Bản án số 783/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 783/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 783/2026/DS-PT ngày 28/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 783/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Lâm Minh C với bị đơn ông Ngô Văn T, ông Ngô Hoài P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 783/2026/DS-PT Bản án số 783/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 783/2026/DS-PT Bản án số 783/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
Bản án số: 783/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 8 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Nguyn Th Kim Chi
Các Thm phán: Bà Đặng Th Ánh Bình
Ông Lâm Triu Hu
- Thư phiên tòa: Đào Nguyn Yến Phương - Thm tra viên Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Trn Th Thuý K - Kim sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2026 ti tr s Tòa án nhân dân tnh Vĩnh Long, xét
x phúc thm công khai v án dân s th lý s 405/2026/TLPT-DS ngày
22/6/2026 v “Tranh chấp quyn s dụng đất”.
Do Bn án dân s sơ thm s 64/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 ca Toà
án nhân dân huyn TC, tnh Trà Vinh (nay Toà án nhân dân khu vc 13-Vĩnh
Long) b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x phúc thm s 685/2026/QĐXXPT-
DS ngày 14/7/2026 giữa các đương s:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Minh C, sinh năm 1975. Địa ch: p SV A,
NB, huyn TC, tnh Trà Vinh (nay là xã LH, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại din theo y quyn cho ông Lâm Minh C: Ông Nguyn Quang
T, sinh năm 1992. Địa ch: p ST, PC, huyn TC1, tnh Trà Vinh (nay
TC1, tỉnh Vĩnh Long), có mặt.
Người bo v quyn li ích hp pháp ca nguyên đơn: ông Nht H
là Lut sư Công ty lut TL thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long, có mt.
- B đơn:
1/ Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1940 chết ngày 12/8/2026
Nhng người kế tha quyền nghĩa vụ t tng ca ông T1 gm: Ngô
Văn T2, Ngô Văn V, Ngô Th K, Ngô Th P, Ngô Văn C1, Ngô Hoài P1, Ngô
Th U cũng đồng thi là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong v án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại din theo y quyền cho Ngô Văn T2, Ngô Văn V, Ngô Th Kiêu,
Ngô Th P, Ngô Hoài P1, Ngô Th U: anh Thch Trn TN, sinh năm 1990. Địa
ch: s 732, khóm 10, phường 7, TV, tnh Trà Vinh (nay phường NH, tnh
Vĩnh Long), theo giấy y quyn ngày 17/8/2026, có mt.
Người bo v quyn li ích hợp pháp cho Ngô Văn T2, Ngô Văn V,
Ngô Th K, Ngô Th P, Ngô Hoài P1, Ngô Th U: ông Nguyn Thái H1 Lut
sư Công ty lut TNHH LTV thuộc Đoàn Luật sư Thành ph H Chí Minh,
mt.
2/ Anh Ngô Hoài P1, sinh năm 1983
Cùng địa ch: p SV A, xã NB, huyn TC, tnh TVinh (nay LH,
tỉnh Vĩnh Long), vắng mt.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ch Thch Th TT, sinh năm 1988. Đa ch: p SV A, xã NB, huyn
TC, tnh Trà Vinh (nay là xã LH, tỉnh Vĩnh Long), vng mt.
2/ Ông Ngô Văn T2, sinh năm 1964. Đa ch: p CD, xã ĐX, huyn DH,
tnh Trà Vinh (nay là xã ĐC, tỉnh Vĩnh Long), vắng mt.
3/ Ông Ngô Văn V, sinh năm 1971. Địa ch: p SV A, NB, huyn TC,
tnh Trà Vinh (nay là xã LH, tỉnh Vĩnh Long), vắng mt.
4/ Bà Ngô Th K, sinh năm 1972. Địa ch: khóm 1, th trn TC, huyn TC,
tnh Trà Vinh (nay là xã TC, tỉnh Vĩnh Long), vắng mt.
5/ Ngô Th P, sinh năm 1974. Đa ch: s 35/7/15/8 đường Ao Đôi,
phường BTĐ A, qun BT, Thành ph H Chí Minh (nay phường BT, Thành
ph H Chí Minh), vng mt.
6/ Ngô Th U, sinh năm 1985. Địa ch: p SV A, NB, huyn TC,
tnh Trà Vinh (nay là xã LH, tỉnh Vĩnh Long), vắng mt.
7/ Bà T Th Đ, sinh năm 1964, có mặt.
8/ Ông Thái K, sinh năm 1965, có mặt.
Cùng địa ch: p LT, TH, huyn TC, tnh Trà Vinh (nay xã LH, tnh
Vĩnh Long).
9/ Ông Ngô Văn C1, sinh năm 1975, vắng mt.
10/ Bà Lâm Th V, sinh năm 1950, vắng mt.
11/ Bà Lâm Th Thu H, sinh năm 1963, vắng mt.
12/ Ông Lâm Minh T, sinh năm 1973, vắng mt.
13/ Bà Lâm Th Thu N, sinh năm 1965, vắng mt.
14/ Bà Lâm Th L, sinh năm 1969, vắng mt.
Cùng địa ch: p SV A, xã NB, huyn TC, tnh Trà Vinh (nay LH,
tỉnh Vĩnh Long).
15/ Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1967. Địa ch: p CL, ĐA, huyn TC,
tnh Trà Vinh (nay là xã ĐA, tỉnh Vĩnh Long), vng mt.
3
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lâm Minh C; b đơn ông Ngô Văn
T1, anh Ngô Hoài P1.
NI DUNG V ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2020 quá trình tố tụng nguyên đơn
ông Lâm Minh C trình bày:
Ông đứng tên quyền sdụng đất thửa số 632, tờ bản đồ số 5, diện tích
3.330m
2
(đất nông thôn 88,0m
2
đất trồng cây lâu năm 3.242m
2
) tọa lạc ấp SV
A, xã NB, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Nguồn gốc thửa đất này của cha ông (tên
Lâm Văn D) tạo lập được từ trước giải phóng và để lại cho ông là người quản lý,
sử dụng. Quá trình sử dụng, ngày 27/3/1998 UBND huyện TC cấp giấy chứng
nhận QSD đất cho ông Lâm Văn D, ngày 21/6/2007 ông D lập hợp đồng tặng
cho ông và ông đã được UBND huyện TC cấp giấy chứng nhận QSD đất vào
ngày 12/7/2007. Khoảng năm 1990, ông D thấy hoàn cảnh gia đình H1 (em
ông D) khó khăn, không chỗ nên cho H1 ông Ngô Văn T1 (chồng
H1) cất một căn nhà trên phần đất này để ở nhờ. Đến năm 2011, thì anh Hoài
P1 (con ông T1) cũng tự ý đến cất một căn chòi nhỏ để trên phần đất này.
Những năm qua ông đã nhiều lần yêu cầu ông T1, anh P1 di dời đi trả lại đất cho
ông, nhưng ông T1, anh P1 không đồng ý. Ngoài ra, quá trình sdụng đất phía
gia đình ông T1 còn làm hàng rào ý định chiếm luôn diện tích 1.558m
2
(ngang 41m x dài 38m) của ông. Ông được biết ông T1 và anh P1 đang có quyền
sử dụng đất bên cạnh đất của ông, cụ thể thửa s643, tờ bản đồ số 5, diện
tích 1.090m
2
loại đất - trồng màu tọa lạc ấp SV A, NB, huyện TC, tỉnh Trà
Vinh.
Do đó, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: bútộc ông T1, anh P1
giao trả cho ông diện tích đất đã nhờ của ông 1.558m
2
(ngang 41m x dài
38m) thuộc thửa đất số 632 tổng diện tích 3.330m
2
tại ấp SV A, NB, huyện
TC, tỉnh TVinh. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông C
đồng ý cho gia đình ông T1 được sử dụng một phần đất trước đây ông T1 đã
cất nhà (ngang 13m, dài hết đất), diện tích còn lại phải trả lại cho ông C. Ông
C xác nhận hiện tại ông đang gibản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa 632.
* Tại đơn yêu cầu phản tngày 01/7/2021 đơn phản tbổ sung ngày
08/3/2024, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Văn T1
trình bày:
Phần đất diện tích 1.558m
2
(ngang 41m x dài 38m) thuộc một phần
thửa 632 nguồn gốc của ông Lâm Văn C1 (đã chết) cha vợ ông T1
cha ruột của ông Lâm Văn D để lại. Vào năm 1965, ông C1 cho vợ chồng
4
ông (ông T1 H1) một thửa đất chiều ngang 10m, dài khoảng 80m để xây
dựng nhà ở, vtrí tại nhà máy chà gạo của ông D. Đến năm 1985 do ông D cần
mở rộng nhà máy chà nên ông D thỏa thuận đổi đất với vợ chồng ông, theo
đó vợ chồng ông dỡ nhà dời về phần đất hiện nay đang tranh chấp diện tích
hơn 3.000m
2
để sinh sống, còn phần đất của vợ chồng ông thì giao cho ông D để
mở rộng nhà máy. Lúc dời nhà đi do hoàn cảnh khó khăn nên ông T1 có vay của
ông Lâm Văn B (anh của H1 em của ông D) 10 chỉ V 24k, đến nay vẫn
chưa trả xong.
Khoảng năm 1997 - 1998 UBND NB cùng nhà trường, trong đó
thầy hiệu trưởng thầy Dũng thầy Thai đến gặp trực tiếp ông Lâm Văn D
xin đất để xây dựng trường học thì ông Lâm Văn D không dám cho, do
phần đất này ông D đã giao đứt cho ông T1 toàn quyền quyết định, nếu muốn
xin đất xây dựng trường học thì đến gặp ông T1. Lúc này ông T1 nhận thấy cần
phải trường học để cho học sinh học nên đã đồng ý cho một phần trong thửa
đất diện tích khoảng 2.000m2 để xây dựng trường học. Đến tháng 02/2020 ông
T1 làm hàng rào thì con trai của ông D ông Lâm Minh C đến ngăn cản nên
phát sinh tranh chấp.
Nay ông C khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại diện tích 1.558m
2
(ngang
41m, dài 38m) thửa đất số 632, tờ bản đồ số 5 tọa lạc ấp SV A, NB, huyện
TC, tỉnh Trà Vinh thì ông không đồng ý đất này gia đình ông đã trực tiếp sử
dụng ổn định, lâu dài hiện nay đang tồn tại 02 căn nhà kiên cố gồm nhà của
ông và nhà của anh P1 con ông. Ông phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Hủy giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy: H08773 do UBND
huyện TC cấp ngày 12/7/2007 cho ông Lâm Minh C do cấp sai đối tượng sử
dụng thực tế.
- Công nhận QSD đất phần diện tích 1.558m
2
trong tổng diện tích
3.330m2 thuộc thửa 632, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp SV A, xã NB, huyện TC, tỉnh
Trà Vinh cho ông ông người trực tiếp sử dụng đất thực tế ổn định, lâu dài
từ năm 1985 cho đến nay.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông D với ông
C số 229 quyển số 2 TP/CC-SCT/HĐGD do UBND NB, huyện TC, tỉnh Trà
Vinh chứng thực ngày 21/6/2007 đối với thửa đất số 632, tờ bản đồ s5, tọa lạc
ấp SV A, xã NB, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.
- Tuyên hiệu hợp đồng cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa
vợ chồng ông Lâm Minh C, bà Trần Thị MC1với bà Từ Thị Đo năm 2023
* Bị đơn anh NHoài P1 trình bày: thống nhất với lời trình bày của cha
anh ông Ngô Văn T1. Năm 2009 - 2010, khi anh ra riêng thì mẹ anh chỉ
cho anh phần đất hiện tại anh đang ở, khi đó do cậu ba D người lớn trong gia
tộc nên anh hỏi cậu một tiếng việc anh ra riêng nghĩa thông báo cho ông
D biết chứ không phải xin ông D cho ở nhờ. Lúc đó phần đất này thấp, anh phải
5
thuê người đỗ đất sang lấp mặt bằng, sang lấp gần 600m
3
cát với tổng gtrị
150.000.000đ, hai lần đầu nhờ anh H2 cháu của ông Lâm Minh C đỗ đất 2
lần, còn lần thứ 3 là ông bảy Q, trú NT, huyện CN. Đầu năm 2022 (trong quá
trình giải quyết vụ án), do căn nxuống cấp nên anh mua vật tư cải tạo lại
ngôi nhà với tổng chi phí xây dựng là 100.000.000 đồng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị V, Lâm Thị Thu
H, Lâm Thị Thu N, ông Lâm Minh T, ông Lâm Văn H1, Lâm Thị L (các
con của ông Lâm Văn D anh chị em của ông Lâm Minh C) trình bày:
Trước đây nhà của tám H1 (bà H1 vợ ông T1) gần nhà máy chà gạo của
ông D (cha các ông, bà), do ông D cần mở rộng nhà máy nên ông D đổi đất
với H1, nghĩa ông D lấy nền nhà của bà H1 giao lại cho H1 một nền
nhà khác tại vị trí nhà ông T1 đang hiện nay, sau đó anh P1 con H1
gặp ông D xin cất tạm một chòi để bán hủ tiếu ông D đồng ý, trước khi anh
P1 cất chòi thì đất thấp, sau đó anh P1 đã san lấp cao như hiện nay. Phần đất này
ông D đã cho ông C nên các ông, bà không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại biên bản xác minh, bà Trần Thị K trình bày: Bà là vợ sau của ông D,
bà vsống chung với ông D từ lúc được 29 tuổi nên biết rõ nguồn gốc đất
tranh chấp. Nguồn gốc đất tranh chấp của ông D, trước đây bà H1 chồng
về Ô Rè, nhưng cuộc sống của bà H1 không được khá nên ông D kêu bà H1 về ở
tại phần đất trước cửa nhà ông C hiện tại, nhưng sống tại phần đất này H1
cũng không được thoải mái nên ông D kêu dời qua gần nhà ông D để ở, còn
phần đất nhà của bà H1 thì giao lại cho bà V (con ông D) ở hiện nay. Sau đó ông
D muốn mở rộng nhà máy nên có đổi cho H1 một nền nhà khác, Cnh là phần
đất đang tranh chấp hiện nay. Khi đổi chỉ đổi cho H1 cái nền nhà chứ
không đổi cho hết vuông đất, phần đất còn lại thì ông D mượn H1 giữ giùm
chứ không cho người khác ở. Từ khi Tám H1 về đây thì trồng cây trái
như mít, đào, ... ông D không có đến đó sử dụng đất này nữa. Khi anh P1 xin cất
một cái chòi bán hủ tiếu trên phần đất này thì ông D không cho, ông D nói chỉ
cho đất bà H1, phần đất còn lại để cho con của ông D, nhưng bà đã năn nỉ ông D
cho anh P1 cất cái chòi nhỏ bán hủ tiếu kiếm sống nên P1 mới được cất chòi bán
hủ tiếu. Phần đất này ông D đã cho ông Lâm Minh C nên bà thống nhất theo đơn
khởi kiện của ông C mà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các con của ông Ngô Văn T1
gồm: Ngô Văn V, Ngô Thị U, NThị P, Ngô Thị K thống nhất với lời trình
bày của ông T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Từ Thị Đ và ông Thái K trình
bày: Vợ chồng ông cho vợ chồng ông C vay số tiền 1.000.000.000 đồng,
sau đó ông C trả được 500.000.000 đồng, còn nợ lại 500.000.000 đồng tiền
lúa 02 vụ bằng 200.000.000 đồng. Tổng cộng vợ chồng ông C còn nợ ông, bà
700.000.000 đồng. Khi vay tiền thì ông C cầm cho vchồng ông giấy
6
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 632, tờ bản đồ số 5 tọa lạc ấp SV A, xã NB,
huyện TC, tỉnh Trà Vinh để làm tin. Nay ông, đồng ý trả giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất này lại cho ông Lâm Minh C, nhưng ông C phải viết lại biên
nhận nợ chính quyền xác nhận cho vợ chồng ông bà. Trong vụ án này ông K
và bà Đ không có yêu cầu độc lập.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của Toà
án nhân dân huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân khu vực 13-Vĩnh
Long) đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bútộc bị đơn
anh Ngô Hoài P1 di dời T2 sản, cây cối trả lại cho ông Lâm Minh C phần đất
diện tích 681,8m
2
(Phần A đồ thửa đất), thuộc một phần thửa 632, tờ bản đ
số 5, loại đất nông thôn đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp SV A, NB,
huyện TC, tỉnh Trà Vinh cho ông Lâm Minh C quản lý, sử dụng. Ông Lâm Minh
C có trách nhiệm trả cho anh Ngô Hoài P1 số tiền giá trị cát san lấp là
94.138.560 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Ngô Văn T1. Giao
cho ông Ngô Văn T1 được quyền quản sử dụng phần đất diện tích 811m
2
(phần B, C đồ thửa đất), thuộc một phần thửa 632, tờ bản đồ s5, loại đất
nông thôn và đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp SV A, NB, huyện TC, tỉnh Trà
Vinh cho ông NVăn T1 quản lý, sử dụng. Ông Ngô Văn T1 được quyền liên
hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký tách thửa theo quy định.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm; quyền,
nghĩa vụ liên quan đến thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo
luật định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 17/12/2024, ông Lâm Minh C kháng cáo,
ông không đồng ý việc bản án sơ thẩm tuyên công nhận phần đất diện tích
327,8 m
2
thuộc thửa 632 (phần C sơ đồ) cho bị đơn ông Ngô Văn T1 mà yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho ông quyền sdụng diện tích 327,8 m
2
thuộc thửa 632 (phần C sơ đồ). Ngày 23/12/2024, bị đơn ông Ngô Văn T1, anh
Ngô Hoài P1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho ông T1
được quyền sử dụng phần đất diện tích 681,8m
2
thuộc thửa đất số 632 (phần A
sơ đồ).
* Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu công nhận cho
ông C quyền sdụng phần C diện tích 327,8m
2
, nếu các con của ông T1 muốn
tiếp tục sử dụng phần đất này thì trả giá trị đất cho ông C số tiền 250.000.000
đồng, đồng thời ông C không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 anh
P1 về việc đòi công nhận cho ông T1 quyền sdụng phần A diện tích 681,8m
2
yêu cầu công nhận cho ông C quyền sử dụng phần này (A); đnghị hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời do xét thấy không còn cần thiết, tính lại án phí sơ
7
thẩm. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đồng thời vẫn
giữ nguyên cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận cho những người
thừa kế của ông T1 được quyền sử dụng toàn bộ phần đất tranh chấp gồm A + B
+ C tổng diện tích là 1492,8m
2
thuộc thửa 632, những người thừa kế của ông T1
tự nguyện trả cho ông C 200.000.000 đồng tiền gtrị đất. Người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã
chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia
tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của pháp luật
tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn ông C; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của những người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của ông T1, anh P1; sửa án thẩm công nhận cho những
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T1 được quyền sử dụng
1492,8m
2
đất thuộc thửa 632 (gồm phần A + B + C của họa đồ), ghi nhận sự tự
nguyện của những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T1 trả cho
ông C 200.000.000 đồng tiền giá trị đất; hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
theo đề nghị của ông C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu T2 liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 13/12/2024 Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay Toà
án nhân dân khu vực 13-Vĩnh Long) tuyên án sơ thẩm, ngày 17/12/2024 nguyên
đơn ông Lâm Minh C đơn kháng cáo ngày 23/12/2024 bị đơn ông N
Văn T1, anh Ngô Hoài P1 đơn kháng cáo còn trong hạn theo quy định tại
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ nên
được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 chết ngày 12/8/2026, Tòa án đưa
tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T1 gồm: Ngô Văn T2,
Ngô Văn V, Ngô Thị K, NThị P, Ngô Văn C1, Ngô Hoài P1, Ngô Thị U kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
8
[2] Về nguồn gốc, quá trình đăng khai đối với thửa đất số 632, tờ
bản đồ số 5, diện tích 3.330m
2
tại ấp SV A, NB, huyện TC, tỉnh Trà Vinh
(nay LH, tỉnh Vĩnh Long): nguyên đơn, bđơn đều thống nhất thừa nhận
nguồn gốc đất của cụ Lâm Văn C1 cha của ông Lâm Văn D, Lâm Thị H1
để lại. Thể hiện tại phiếu cung cấp thông tin của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai (bút lục 145) thì ông Lâm Văn D đăng ký, kê khai và được UBND huyện
TC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 632 vào ngày 27/3/1998. Ngày
21/6/2007 ông D lập hợp đồng tặng cho con trai ông C toàn bộ thửa đất số
632 đến ngày 12/7/2007 ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đến nay không có biến động.
[3] Quá trình quản lý sử dụng.
Qua đo đạc hiện trạng sử dụng, thể hiện tại sơ đồ khu đất (bút lục 141)
theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ (bút lục 131-133) thì thửa đất 632 gồm
02 phần: 01 phần trường học (do năm 1995 ông D cho UBND NB
mượn một phần thửa đất 632 để làm trường học) phần này đương sự không
tranh chấp, phần còn lại do gia đình ông T1 sử dụng diện tích chung là
1492,8m
2
, trong đó gồm: phần C diện tích 327,8m
2
giáp với trường học, trên đất
không nhà hay công trình xây dựng chỉ cây ăn quả của ông T1 trồng,
phần B diện tích 483,2m
2
giáp với phần C trên đất nhà của ông T1, phần A
diện tích 681,8m
2
giáp với phần B trên đất có căn nhà của anh P1 con ông T1
cây của ông T1 trồng.
Nguyên đơn bị đơn đều thống nhất thừa nhận vào năm 1985, do nhu
cầu mở rộng nhà máy chà gạo nên ông D có thỏa thuận đổi đất với vợ chồng ông
T1, theo đó vợ chồng ông T1 dời nhà về thửa đất 632 của ông D sinh sống giao
phần đất căn nhà của vợ chồng ông T1 đang cho ông D để ông D mở rộng
nhà máy. Ông C cho rằng ông D chỉ đổi cho vợ chồng ông T1 một nền nđể ở
(tức phần B diện tích đo thực tế hiện nay 483,2m
2
). Ông T1 cho rằng, diện
tích ông D đổi cho ông toàn bộ phần đất đang tranh chấp (theo đo đạc thực tế
hiện nay là 1492,8m2 gồm phần A+B+C).
Xét thấy, việc đổi đất giữa ông D với vợ chồng ông T1 không có lập thành
văn bản, các bên cũng không xác định được diện tích trao đổi cụ thể là bao nhiêu
m
2
. Tuy nhiên, qua lời trình bày của ông Lâm Văn B, Lâm Thị L1 ông
Lâm Văn B2 các con của cụ C1 (anh em của ông D, H1) đều xác nhận
khoảng 1985 ông D có đổi đất cho vợ chồng ông T1, theo đó: ông D lấy nền nhà
của ông T1 để mở rộng nhà máy chà gạo giao cho ông T1 thửa đất vườn của
ông D Cnh là phần đất đang tranh chấp hiện nay, từ khi nhận đất thì gia đình ông
T1 cải tạo, san lắp, cất nhà trồng cây trên phần đất này. Tại các biên bản
xác minh (bút lục 264, 266), những người dân sinh sống tại địa phương trình
bày: trước đây ông D trồng tre bao quanh thửa đất trồng khoai mì, củ sắn
trên phần đất này nhưng từ khi ông D đổi đất với vợ chồng H1 khoảng 1985
9
thì gia đình H1 về sử dụng phần đất từ giáp trường học qua tới bờ tre, từ đó
ông D không còn đến sử dụng phần đất này. Ngoài ra, tại Biên bản xác minh đối
với bà Trần Thị K vợ của ông D (bút lục 267, 268) và các văn bản trình bày ý
kiến của những người con của ông D đều thừa nhận từ khi đổi đất với vchồng
ông T1 thì gia đình ông D không đến sử dụng phần đất đang tranh chấp,
phần đất này bên gia đình ông T1 sử dụng cho đến nay. Do đó, căn cứ xác
định gia đình ông T1 sử dụng toàn bộ phần đất tranh chấp từ năm 1985 đến nay.
[4] Ngoài ra, xét về vị trí, hình thể phần đất đang tranh chấp thấy rằng,
căn nhà của ông T1 nằm đoạn giữa (trên phần B), nếu ý C của ông D chỉ đổi
cho ông T1 một nền nhà chứ không đổi hết phần đất thì ông D phải yêu cầu ông
T1 cất nhà ở một gốc của thửa đất, có thể là phần C (giáp trường học) hoặc phần
A (giáp ranh thửa đất khác), không do ông D đồng ý để ông T1 cất nhà
giữa thửa đất, điều này sẽ gây ra bất tiện, ảnh hưởng đến việc khai thác, sử
dụng thửa đất. Cho thấy, việc ông D đổi cho vợ chồng ông T1 toàn bộ phần đất
đang tranh chấp (gồm phần A, B C) sthật, thế sau khi đổi đất ông D
không đến khai thác, sử dụng trên phần đất này nữa và bên gia đình ông T1 khai
thác, sử dụng toàn bộ phần đất này thì ông D cũng không phản đối.
[5] Như vậy, vào năm 2007 ông D lập hợp đồng tặng cho ông C toàn bộ
thửa đất 632, trên sđó UBND huyện TC cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông C diện tích 3.330m
2
trong đó có bao gồm cả phần đất gia đình
ông T1 đang sử dụng (1492,8m
2
) không đúng quy định pháp luật. Tòa án sơ
thẩm công nhận cho ông T1 được quyền sử dụng 811m
2
(phần B C) bútộc
anh P1 (con ông T1) trả lại cho ông C 681,8m
2
(phần A) là không phù hợp gây
ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T1. Do đó, cần sửa án sơ thẩm theo hướng
công nhận cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 được
quyền sử dụng 1492,8m
2
đất thuộc thửa 632 (gồm phần A + B + C của đồ).
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
ông T1 tự nguyện trả cho ông C 200.000.000 đồng tiền giá trị đất phù hợp
pháp luật và có lợi cho ông C nên được chấp nhận.
Từ những căn cứ trên, xét kháng cáo của nguyên đơn không căn cứ
chấp nhận, xét kháng cáo của bị đơn có căn cứ chấp nhận. Quan điểm của người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông C không căn cứ chấp nhận. Quan
điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn căn cứ chấp
nhận
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông C người yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được Tòa án cấp thẩm chấp nhận,
tại phiên tòa phúc thẩm, ông C yêu cầu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do
xét thấy không cần thiết. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 138 Hội đồng xét xử chấp
nhận hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2022/QĐ-
10
BPKCTT ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay
Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long).
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: do sửa án nên sửa lại án phí sơ thẩm, đối với
yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sdụng đất của ông C không được chấp
nhận nên ông C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm không giá ngạch,
các đương sự khác không phải chịu án phí sơ thẩm.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long căn cứ chấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Minh C.
Chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bị đơn ông Ngô Văn T1, anh Ngô Hoài P1.
Sửa Bản án dân sự thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của Toà
án nhân dân huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân khu vực 13-Vĩnh
Long).
Áp dụng các điều 163, 164, 468, 500 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều
26, 31, 131 Luật Đất đai năm 2024; các điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Minh C. Chấp nhận yêu
cầu phản tố của ông NVăn T1 những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố
tụng gồm: Ngô Văn T2, Ngô Văn V, Ngô Thị K, Ngô Thị P, Ngô Văn C1, Ngô
Hoài P1, Ngô Thị U.
1. Công nhận cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông
Ngô Văn T1 gồm: Ngô Văn T2, Ngô Văn V, Ngô Thị K, Ngô Thị P, Ngô Văn
C1, Ngô Hoài P1 Ngô Thị U được quyền sử dụng 1492,8m
2
đất (trong đó
88m
2
đất còn lại đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 632, tờ bản đồ số 5,
NB, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay là xã LH, tỉnh vĩnh long), theo đồ khu đất
của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện TC (nay Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực 14 - Vĩnh Long) gồm phần A + B + C của sơ đồ
(có sơ đồ khu đất kèm theo).
Đương sự quyền, nghĩa vụ đăng biến động đất đai theo quy định
pháp luật.
11
2. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn
T1 gồm: Ngô Văn T2, Ngô Văn V, Ngô Thị K, Ngô Thị P, Ngô Văn C1, Ngô
Hoài P1 Ngô Thị U trả cho ông Lâm Minh C 200.000.000 đồng (hai trăm
triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định Điều 357 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
3. Kể từ ngày bản án này hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2022/QĐ-BPKCTT ngày 25/8/2022 của Tòa
án nhân dân huyện TC, tỉnh Trà Vinh (nay Tòa án nhân dân khu vực 13 -
Vĩnh Long) trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.
4. Án phí sơ thẩm:
Bútộc ông Lâm Minh C chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003340 ngày
04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC (nay Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 13-Vĩnh Long). Ông C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các đương sự khác không phải chịu án phí sơ thẩm.
5. Án phí phúc thẩm: các đương sự không phải chịu.
Hoàn trả ông Lâm Minh C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002969 ngày 17/01/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
13-Vĩnh Long).
Hoàn trả anh Ngô Hoài P1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án pphúc thẩm đã nộp theo biên lai thu s0002968 ngày 15/01/2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện TC (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13-
Vĩnh Long).
6. Các phần khác của bản án sơ thẩm như: chi phí tố tụng không có kháng
cáo, không kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết
lại, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
12
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 13-Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 13-VL;
- VP TAND tỉnh Vĩnh Long;
- P GĐKT,TT&THA TAND TVL;
- Đương sự; Lưu hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 783/2026/DS-PT Bản án số 783/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 783/2026/DS-PT Bản án số 783/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất