Bản án số 114/2025/DS-ST ngày 25/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 114/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 114/2025/DS-ST ngày 25/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 114/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 - CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 114/2025/DS-ST
Ngày 25-9-2025
Về việc tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoành.
Ông Ngô Văn Tân.
- Thư phiên tòa: Lâm Huệ Chi Thư Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần
Thơ xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 166/2024/TLST-DS ngày 07 tháng
10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm
2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965 (chết ngày 07/12/2024).
Địa chỉ: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
1/ Bà Bùi Thị T, sinh ngày 01/01/1966 (có mặt).
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 01/01/1987 (có mặt).
3/ Ông Nguyễn Hồng T1, sinh ngày 22/01/1990 (vắng mặt).
4/ Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 15/5/1995 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền, nghĩa vụ t tụng của
nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp T, P, thành phố
Cần Thơ, đại diện ủy quyền theo văn bản ủy quyền, schứng thực 951 ngày
18/12/2024 (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người kế thừa quyền, nghĩa vụ
2
tố tụng của nguyên đơn: Ông Biện Công N1 Luật thuộc văn phòng L; Địa chỉ:
ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Bà Sơn Thị T2, sinh ngày 01/01/1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Thạch Hoài N2 (T), sinh ngày 11/10/1995 (vắng mặt).
2/ Bà Trương Thị N3, sinh ngày 01/01/1932 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn P trình bày cho rằng ngày 10/3/2014, ông Thạch T3 và Sơn Thị T2
chuyển nhượng cho ông phần đất ruộng 2,5 công tầm cấy (khoảng 3.250m
2
),
thửa đất số 192, tờ bản đồ số 76, tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh c Trăng
với giá 31,25 chỉ vàng 24K, đã giao đủ ng cho ông T3, T2 việc chuyển
nhượng lập văn bản. Từ khi chuyển nhượng, ông T3 T2 đã giao đất cho
ông quản lý, sử dụng đến nay. Hiện chưa làm thủ tục chuyển tên do phía T2
không hỗ trợ làm thủ tục, ông yêu cầu thì T2 chỉ hứa không thực hiện. Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 76, tọa lạc ấp X, thị
trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho T2 diện tích 1.048,3m
2
sai sót
trong quá trình cấp giấy, thực tế ông sử dụng phần đất thửa số 192 diện tích 2,5
công tầm cấy (khoảng 3.250m
2
).
Ông yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
diện tích 2,5 công tầm cấy (khoảng 3.250m
2
), thửa đất số 192, tờ bản đồ số 76, tọa
lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Tại biên bản lấy lời khai ngày
23/10/2024, ông P yêu cầu công nhận hợp đồng đối với phần đất thửa số 192, phần
diện tích còn lại thì yêu cầu Tòa án đo đạc và công nhận theo hiện trạng thực tế.
Theo Tờ tường trình ngày 20/12/2024 đơn khởi kiện bổ sung ngày
05/8/2025 của Bùi Thị T, bà Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Hồng T1,
Nguyễn Ngọc H1 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn tại
phiên tòa, bà Bùi Thị T, Nguyễn Thị Hồng H trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác
lập ngày 10/3/2014 giữa ông Nguyễn Văn P với ông Thạch T3, Sơn Thị T2 theo
diện tích đo đạc thực tế 896m
2
, thửa đất số 192 và 2.742m
2
, thửa đất số 158, tờ bản
đồ số 76, tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nay ấp X, P, thành
phố Cần Thơ.
- Quá trình giải quyết, bị đơn bà Sơn Thị T2 trình bày ý kiến tại biên bản lấy
lời khai ngày 17/01/2025: Bà và ông Thạch T3 có chuyển nhượng đất lúa cho ông P
3
2,5 công, loại công tầm cấy với số tiền 70.000.000 đồng/công, thỏa thuận chuyển
nhượng bằng tiền đã nhận đủ tiền chuyển nhượng. Đồng thời ông T3 cũng
đã giao đất cho ông P sdụng tkhi chuyển nhượng đất đến nay, phần đất chuyển
nhượng cho ông P chọn một mẫu bờ. ông T3 vợ chồng, ông T3 đã
chết ngày 11/12/2018 âm lịch một người con chung tên Thạch Hoài N2. Đối
với yêu cầu của ông P tchuyển nhượng đất sự thật đã giao đất,
không ý kiến. Trường hợp đo chênh lệch nhiều hơn thì phải trả lại cho bà,
đồng ý công nhận cho ông P đủ diện tích chuyển nhượng là 2,5 công.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị N3 ông Thạch
Hoài N2 vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Bùi Thị T, Nguyễn Thị
Hồng H, ông Nguyễn Hồng T1 Nguyễn Ngọc H1 ông Biện Công N1 trình
bày: Ông P nhận chuyển nhượng đất của ông T3, T2 với diện tích 2,5 công tầm
cấy. Đến ngày 12/3/2014 khi giao nhận đất đã đo đạc phát hiện đất nhiều hơn nên
ông P đã giao thêm 06 chỉ vàng để chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của 02 thửa
đất. Tại thời điểm chuyển nhượng giữa bên chuyển nhượng bên nhận chuyển
nhượng không biết đất thuộc 02 thửa, do phần đất giao nhận chung một miếng đã có
bờ đất. Đến khi nhu cầu làm thủ tục chuyển quyền đăng quyền sử dụng
đất, T2 giao giấy chứng nhận thửa đất số 192 nhưng diện tích nhỏ so với diện
tích đất thực tế sử dụng, ông P có yêu cầu bà T2 hợp tác đến cơ quan có thẩm quyền
làm thủ tục điều chỉnh thì bà T2 không đi nên ông P tiến hành khởi kiện. Theo kết
quả thẩm định thì phần đất bên chuyển nhượng giao cho ông P diện tích
3.638m
2
thuộc thửa đất số 192 số 158. Do việc chuyển nhượng đất được ông P
đứng ra giao dịch, người thừa kế không nên sau khi kết quả thẩm định, người
kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông P đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng xác lập ngày 10/3/2014 theo diện tích đo đạc thực
tế. Qua tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng đất thật nên đ
nghị hội đồng xét xử chấp nhận công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông
Nguyễn Văn P với ông Thạch T3, Sơn Thị T2 xác lập ngày 10/3/2014, ngày
12/3/2014 theo diện tích thực đo là 3.638m
2
, gồm: Thửa đất số 192, diện tích 896m
2
và thửa đất số 158, diện tích 2.742m
2
, cùng tờ bản đồ số 76, tọa lạc ấp X, thị trấn P,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng nay là ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ phát biểu ý kiến: Thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ
lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng
như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho
các đương sự. Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ, người có mặt tại phiên tòa đã
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn bà Sơn
Thị T2 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị N3, ông Thạch
4
Hoài N2 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét
xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên. Về nội dung qua xem xét các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
- Ông Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất xác lập ngày 10/3/2014 giữa ông với ông Thạch T3, Sơn Thị
T2. Ngày 07/12/2024 ông P chết, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng khởi
kiện bổ sung yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác
lập ngày 10/3/2014 giữa ông P với ông Thạch T3, bà Sơn Thị T2 theo diện tích thực
đo 3.638m
2
thuộc thửa đất số 192 và số 158, tờ bản đồ số 76. Bị đơn bà Sơn Thị T2
đồng ý chuyển nhượng phần đất lúa 2,5 công tầm cấy đã giao đất cho ông P
chọn một mẫu đất. Đồng thời việc chuyển nhượng đất lập văn bản, các bên đã
thực hiện được 2/3 hợp đồng bị đơn T2 đồng ý công nhận hợp đồng chuyển
nhượng, ngươi thừa kế của ông T3 Trương Thị N3 ông Thạch Hoài N2
không ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của ông P người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông P. Kết quả xem xét, thẩm định tại chổ phần đất ông P nhận
chuyển nhượng của T2, ông T3 diện tích thực đo 3.638m
2
, gồm 896m
2
, thửa
đất số 192 2.742m
2
, tờ bản đồ số 76 dôi so với diện tích chuyển nhượng
nhưng các bên chuyển nhượng giao nhận đất sử dụng ổn định. vậy, yêu cầu
khởi kiện nguyên đơn là căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử n cứ khoản 2
Điều 129 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn T2 phải chịu án phí chi phí xem xét thẩm định, định gtheo
quy định. Tuy nhiên cần ghi nhận sự tự nguyện của người kế thừa quyền nghĩa vụ
tố tụng của nguyên đơn đồng ý chịu 50% chi phí thẩm định, định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn và đối
tượng tranh chấp có địa chỉ tại ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nay là xã P,
thành phố Cần Thơ. Căn cứ Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng nay là Tòa án nhân dân
khu vực 7 Cần Thơ thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự đến phiên tòa lần thứ hai, đại diện
hợp pháp cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt và bị đơn bà Sơn Thị T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Trương Thị N3, ông Thạch Hoài N2 vắng mặt tại phiên tòa không do nên căn
cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định.
5
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thẩm định, đo đạc
phần đất tranh chấp tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Theo đồ
hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T lập ngày
18/3/2025, phần đất tranh chấp thuộc 02 thửa là thửa đất số 192, diện tích 896m
2
thửa số 158, diện tích 2.742m
2
, tờ bản đsố 76. Về giá trị quyền sử dụng đất được
nguyên đơn và bị đơn thống nhất xác định giá trị 70.000.000 đồng/công tầm cấy.
Trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất với
kết quthẩm định và thỏa thuận về giá trị quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét
xử căn cứ vào kết quả này làm cơ sở giải quyết vụ án theo quy định.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P người kế
thừa quyền, nghĩa vtố tụng của nguyên đơn; Hội đồng xét xử thấy: Tại lời khai
ngày 17/01/2025, Sơn Thị T2 thừa nhận ông Thạch T3 chuyển nhượng
phần đất lúa 2,5 công tầm cấy cho ông Nguyễn Văn P, việc chuyển nhượng đất
lập hợp đồng ngày 10/3/2014, đã nhận đủ tiền chuyển nhượng và giao đất cho ông P
nhận từ khi chuyển nhượng. Lời thừa nhận của T2 tình tiết, sự kiện thật
không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng
dân sự.
[3.1] Về hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng: Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn P với ông Thạch T3, Sơn Thị T2 được
lập là giấy tay, không công chứng hoặc chứng thực nên vi phạm về hình thức
theo quy định tại khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự 2005, điểm a khoản 3 Điều 167
Luật đất đai 2013 (Điều 502 Bộ luật dân sự 2015, Điều 27 Luật đất đai 2024). Về
nội dung hợp đồng không thể hiện số thửa đất vị trí tọa lạc. Tuy nhiên quá trình
giải quyết, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ xác định được ông P đã
nhận, quản lý, sử dụng phần đất của ông Thạch T3, bà Sơn Thị T2 thuộc thửa đất số
192 158, tờ bản đồ số 76, tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay
ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ) phù hợp lời khai của bị đơn Sơn Thị T2. Như
vậy sở xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày
10/3/2014 đã thực hiện xong nghĩa vụ trong giao dịch nên không thuộc trường hợp
vô hiệu do vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự.
[3.2] Đối với thửa đất số 192, đã được Sở tài nguyên môi trường tỉnh S
cấp giấy chứng nhận số CU 032440 cho Sơn Thị T2 ngày 09/4/2020, diện tích
1.048,3m
2
thửa đất số 158, tbản đồ số 76, diện tích 4.801m
2
thì theo Công văn
số 746/UBND-VP ngày 03/6/2025 của UBND huyện T xác định ông Thạch T3 là
người đứng tên quyền sử dụng đất, qua kiểm tra quyền sử dụng không đăng thế
chấp. Xét về thực tế sử dụng thì bên nhận chuyển nhượng sử dụng 896m
2
, thửa đất
số 192 còn lại 152,3m
2
không xác định do việc sử dụng đất tại thửa số 192 với
các thửa đất kế cận đã được các bên xác định ranh bằng bờ đất và trụ đá tại các góc
ruộng. Mặc về diện tích đất yêu cầu công nhận thì thửa đất số 192, diện tích
896m
2
chưa đảm bảo diện tích tối thiểu, nhưng đây thửa đất độc lập thửa đất
6
số 158, diện tích 2.742m
2
đảm bảo nguyên tắc, điều kiện tách thửa quy định tại
Điều 220 Luật đất đai 2024. Về ý kiến của Sơn Thị T2 cho rằng chuyển nhượng
2,5 công tầm cấy trường hợp đo chênh lệch nhiều hơn thì phải trả lại cho bà,
nhận thấy thực tế phần đất ông P nhận diện tích 3.638m
2
dôi so với diện
tích chuyển nhượng nhưng các bên chuyển nhượng đã giao nhận đất sử dụng ổn
định.
[3.3] Qua phân tích tại mục [3], [3.1] và [3.2], Hội đồng xét xử căn cứ quy
định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự, ng nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn P với ông Thạch T3, Sơn Thị T2 xác
lập ngày 10/3/2014.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu
án phí chi phí thẩm định theo quy định tại Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng
dân sự khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa T H
đồng ý chịu 50% chi phí thẩm định, Hội đồng xét xghi nhận buộc bị đơn phải
chịu 50% còn lại.
[5] Xét lời yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đề nghị của Vị Kiểm sát căn
cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều
157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ
luật tố tụng sự; Điều 220 Luật đất đai năm 2024; Điều 129, Điều 500, Điều 501
Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P và người
kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn P.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng ông Thạch T3, Sơn Thị T2 bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn
Văn P xác lập ngày 10/3/2014 đối với phần đất diện tích thực đo 3.638m
2
, gồm:
Thửa đất số 192, diện tích 896m
2
thửa đất số 158, diện tích 2.742m
2
, tờ bản đồ
số 76, loại đất LUC, tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nay ấp X,
P, thành phố Cần Thơ. Phần đất thửa số 192 đã được Sở tài nguyên môi
trường tỉnh S cấp giấy chứng nhận số CU 032440 của cho Sơn Thị T2 ngày
09/4/2020 thửa đất số 158 ông Thạch T3 người đứng tên quyền sử dụng đất
(theo Công văn số 746/UBND-VP ngày 03/6/2025 của UBND huyện T).
7
- Ông Nguyễn Văn P chết, giao người thừa kế của ông P Bùi Thị T,
Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Ngọc H1 được nhận quyền
sử dụng đất thửa đất số 192, diện tích 896m
2
thửa đất số 158, diện tích 2.742m
2
,
tờ bản đồ số 76, loại đất LUC, tọa lạc ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nêu
trên.
Phần đất thửa số 192 và 158 được công nhận vị trí số đo chiều dài các
cạnh thể hiện tại đồ đo đạc đất tranh chấp được Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai huyện T lập ngày 18/3/2025 (nay là Chi nhánh văn phòng Đ) kèm theo.
2. Về chi phí tố tụng và án phí:
- Bùi Thị T, bà Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Hồng T1, Nguyễn
Ngọc H1 phải chịu 50% chi phí xem xét, thẩm định tại chổ là 7.551.834 đồng và đã
thực hiện xong.
- Bị đơn Sơn Thị T2 phải chịu án phí 300.000 đồng chi phí xem xét,
thẩm định tại chổ 7.551.834 đồng. Số tiền 7.551.834 đồng T2 giao nộp
được hoàn trả cho người thừa kế của ông P Bùi Thị T, Nguyễn Thị Hồng
H, ông Nguyễn Hồng T1, bà Nguyễn Ngọc H1 nhận.
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn P (người thừa kế của ông P Bùi Thị T,
Nguyễn Thị Hồng H, ông Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Ngọc H1 nhận) tiền tạm
ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004052 ngày 03/10/2024 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
3. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp cho đương sự có quyền
kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người
vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc
được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 của Luật
Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Cần Thơ;
- VKSND khu vực 7 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Trần Thị Thanh Mai
Tải về
Bản án số 114/2025/DS-ST Bản án số 114/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 114/2025/DS-ST Bản án số 114/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất