, ông Đ nhiều lần đến gặp D
để yêu cầu thực hiện hợp đồng nhưng Nguyễn Hồng D nói thửa đất của Đ mua
đang làm thủ tục chờ tách thửa tại Phòng Tài nguyên Môi trường huyện C
hẹn kêu ông Đ chờ. Sau một thời gian Nguyễn Hồng D không chuyển nhượng
đất cho Đ, lúc này sợ Nguyễn Hồng D lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình, nên
vào ngày 25/12/2021, ông Nguyễn Hoàn Đ đã gặp Nguyễn Hồng D yêu cầu trả
tiền lại cho Đ nhưng D tiếp tục hứa hẹn yêu cầu Đ chờ làm thủ tục tách thửa
4
tại Phòng Tài nguyên Môi trường huyện C, nhưng Đ không đồng ý. Lúc này,
Nguyễn Hoàn Đ nhờ anh Nguyễn Văn K Dương Văn N chứng kiến yêu
cầu Nguyễn Hồng D làm biên bản cam kết trả nợ, D đồng ý và hẹn trả tiền cho
Đ vào ngày 22/01/2022. Đến ngày 22/01/2022, Nguyễn Hoàn Đ tìm Nguyễn
Hồng D để nhận tiền nhưng D tránh không gặp, ông Đ liên lạc qua điện thoại
với Nguyễn Hồng D thì D không trả tiền thách thức ông Đ với nội dung "Tao
không trả tiền mày, mày làm tao. Mày đi thưa tao đi hầu", rồi D chặn số điện
thoại của Đ. Đến ngày 04/04/2022, ông Nguyễn Hoàn Đ khởi kiện Nguyễn
Hồng D đến Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A. Sau đó, hồ chuyển đến
quan cảnh sát điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản án hình sự thẩm số: 55/2026/HS-ST ngày 07 tháng 7 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 Cần Thơ quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”.
1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản
1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng D 03
năm nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày
tuyên án thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm n tuyên về nghĩa vụ của người được hưởng án
treo tại nơi trú, án phí quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, bị cáo Nguyễn Hồng D kháng cáo đ nghị sửa
bản án thẩm theo hướng tuyên bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản’.
- Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo với do đã trả tiền cho bị hại,
khi bán đất cho ông Đ thì ông T1 ban đầu cũng đồng ý nhưng sau lại đổi ý, khi
bán đất cũng nói cho ông Đ biết về việc cầm cố đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Xét thấy hành vi của bị cáo đ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản”, Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo v tội danh, khung hình phạt căn
cứ, đúng người, đúng tội. Từ đó, Tòa án cấp thẩm đã quyết định mức hình
phạt cho bị cáo 03 năm nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách 05 năm
phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo cho rằng bản chất vụ án tranh chấp dân sự bị cáo đã
trả tiền và cam kết khắc phục nợ trước khi điều tra, xét thấy việc trả nợ tiền cho
bị hại sau khi tội phạm đã hoàn thành nên chỉ được xem bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả cho b hại. Do đó, nhằm răn đe phòng ngừa chung trong
hội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356
5
của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên
bản án thẩm.
- Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Đối với hợp
đồng mua bán đất giữa ông D với vợ chồng của ông Đ, đến năm 2021 đã được
hai bên hủy bỏ hợp đồng này. Về phía bị hại cũng không yêu cầu khởi t vụ án
nên vụ án này được xem hình sự hóa hay không. Mặt khác ông Đ làm
chung Công ty với bị cáo nên cho rằng ông Đ không biết bị cáo đã cầm cố đất
trước đó không sở.
- Bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm của Luật bào chữa cho bị
cáo. Tại thời điểm bán đất cho ông Đ, bị cáo làm đơn xin chuyển mục đích sử
dụng lên đất thổ cư.
- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Tại thời điểm t xử phúc thẩm lần thứ
nhất, do bị cáo cung cấp đơn khởi kiện của ông T1 khởi kiện đối với bị cáo
cung cấp được tài liệu thể hiện việc thỏa thuận trả tiền của bị cáo cho bị
hại. Quá trình điều tra, xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo ông T1 hiệu lực.
Giao dịch dân sự sự tự nguyện nhưng không sự gian dối, còn giao
dịch giữa bị cáo bị hại sự gian dối, việc chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” không thuộc trường hợp khởi tố
theo yêu cầu của bị hại. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã
trình bày.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị
cáo không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về đơn kháng cáo: Sau khi xét xử thẩm, bị cáo thực hiện kháng cáo
theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên
chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo không cấu thành
tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xét thấy:
Tại phiên a, bị cáo thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện theo nội dung
cáo trạng Bản án thẩm đã nêu nhưng cho rằng chỉ mang tính chất giao dịch
dân sự. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các i liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Nguyễn Hồng D vợ Nguyễn Thị Diệu H được Sở i nguyên
Môi trường tỉnh H (nay Sở N1, thành phố Cần Thơ) cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất gồm thửa
6
137, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.280,2m
2
vào ngày 26/02/2020, mục đích sử
dụng đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc đất do ông Nguyễn Văn T cha ruột
của bị cáo D cho tặng.
Đến ngày 11/11/2020, bị cáo Nguyễn Hồng D cùng vợ Nguyễn Thị
Diệu H đến Văn phòng C2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa
137 cho ông C Phúc Thiện với số tiền: 600.000.000 đồng, bị cáo D nhận số tiền:
600.000.000 đồng. Sau đó, b cáo D, H vào hợp đồng mua bán nhà đất
(bản viết tay) được ông T1 soạn với nội dung thể hiện D, bà H đồng ý bán thửa
đất 137, tờ bản đồ 15, diện tích: 2.280,2m
2
với số tiền 600.000.000 đồng 02
căn n trên thửa đất 137, tờ bản đồ 15 với số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng số
tiền bán đất nhà 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Ngày
13/11/2020, bị cáo D nhận thêm số tiền: 600.000.000 đồng từ ông T1. Đến ngày
16/11/2020, tiếp tục nhận từ 300.000.000 đồng t ông T1, đồng thời bị cáo giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc cho ông T1.
Tại các lời khai trong hồ v án, ông C Phúc Thiện trình bày, ông đã
nhận chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất tại thửa 137 của bị cáo Nguyễn Hồng D
cùng vợ Nguyễn Thị Diệu H. Trên thực tế đến m 2021, ông T1 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất 137.
Như vậy với việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa s
137 cho ông Chiêm Quốc T4 được công chứng tại văn phòng công chứng nên
phát sinh hiệu lực nghĩa vụ của các bên tham giao kết hợp đồng phải thi hành.
Bên cạnh đó, còn hợp đồng mua bán nhà, đất thửa số 137 được viết tay với
ông Chiêm Quốc T4. Bị cáo đã nhận tiền giao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông T4 nên thửa đất số 137 không còn đủ điều kiện để được
chuyển nhượng cho người khác. Tuy nhiên, để tiền chi trả lương cho công
nhân do ng ty của bị cáo đang gặp khó khăn cũng như dùng chi xài nhân,
ngày 11/12/2020, bị cáo Nguyễn Hồng D che giấu các thông tin về việc đã
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà, đất với
ông T4, đưa ra các thông tin gian dối như giấy chứng nhận quyền s dụng đất
đang làm thủ tục tách thửa, thỏa thuận 07 ngày sau khi hợp đồng sẽ đến
UBND T, huyện C, tỉnh Hậu Giang sẽ hoàn thiện thủ tục xác nhận hợp đồng
theo quy định của pháp luật. Đặc biệt hành vi gian dối của bị cáo còn được thể
hiện tại khoản 5.2 Điều 5 của hợp đồng mua bán đất với ông Đ Đ1, bị cáo đã
Cam kết đất thuộc sở hữu hợp pháp của mình, không bị tranh chấp không
bị ràng buộc bởi nghĩa vụ pháp với bất kỳ bên thứ 3 nào khác tại thời điểm
mua bán”, từ đó để vợ chồng ông Nguyễn Hoàn Đ Nguyễn Th Huỳnh Đ1
tin tưởng giao số tiền cọc 200.000.000 đồng cho bị cáo D để nhận chuyển
nhượng diện tích 115m
2
trong đó 100m
2
đất thổ cư 15m
2
đất trồng cây lâu
năm thuộc thửa đất số 137 (trên thực tế toàn bộ thửa đất s 137 mục đích s
dụng cây lâu năm). Sau khi nhận tiền cọc, bị o đã trốn tránh, mặc bị hại đã
tìm kiếm yêu cầu bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ nhiều lần. Đến khi bị hại gửi
7
đơn khởi kiện ra Tòa án Tòa án chuyển hồ sang quan Công an xác minh
theo thẩm quyền thì bị cáo mới trả lại tiền cho bị hại.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối cố tình che dấu các thông tin về tình trạng
thửa đất bị cáo đã hợp đồng nhượng cho ông T4, đưa ra các thông tin gian
dối về việc bị cáo còn đủ điều kiện chuyển nhượng đối với thửa đất số 137 như:
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang làm thủ tục tách thửa tại quan
thẩm quyền; thỏa thuận 07 ngày sau khi hợp đồng đặt cọc sẽ hoàn thành thủ
tục các nhận hợp đồng theo quy định của pháp luật, để ông Đ, Đ1 tin tưởng
đặt cọc s tiền 200.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của bị hại thì
tội phạm được hoàn thành. Đến khi các quan thẩm quyền giải quyết, bị
cáo mới hoàn trả lại số tiền cho bị hại thì chỉ được xem xét khắc phục hậu quả
bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Với hành vi nêu trên của b cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản" tội phạm hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174
của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo với tội danh điều luật đúng
người, đúng tội, đảm bảo được công tác đấu tranh, phòng ngừa các loại tội phạm
xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đặc biệt tội phạm liên quan đến đất đai
trong thời gian qua không ngừng gia tăng với các thủ đoạn phạm tội tinh vi,
phức tạp gây hệ lụy tiêu cực rất lớn đối với hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quyền hợp pháp của người dân, gây bức xúc trong nhân dân. Nếu không kịp thời
được xử sẽ tiền lệ xấu trong thời gian tới.
Bị cáo kháng cáo cho rằng chỉ giao dịch mang tính dân sự ông Đ
biết việc cầm cố đất của bị cáo, do cam kết hẹn 07 ngày ra Ủy ban xác nhận
thủ tục hợp đồng do thời điểm bán ông T4 đồng ý nhưng sau đó lại không
đồng ý. Tuy nhiên đây chỉ s ngụy biện của bị o nhằm che giấu hành vi
phạm tội bởi lời trình bày của bị cáo không được ông T4 bị hại thừa nhận, bị
cáo cũng không để chứng minh. Mặt khác, lời trình bày của bị cáo không
phù hợp với nội dung cam kết của bị cáo trong hợp đồng mua bán đất với bị hại.
Về mặt thực tế, sau 07 ngày không xác nhận thủ tục được cho bị hại bị cáo cho
rằng do ông T4 thay đổi không đồng ý nhưng cũng không khởi kiện ông T4,
cố tình trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ cho bị hại.
[3] Luật bào chữa cho bị cáo người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Diệu H cho rằng hợp đồng hiệu, bị hại cũng đã bãi nại. Tuy
nhiên, việc hợp đồng hiệu không loại trừ yếu tố cấu thành tội phạm đối
với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu
cầu của bị hại theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Từ các phân tích xét kháng cáo của bị cáo, quan điểm của người bào
chữa cho bị cáo không căn cứ đ được chấp nhận,
[5] Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Cần Thơ, không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên Bản
8
án hình sự thẩm số 55/2026/HS-ST ngày 07/7/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 14 - Cần Thơ về hình phạt đối với bị cáo.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp
luật do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng D đ nghị tuyên bố
bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”.
2. n cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản
1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng D 03 năm nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 05 năm tính t ngày tuyên án thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hồng D cho Ủy ban nhân dân T, thành phố Cần
Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì a án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. V án phí hình sự thẩm án phí hình s phúc thẩm: Căn cứ khoản
2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự thẩm 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.
5. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra I;
- VKSND TP. Cần Thơ;
- CQCSĐT Công an TP. Cần Thơ;
- TAND, VKSND, Phòng THADS
khu vực 14 Cần Thơ;
- Bị cáo; bị hại;
- Phòng HSNV Công an TP. Cần Thơ;
- CQTHAHS Công an TP. Cần Thơ;
- Lưu hồ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA
Thị Thọ
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất