Bản án số 57/2026/DS-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 57/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 57/2026/DS-PT ngày 03/09/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 57/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 57/2026/DS-PT Bản án số 57/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 57/2026/DS-PT Bản án số 57/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 57/2026/DS-PT
Ngày
03-9-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu di dời tài sản trên đất và yêu cầu
chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với việc thực hiện quyền sở hữu,
quyền khác đối với tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy
Các Thẩm phán thành viên: Ông Chu Long Kiếm
Ông Phạm Văn Tuệ
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Như Luật, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông
Đặng Quang Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 25/2026/TLPT- DS ngày 16-7-2026, v
vic: Tranh chp quyn sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản trên đất, yêu cầu chấm dứt
hành vi cn trtrái pháp lut đối với vic thc hiện quyn sở hữu quyn khác đối với
tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn, bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm số 43/2026/QĐ-PT ngày 10-8-2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hoàng Thị L, sinh năm 1962; căn cước công dân số
(CCCD) số 0201620*****; địa chỉ: Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Thị L:
1. Ông Đoàn Văn C, Luật của Công ty luật T. Địa chỉ: Số **, phường Y,
thành phố Hà Nội; vắng mặt.
2. Bà Lương Thị H, Luật sư n phòng luật sư K. Địa chỉ: Số **, phường K,
tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn yêu cầu phản tố: Ông Hoàng Công Đ, sinh năm 1958; CCCD số
0200580*****; địa chỉ: Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2
2
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Hoàng Thị T, sinh năm 1961; CCCD số 0201610*****; địa chỉ: Thôn
L, xã B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2. ChHng ThT1, sinh năm 1992; CCCD s 0201920*****; địa chỉ: Thôn L,
xã B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
3. ChHoàng Thị D, sinh m 1993; CCCD s 0201930*****; địa chỉ: Thôn T,
xã B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1994; CCCD số 0200940*****; địa chỉ:
Thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
5. y ban nhân dân (UBND) B, tnh Lng Sơn. Người đại din theo y
quyn: Ông Hoàng Thanh B, Phó Ch tch UBND xã B (theo văn bản s
864/UBND-VP ngày 19-12-2025 ca UBND xã B v vic y quyn tham gia gii
quyết v án dân s); vng mặt.
6. y ban nhân dân tnh Lng Sơn. Người đại din theo y quyn: Ông
Dương Thần L, Viên chc Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vc B, tnh
Lng Sơn (theo giy y quyn ngày 28-7-2026 ca Ch tch UBND tnh Lng
Sơn); vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Hoàng Thị B, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn T, B, tỉnh Lạng n;
vắng mặt.
2. Ông Hoàng Kim Đ, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn
vắng mặt.
3. Hoàng Thị H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn L, xã B, tỉnh Lạng n
vắng mặt.
4. Anh Dương Công T; địa chỉ Thôn A, xã B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hoàng Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Bà Hoàng Thị L ông Hoàng Công Đ tranh chấp với nhau 224,8m
2
đất
thuộc một phần thửa đất s205, tờ bản đồ số 109, Bản đồ địa chính L (cũ); địa
chỉ: Khu H, thôn L, L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (nay là Thôn L, B, tỉnh Lạng
Sơn).
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04-12-2025 thể hiện trên đất
tranh chấp nói trên có: 01 ngôi nhà diện tích 17,1m
2
01 nhà bếp diện tích
22,2m
2
; 01 sân tông xi măng; 01 bức tường xây bằng gạch ng thủ công
chiều cao 1,5m, chiều dài 15,29m; 01 giếng đào sâu 21m đường kính nhỏ hơn
1,5m; 01 téc nước dung tích 1m
3
kệ sắt téc nước; 01 cổng thoáng bằng
thép. Cây trồng trên đất gồm: 05 cây đào có đường kính từ 5cm đến dưới 10cm; 01
3
3
cây hồng đường kính gốc từ 15cm đến 20cm; 01 cây mác mật đường kính
dưới 02cm; 01 khóm cây ngũ gia bì; 01 cây chanh đường kính dưới 02cm; 01
cây bưởi có đường kính dưới 02cm.
Theo nguyên đơn, bà Hoàng Thị L trình bày:
Cụ Hoàng Kim N (sinh năm 1932, chết năm 2017) cụ Hoàng Thị C (sinh
năm 1929, chết năm 2023) sinh được 05 người con gồm: Bà Hoàng Thị B, ông
Hoàng Kim Đ, Hoàng Thị H, ông Hoàng Kim H (chết 2005) Hoàng Thị
L.
Năm 1990 bà Hoàng Thị L nhận chuyển nhượng từ vợ chồng cụ Hoàng Kim
N 600m
2
đất thổ nhưng đến ngày 11-3-1994 hai bên mới lập Văn tự chuyển
nhượng. Theo nội dung Văn tự chuyển nhượng nói trên, vchồng cụ Hoàng Kim
N chuyển nhượng cho Hoàng Thị L 350m
2
đất, phía Tây giáp đường cái,
phía Đông giáp ông Hoàng Công N, phía Bắc giáp ông Hoàng Công Đ, phía Nam
giáp ông Dương Công H.
Năm 1996-1997 vợ chồng nguyên đơn ly thân nên nguyên đơn thay đổi nơi
ở, cách đất đang tranh chấp khoảng 02km. m 1998 nguyên đơn về thăm nhà thì
thấy ông Hoàng Công Đ phá hàng cây hoa hòe, cây chuối do gia đình nguyên đơn
trồng xây tường rào bao quanh. Nguyên đơn nói với bđơn việc bị đơn xây
dựng trên đất của nguyên đơn nhưng bị đơn nói bị đơn đã mua diện tích đất này
với ông Dương Công C. Sau đó, bị đơn tiếp tục xây dựng công trình trồng cây
trên đất. Mặc nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu ông Hoàng Công Đ trả lại đất
nhưng ông Hoàng Công Đ không đồng ý.
Năm 2018, nguyên đơn thực hiện khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (GCNQSDĐ) đối với diện tích đất nêu trên thì được biết ông Hoàng Công
Đ đã được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất đang tranh chấp. vậy, nguyên
đơn khởi kiện yêu cầu: Đưc quyền qun , s dụng 224,8m
2
đất thuộc mt phần thửa
đất s40 tbn đsố 109, yêu cầu bị đơn phi di dời toàn b i sản ra khỏi din tích đt
tranh chp và yêu cu hủy GCNQSDĐ đã cấp đối với diện tích hiện đang tranh chấp
mang tên bị đơn do cấp không đúng đối tượng sử dụng đất.
Bị đơn, ông Hoàng Công Đ trình bày:
Diện tích đất tranh chấp nói trên nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển
nhượng với ông Dương Công C, cụ thể: Ngày 01-10-1991 ông Dương Công C
bị đơn lập Giấy chuyển nhượng đất nội dung: Ông Dương Công C chuyển
nhượng cho ông Hoàng Công Đ một mảnh đất diện tích 720m
2
phía Đông
giáp Hoàng Công L, phía Tây giáp đường cái, phía Nam giáp Hoàng Kim N, phía
Bắc giáp chủ (Dương Công C); văn bản này xác nhận của UBND L, huyện
B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 23-9-1993.
Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông đã quản sử dụng xây dựng
công trình, vật kiến trúc trên đất, trồng cây trên đất. Năm 1992 ông làm nhà gỗ cấp
4, bếp, đào giếng... và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất. Toàn bộ tài sản trên đất đã
4
4
được tả trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04-12-2025 đều do gia
đình bị đơn tạo dựng và quản lý, sử dụng.
Năm 2018 gia đình bđơn thực hiện khai cấp GCNQSDĐ đối với thửa
đất 205 diện tích 648,4m
2
(tách từ thửa 40). Ngày 05-9-2018 UBND huyện B,
tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ đối với 648,4m
2
bao gồm 228,0m
2
đất ONT
420,4m
2
đất BHK, đều thuộc thửa đất số 205, tờ bản đồ 109 mang tên hộ ông
Hoàng Công ĐHoàng Thị T.
Quá trình gia đình bị đơn quản sdụng, kể từ khi vợ chồng cụ Hoàng
Kim N còn sống, hai bên không tranh chấp. Cho đến năm 2024, mới phát sinh
tranh chấp với bà Hoàng Thị L. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn yêu cầu phản tố, cụ thể: Bị đơn yêu cầu được quản sử
dụng diện tích đất tranh chấp là 224,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 205, tờ bản đồ
109 tại Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn và toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp; yêu cầu
Hoàng Thị L chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện
quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.
Bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị Hợp, ông Hoàng Kim Đ (là anh, chị ruột của
nguyên đơn) xác định không quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến diện tích đất
tranh chấp; từ chối tham gia tố tụng; nhất trí với ý yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Hoàng Thị L.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phía bị đơn là bà Hoàng Thị T, chị
Hoàng Thị T1, Hoàng Thị D và anh Nguyễn Đình V (là vợ và các con của bị đơn):
Nhất trí với ý kiến, yêu cầu của bị đơn ông Hoàng Công Đ.
T án cấp thm đã ra Quyết đnh trưng cầu giám đnh về vic cấp GCNQS
đi vi thửa đt 205 nói trên và chồng gp diện tích đt tranh chp vi Bản đ qua các
thi k; kết qu:
Diện tích 224,8m
2
đất tranh chấp theo kết quả đo đạc tại trích đo số TDD78-
2015 do Công ty cổ phần Trắc địa bản đồ môi trường Sông - Chi nhánh
Lạng Sơn thực hiện ngày 04-12-2025, ranh giới vị trí thuộc một phần thửa đất
số 205, tờ bản đồ địa chính số 109 L (cũ) năm 2007 được UBND huyện B cấp
GCNQSDĐ số CG 711420, cấp ngày 05-9-2018 cho hộ ông Hoàng Công Đ và
Hoàng Thị T.
Theo tờ bản đồ giải thửa số 14 xã L đo đạc xong ngày 27-11-1984: Diện tích
đất tranh chấp ranh giới, vị tthuộc thửa đất số 167, số 166 một phần thuộc
khu vực đất giáp đường Quốc lộ 1B trên tờ bn đồ không thể hiện số thửa, diện
tích. Theo tờ bản đồ giải thửa số 14 xã L năm 1984 gộp chung tờ số 14 + 42 + 43 +
44: Diện tích đất tranh chấp ranh giới, vị trí thuộc thửa đất số 151 một phần
thuộc khu vực đất giáp đường Quốc lộ 1B trên tờ bản đồ không thể hiện số thửa,
diện tích. Theo Bản đồ giải thửa số 02 L năm 1997, diện tích đất tranh chấp
ranh giới, vị trí thuộc thửa đất số 26.
Về thành phần hồ sơ, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
205 nói trên đầy đủ, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
5
5
Người đại diện hợp pháp của UBND B trình bày: Ngày 11-6-2018, hộ
ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T đơn đăng kê khai cấp GCNQSDĐ
đối với thửa đất số 205 (tách từ thửa 40) tờ bản đồ số 109. Theo tài liệu có trong hồ
thể hiện nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng (có giấy chuyển nhượng viết
tay ngày 01-10-1991 kèm theo); thời điểm sử dụng đất trước ngày 15-10-1993; đất
không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy, căn cứ điểm d,
khoản 1 Điều 100 khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013, ngày cấp 05-9-
2018 UBND huyện B đã cấp GCNQSDĐ đối với thửa 205 cho hộ ông Hoàng
Công Đ Hoàng Thị T. Việc cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất s205 cho hộ
ông được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền đối tượng sử
dụng đất theo quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của UBND tỉnh Lạng Sơn trình bày: Hộ ông
Hoàng Công Đ Hoàng Thị T được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ đối với
648,4m
2
đất thuộc thửa đất số 205, tờ bản đ109, bản đồ địa chính L, huyện B
(nay B, tỉnh Lạng Sơn). Trong tổng số diện tích đất đã được cấp
GCNQSDĐ nói trên, 146,7m
2
thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường
Quốc lộ 1B.
Theo khoản 2, khoản 3 Điều 16 Luật Đường bộ năm 2024; khoản 3 Điều
210 Luật Đất đai năm 2024; điểm a khoản 1 Điều 97 Nghị định số 102/2024/NĐ-
CP ngày 30-7-2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Đất đai: Người s dụng đất được quyn qun lý, s dng đất thuc hành lang an
toàn giao thông, được cấp GCNQSDĐ theo quy đnh ca pháp lut phi tuân
th các quy định theo Luật Đường b năm 2024. Trường hp tài sn gn lin vi
đất do người s dụng đất to lp hợp pháp chưa quyết định thu hi, bi
thưng của quan thm quyn thì tiếp tục được s dng phải đáp ng các
điu kin an toàn theo Luật Đường b năm 2024. Đến nay, chưa quyết định thu
hồi đất của quan nnước đối với diện tích đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn
công trình đường Quốc lộ 1B thì hộ ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T vẫn là
chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất đó.
Người làm chng Hoàng Th P, Hoàng Th T2, ông Hoàng Công V
trình bày: biết ngun gốc đất tranh chp ca ông Hoàng Công Đ mua vi
ông Dương Công C t năm 1991, giấy mua bán đất với nhau, sau khi mua đất,
năm 1992 ông Hoàng ng Đ làm nhà sinh sống trên đất, lúc đó Hoàng Th
L b m Hoàng Th L là ông Hoàng Kim N Hoàng Th C không ai
tranh chp gì. Tháng 5-2025 thì bà Hoàng Th L đến nh ông bà xác nhn din tích
đất đang tranh chp ca b m Hoàng Th L cho Hoàng Th L, do không
hiu biết, không xem ni dung ghi trong giy Hoàng Th L đưa cho ch
ký vào.
Người làm chng bà Hoàng Th R cho biết đất tranh chp gia bà Hoàng Th
L ông Hoàng Công Đ tớc đây ca b m Hoàng Th L chia cho
Hoàng Th L và bà Hoàng Th L trng cây hoa hòe, bi chuối… Khoảng năm 1998
thy ông Hoàng Công Đ xây nhà trên đt tranh chấp, bà nghĩ ông Hoàng
Công Đ đã mua thửa đất đó với bà Hoàng Th L.
6
6
Người làm chng ông Dương Công T cho biết ngun gốc din ch đt tranh
chấp 224,8m
2
thuộc mt phn thửa 205, tờ bn đ109 là của b ông Dương Công C (bố
ông đã chết năm 1997). Năm 1991, b ca ông đã bán (chuyn nhưng) thửa đt i trên
cho ông Hng Công Đ, hai bên có viết giy chuyển nng đ ngày 01-10-1991, đến
ngày 23-9-1993 có đi xác nhn ca UBND xã L, ông Hng Văn Q (đã chết) là Ch
tịch UBND xã L thi điểm đó đã c nhận. Theo giấy chuyn nhưng thì din tích
chuyn nhưng là 720m
2
, có t cận Đông cận Hoàng Công L, Tây cn đưng Quốc lộ,
Nam cn Hoàng Kim N, Bc cn ch; không ghi stha nng có đi ranh gii đất cho
ông Hoàng Công Đ, lúc đó có mt ông, ông Hoàng Kim N Hoàng Thị L,c bên
đu đã xác đnh ranh giới rõ ràng, không ai có thắc mc . Sau khi mua đt m 1992
gia đình ông Hoàng Công Đ đã làm nhà đó cho đến nay. Hin nay ông Hng Công
Đ vn quản lý, s dng đúng thửa đt có t cận n đã mua bán với bố của ông, chỉ pa
gp đưng Quốc ldo Nhà nưc m rng đưng 1B nên đã lấy vào mt phn din tích.
Vì vậy, Hoàng Th L cho rằng diện tích đất tranh chp của bà Hng Th L mua vi
ông Hoàng Kim N là không có căn cứ.
Tại Bản án dân sự thẩm s 07/2026/DS-ST ngày 27-5-2026 và Quyết
định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số 02/2026/QĐ-SCBSBA ngày 03-7-2026;
Quyết định số 21/2026/QĐ-SCBSBA ngày 30-7-2026, của Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Lạng Sơn; đã quyết định:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị
L.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Công Đ:
Hộ ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T tiếp tục được quản lý, sử dụng
224,8m
2
đất thuộc một phần thửa 205, tờ bản đồ địa chính số 109 L (cũ); địa
chỉ: Tại H, Thôn L, xã B, tỉnh Lạng Sơn; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất đã được Ủy ban nhân dân
huyện B, tỉnh Lạng Sơn cấp cho hộ ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T số
bìa CG 711420, số vào sổ cấp GCN: CH 04078, ngày cấp 05-9-2018.
Hộ ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T được quyền quản lý, sử dụng, s
hữu toàn bộ tài sản trong phạm vi diện tích nêu trên.
3. Buộc nguyên đơn bà Hoàng Thị L chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản của bị đơn yêu
cầu phản tố ông Hoàng Công Đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩmn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí, quyền
kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định nguyên đơn Hoàng Thị L kháng cáo đề nghị cấp
phúc thẩm sửa Bản án dân sự thẩm s07/2026/DS-ST ngày 27-5-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phn tòa phúc thẩm:
7
7
Nguyên đơn, Hng Thị L giữ nguyên kng cáo đề ngh sửa Bn án thẩm
theo hưng chp nhn yêu cu khởi kin ca nguyên đơn. Ngoài ra, bà Hng ThL tnh
bày: Liền kdiện tích đất đang tranh chấp, nguyên đơn còn quản lý, sử dụng thửa
107 diện tích 117,5m
2
; thửa 108 diện tích 115,9m
2
; thửa 109 diện tích 124,4m
2
.
Thửa 107 nguyên đơn đã được cấp GCNQSDĐ vào năm 2010, năm 2015 nguyên
đơn chuyển nhượng thửa đất 107 cho ông Hoàng Quang D, sau đó ông Hoàng
Quang D chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn N; thửa 108 109 bị đơn chưa
được cấp GCNQSDĐ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo Kết luận giám định chồng ghép diện tích đất tranh chấp với bản đồ qua
các thời kỳ thể hiện: Diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 167, số
166 một phần thuộc khu vực đất giáp đường Quốc lộ 1B, tờ bản đồ giải thửa số
14 lập năm 1984; thuộc thửa 151 và một phần thuộc khu vực đất giáp đường Quốc
lộ 1B, tờ bản đồ giải thửa số lập năm 1984 gộp chung tờ số 14+42+43+44; thuộc
thửa đất số 26, tờ bản đồ giải thửa 02 xã L lập năm 1997. Thực tế, toàn bộ diện tích
đất ông Hoàng Kim N chia cho con trai chuyển nhượng cho Hoàng Thị L
phần diện tích đang tranh chấp đều nằm gọn trong thửa 167. Như vậy, sở
khẳng định thời điểm lập bản đồ giải thửa năm 1984 ông Hoàng Kim N người
đang quản lý sử dụng thửa đất số 167 tờ bản đồ giải thửa số 14 lập năm 1984.
Sau năm 1975, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 299-TTg ngày 10-11-1980 để
thống nhất quản đất đai trên cả nước. Chỉ thị 299 ấn định thời gian hoàn thành
công việc nói trên ở phía Bắc vào cuối năm 1984. Như vậy tờ bản đồ số 14 xã L đo
đạc xong ngày 27-11-1984 là bản đồ được lập theo chỉ thị 299. Căn cứ vào kết quả
đo đạc bản đồ 299, các địa phương lập hồ ruộng đất lập sổ địa chính.
nhân tên trong Sổ đăng ruộng đất hoặc các giấy tờ liên quan đến bản đồ 299
được xem xét cấp GCNQSDĐ lần đầu không phải nộp tiền sử dụng đất nếu sử
dụng ổn định; khi xảy ra tranh chấp, bản đồ 299 hồ kèm theo chứng cứ
quan trọng để Tòa án xem xét, xác định nguồn gốc quá trình sử dụng đất của
các bên để giải quyết tranh chấp.
Như vậy căn cứ xác định thời điểm lập bản đồ giải thửa 299 (năm 1984)
ông Hoàng Kim N đã khai đăng người sử dụng đất đối với thửa 167,
năm 1990 và năm 1994 ông Hoàng Kim N đã thực hiện quyền của người sdụng
đất đối với thửa 167 là ông chia đất cho các con, chuyển nhượng đất cho bà Hoàng
Thị L. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo của
Hoàng Thị L.
Bị đơn trình bày: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do ông nhận chuyển
nhượng với ông Dương Công C vào năm 1991 quản sử dụng từ đó cho đến
nay. Giấy chuyển nhượng xác nhận của UBND L; nội dung Giấy chuyển
nhượng thể hiện mảnh đất ông nhận chuyển nhượng Phía Đông giáp Hoàng
Công L, Phía Nam giáp Hoàng Kim N (tức thửa 107 hiện nay), Phía Bắc giáp
Dương Công C (cận chủ năm 1991), Phía y giáp đường quốc lộ. Tại thời điểm
chuyển nhượng, theo chỉ dẫn của bên chuyển nhượng, ranh giới tiếp giáp với ông
Hoàng Kim N bruộng. Năm 1994 gia đình bị đơn đã xây dựng tường bao
8
8
quanh toàn bộ khu đất và được cấp GCNQSDĐ vào năm 2018. Vì vậy, đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ
thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 27-5-2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Lạng
Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến vviệc
chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại
cấp phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố
tụng đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết kháng cáo:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều xuất trình giấy chứng
minh việc nhận chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp. Tuy nhiên, các giấy tờ
mua bán đất do hai bên xuất trình, đều thừa nhận ông Hoàng Công Đ đất giáp
ranh với ông Hoàng Kim N (bố của Hoàng Thị L). Mặt khác, Giấy chuyển
nhượng quyền sdụng đất giữa ông Dương Công C bị đơn vào ngày 01-10-
1991, xác nhận của UBND L (cũ) vào ngày 23-9-1993. Theo Kết luận giám
định bản đồ ý kiến của Sở Nông nghiệp Môi trưởng tỉnh Lạng Sơn thể hiện:
Diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 166, 167 tờ Bản đồ giải thửa số 14 lập năm
1984; thuộc thửa 151 tờ Bản đồ giải thửa số 14 (gộp chung); thuộc thửa số 26 tờ
Bản đồ giải thửa số 02 lập năm 1997. quan quản đất đai văn bản trả lời
không tìm thấy thông tin thửa đất thuộc tờ bản đồ giải thửa số 14 trên sổ mục kê,
sổ địa chính; tại sổ mục kê tbản đồ giải thửa số 02 không ghi thông tin chủ s
dụng đối với thửa đất số 26 và không có thông tin thửa đất này trong sổ địa chính.
Về quá trình sử dụng đất tài sản trên đất: căn cứ xác định bị đơn đã
quản lý, sử dụng diện tích đất từ trước ngày 15-10-1993; toàn bộ tài sản hiện
trên đất tranh chấp là do gia đình bị đơn tạo dựng, quản sử dụng. Ngoài lời
trình bày của mình, nguyên đơn không chứng minh được việc nguyên đơn phản
đối, không cho bị đơn xây dựng công trình vật kiến trúc trên đất tranh chấp.
vậy, có căn cứ xác định bị đơn có quá trình quản lý sử dụng đất ổn định và việc cấp
GCNQSDĐ cho hộ gia ông Hoàng Công Đ bà Hoàng Thị T đối với thửa đất
205 tờ bản đồ số 109 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, đ nghị Hội đồng xét xử căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s, không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn; giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 27-5-2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn. Về án phí dân s phúc thm: Mc dù kng
cáo của nguyên đơn kng đưc chp nhn nhưng ngưi có kháng o là ngưi cao
tui, thuc trường hp được min án phí. Vì vậy, đ ngh Hội đồngt x min án phí
dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
9
9
[1] Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án triệu tập ông bà Hoàng Thị
B, Hoàng Kim Đ Hoàng Thị H tham gia phiên toà phúc thẩm với cách
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tại bản tự khai Hoàng Thị B,
ông Hoàng Kim Đ Hoàng Thị Hđều trình bày: Ông/xác định diện tích đất
tranh chấp không phải của ông/bà, ông/bà không quyền lợi nghĩa vụ liên quan
đến diện tích đất tranh chấp, vì vậy đề nghị vắng mặt và từ chối tham gia tất cả các
buổi làm việc của Toà án. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn Hoàng Thị L cũng
thừa nhận nội dung này. vậy, Hội đồng xét xxác định Hoàng ThB, ông
Hoàng Kim Đ Hoàng Thị H không phải người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến vụ án.
[2] Phiên tđược triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, vắng mặt một số người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đơn xin xét xử vắng mặt, một số người
tham gia tố tụng khác vắng mặt nhưng đã lời khai, lời trình bày tại Toà án cấp
thẩm. Mặt khác, các đương sự mặt tại phiên toà không ai đề nghị hoãn phiên
toà. vậy, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt một số đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bà Hoàng Thị L, thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
[3.1.1] Nguyên đơn bị đơn đều trình bày nguồn gốc đất tranh chấp do
nguyên đơn, bđơn nhận chuyển nhượng đều Giấy chuyển nhượng nộp tại
Toà án cấp thẩm. Xét Giấy chuyện nhượng giữa ông Dương Công C với bị đơn
Hoàng Công Đ được lập ngày 01-10-1991 xác nhận của UBND L vào
ngày 23-9-1993, trước thời điểm ông Hoàng Kim N Hoàng Thị C với
Hoàng Thị L lập Giấy chuyển nhượng (11-3-1994). Ngoài ra, lời khai của bị đơn
về việc nhận chuyển nhượng đất phù hợp với lời khai của con trai ông Hoàng Công
Đ là anh Dương Công T tại BL 317 có trong hồ sơ vụ án.
[3.1.2] Mặt khác, Giấy chuyển nhượng lập ngày 11-3-1994 giữa ông Hoàng
Kim N và bà Hoàng Thị C với bà Hoàng Thị L thể hiện diện tích chuyển nhượng là
350m
2
, có cạnh phía Bắc giáp Hoàng Công Đ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05-8-
2026 tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn thừa nhận: Liền kề đường ranh giới
hiệu A1-A2 trên trích đo (cạnh phía Bắc) của đất tranh chấp, trước đây của
ông Dương Công C nay là anh Dương Thế A quản sdụng (thửa 39). Liền kề
đường ranh giới A3-A4 thể hiện trên trích đo (cạnh phía Nam) của đất tranh chấp
thửa đất 107 hiện nay ông Nguyễn Văn N đang quản sdụng. Nguồn gốc
thửa 107, 108, 109 là do nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ ông Hoàng Kim N và
Hoàng Thị C theo nội dung Giấy chuyển nhượng lập ngày 11-3-1994 nói trên.
Trong đó, thửa 107 diện tích 117,5m
2
; thửa 108 diện tích 115,9m
2
; thửa 109
diện tích 124,4m
2
. Năm 2010 nguyên đơn khai đã được cấp GCNQSDĐ
đối với thửa 107, đến năm 2015 nguyên đơn chuyển nhượng thửa đất 107 cho ông
Hoàng Quang D, sau đó ông Hoàng Quang D chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn
Văn N; còn thửa 108 hiện nay nguyên đơn đã xây dựng nhà tại đó; nguyên
đơn cũng khẳng định bị đơn chưa từng quản lý, sử dụng thửa đất số 39.
10
10
[3.1.3] Như vậy, sở c định: Khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng
đất từ ông Hoàng Kim N Hoàng Thị C thì cạnh phía Bắc của diện tích đất
nhận chuyển nhượng tiếp giáp với diện tích đất bị đơn Hoàng Công Đ đang
quản sử dụng. Mặt khác, diện tích nguyên đơn nhận chuyn nhượng ghi trong
Giấy chuyển nhượng lập ngày 11-3-1995 là 350m
2
tương ứng với diện tích của các
thửa đất 107, 108 và 109 mà nguyên đơn thực tế đã và đang quản lý sử dụng.
[3.2] Về quá trình quản lý, sử dụng đất: Nguyên đơn thừa nhận trên đất tranh
chấp không có tài sản của nguyên đơn, toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp hiện nay
là của gia đình bị đơn. Nguyên đơn biết bị đơn tạo dựng công trình trên đất từ năm
1998 yêu cầu bị đơn trả lại đất nhưng bị đơn không đồng ý, nhưng ngoài lời
trình bày của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại đất, nguyên đơn không
cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nội dung này. Thời điểm gia đình bị
đơn kê khai xin cấp GCNQSDĐ không phát sinh tranh chấp. vậy, căn cứ xác
định gia đình bị đơn đã quản lý sử dụng ổn định diện tích đất tranh chấp từ trước
ngày 15-10-1993 ngày Luật đất đai năm 1993 hiệu lực cho đến năm 2025 mới
phát sinh tranh chấp. Do đó, UBND huyện B, tỉnh Lạng Sơn (nay UBND B,
tỉnh Lạng Sơn) đã cấp GCNQSDĐ s phát hành CG 711420, số vào sổ CH
04078 đối với thửa đất số 205 tờ bản đồ số 109 Bản đồ địa chính L (cũ) cho hộ
ông Hoàng Công Đ Hoàng Thị T căn cứ, phợp với quy định của
pháp luật. Nội dung này đã được người đại diện hợp pháp của UBND B, người
đại diện hợp pháp của UBND tỉnh Lạng Sơn khẳng định tại các Văn bản số
861/UBND-KT ngày 19-12-2025; Văn bản số 686/UBND-BTCD ngày 28-3-2026
phù hợp với Kết luật giám định tư pháp ngày 30-3-2026.
[4] Theo Kết luận giám định bản đồ ý kiến của Sở Nông nghiệp và Môi
trưởng tỉnh Lạng Sơn thể hiện: Diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 166, 167 tờ Bản
đồ giải thửa số 14 lập năm 1984; thuộc thửa 151 tờ Bản đồ giải thửa số 14 (gộp
chung); thuộc thửa số 26 tờ Bản đồ giải thửa số 02 lập năm 1997. Cơ quan quản lý
đất đai văn bản trả lời không tìm thấy thông tin thửa đất thuộc tbản đồ giải
thửa số 14 trên sổ mục kê, sổ địa chính; tại sổ mục tờ bản đồ giải thửa số 02
không ghi thông tin chủ sử dụng đối với thửa đất số 26 và không thông tin thửa
đất này trong sổ địa chính. Vì vậy, không có cơ sở để xác định nguồn gốc diện tích
đất tranh chấp là của ông Hoàng Kim N (bố nguyên đơn).
[5] T nhng phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét x thy vic Toà án
cấp thẩm không chp nhn toàn b yêu cu khi kin của nguyên đơn buc
nguyên đơn phải chu toàn b chi phí t tụng căn c, phù hp với quy định
ca pháp lut và các tài liu chng c có trong h sơ vụ án.
[6] Sau khi xét x thẩm, nguyên đơn Hoàng Th L không cung cp
đưc tài liu chng c chng minh cho yêu cu kháng cáo của mình là căn cứ.
vy, Hội đồng xét x không sở để chp nhn kháng cáo của nguyên đơn
bà Hoàng Th L.
[7] Xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát về việc đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của Hoàng Thị L, căn cứ, phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử. Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp
11
11
pháp cho nguyên đơn là không căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[8] V án phí dân s phúc thm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được
chp nhận nên nguyên đơn phi chu án phí dân s phúc thm. Tuy nhiên, nguyên
đơn là người cao tui thuộc trường hợp được min án phí phúc thm. vy, Hi
đồng xét x min toàn b tin án phí phúc thm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điu 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Thị L; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 27-5-2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 3 Lạng Sơn Quyết định sửa chữa, b sung Bản án thẩm số
02/2026/QĐ-SCBSBA ngày 03-7-2026; Quyết định số 21/2026/QĐ-SCBSBA
ngày 30-7-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
2. Ván phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Hoàng Thị L không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 3 - Lạng Sơn;
- TAND khu vực 3 - Lạng Sơn;
- P.THADS khu vực 3 - Lạng Sơn;
- Đương sự;
- Người TGTT khác;
- Phòng GĐKT;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP, Toà DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN T
(đã ký)
Nguyễn Thị Minh Thùy
12
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 57/2026/DS-PT Bản án số 57/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 57/2026/DS-PT Bản án số 57/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất