Bản án số 1016/2026/DS-PT ngày 07/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1016/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1016/2026/DS-PT ngày 07/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1016/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Võ Văn B "Tranh chấp quyền sử dụng đất" Võ Văn B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1016/2026/DS-PT Bản án số 1016/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1016/2026/DS-PT Bản án số 1016/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1016/2026/DS-PT
Ngày: 07-8-2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 ngày 07 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 548/2026/TLPT-DS
ngày 07 tháng 7 năm 2026, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 511/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn B, sinh năm 1948 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông B: Ông Phạm Quốc S, sinh năm 1981
(có mặt).
Địa chỉ: Số C đường C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Võ Văn B1, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông B1: Nguyễn Thị Huỳnh T, sinh
năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: ấp G, xã Đức H, tỉnh Tây Ninh.
(Văn bản ủy quyền ngày 23/7/2026)
2
2.2. Ông Võ Văn N, sinh năm 1977 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
3.2. Bà Võ Thị S1, sinh năm 1952 (vợ ông Bầu - vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh.
3.3. Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1950 (vợ ông B - vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của B2: Thị N1, sinh năm 1990 (có
mặt).
(Văn bản ủy quyền ngày 04/3/2026)
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện các lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Văn B
do ông Phạm Quốc S đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 18/11/1997, ông Văn B được UBND huyện T cấp giấy chứng
nhận QSDĐ số L600798, số vào sổ cấp GCN: 00267QSDĐ/1103-LA đối với các
thửa đất số 634 (diện tích 4.491m
2
), tbản đồ số 5; thửa đất số 731 (diện tích
4.851m
2
), thửa 732 (diện tích 461m
2
), thửa 733 (diện tích 3.095m
2
), thửa 734
(diện tích 2.999m
2
) cùng thuộc tờ bản đồ số 7, tất cả cùng tọa lạc tại xã T, huyện
T, tỉnh Long An (Tổng diện tích của các thửa đất 15.861m
2
)
. Nguồn gốc của
các thửa đất này là do ông B được nhận tặng cho đất từ cha mẹ.
Năm 2006, ông B đã chuyển mục đích sử dụng diện tích 30m
2
thuộc một
phần thửa 733, phần đất có diện tích 2.493m
2
thuộc một phần thửa đất 734, phần
diện tích 1.897m
2
thuộc một phần thửa 731 sang đất giao thông do Nhà nước quản
phát sinh thửa đất mới 839 (diện tích 493m
2
). Tổng diện tích đất còn lại
do ông B đứng tên chủ sở hữu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 11.441m
2
được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T cập nhật thông tin chỉnh lý, biến
động vào ngày 20/6/2006.
Thửa đất 839 chiều ngang mặt tiền tiếp giáp với đường tỉnh lộ 817
80m, mặt sau tiếp giáp với thửa 881 và 737; phần đất tính từ tỉnh lộ 817 chạy dọc
xuống thửa 737 tiếp giáp với thửa 892 chiều rộng khoảng 1,5m phần đất
tính từ tỉnh lộ 817 chạy dọc xuống thửa 737 tiếp giáp với thửa 742 có chiều rộng
khoảng 9m. Hiện trạng của thửa đất 839 tại thời điểm này đất ruộng và được
gia đình ông B quản lý, sử dụng trồng chuối cho đến nay.
Khoảng tháng 9/2022, ông B1 đã đỗ đất, san lấp thửa đất 839 và ông B có
ngăn cản nhưng ông Bầu vẫn thực hiện việc này.
Ngày 31/7/2023, UBND xã T hòa giải tranh chấp giữa ông B với ông Bầu
nhưng phiên hòa giải không thành do hai bên không thống nhất ý kiến với nhau.
3
Nay, ông B khởi kiện yêu cầu ông Bầu ông N phải trả lại thửa đất số 839
(diện tích 493m
2
), tờ bản đồ s7, tọa lạc tại T, huyện T, tỉnh Long An (Giấy
chứng nhận QSDĐ số L600798, số vào scấp GCN: 00267QSDĐ/1103-LA được
UBND huyện T cấp cho ông Võ Văn B ngày 18/11/1997 được Phòng T chỉnh lý,
biến động ngày 20/6/2006).
Bị đơn ông Võ Văn B1 trình bày như sau:
Ông và ông B là anh, em ruột. Ông thống nhất với ông B về nguồn gốc các
thửa đất của ông và ông B đều do cha, mẹ cho.
Trước đây, ông được cấp giấy chứng nhận với nhiều thửa đất, trong đó bao
gồm thửa đất số 737. Hiện trạng của thửa đất 737 trước đây đất ruộng bằng
phẳng, mặt trước 01 bờ mương chiều rộng khoảng 02m, chiều dài khoảng
75m. Sau này, ông Bầu đã thuê người đào 03 cái ao có chiều ngang 7m, chiều dài
khoảng 25m và cặp mé ao (giáp đường tỉnh hiện nay) có 01 bờ sử dụng để trồng
tràm có chiều ngang khoảng 1,2m, chiều dài khoảng 75m.
Năm 2014, ông B1 có tặng cho ông N phần đất có diện tích 1.293m
2
thuộc
một phần thửa đất 737. Ngày 16/10/2014, ông N được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS237872, số vào sổ cấp
GCN: CH01717 đối với thửa đất số 881 (diện tích 1.293m
2
), tờ bản đồ số 7, tọa
lạc tại ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Đến khoảng 2020, ông B1 có nhờ ông Võ Văn N2 (con trai ruột của ông B)
chặt bờ tràm nhưng vẫn còn chừa lại vài cây tràm cho đến nay. Gia đình ông B
không có ý kiến gì.
Cuối năm 2022, ông Văn T1 (con trai ruột của ông Bầu) đã san lấp 01
ao thuộc một phần diện tích thửa 737 nằm tiếp giáp với thửa 742 để lấp đất xây
nền cất nhà. Trong quá trình san lấp thì ông B ngăn cản đề nghị chính quyền
địa phương hòa giải nhưng không thành. Nay, hiện trạng của phần đất này đã được
đắp nền chiều ngang mặt trước khoảng 27m, mặt hậu 30m chiều dài khoảng
50m.
Đối với thửa đất 839 với hình thể như ông B trình bày trùng với phần diện
tích đất của 03 cái ao và 01 bờ tràm như trên của ông.
Nay, ông B khởi kiện yêu cầu ông Bầu ông N phải trả lại thửa đất số
839, diện tích 493m
2
, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại T, huyện T, tỉnh Long An thì
ông B1 không đồng ý phần đất này được ông B1 được cha mẹ tặng cho, đã
quản lý, sử dụng từ xưa cho đến nay, không ai tranh chấp.
Bị đơn ông Võ Văn N trình bày:
Ông con của ông Bầu, ông thống nhất với trình bày của ông Bầu. Khoảng
tháng 4/2011, ông N cất nhà trên phần đất chiều ngang khoảng 26,3m
chiều dài khoảng 50m, phần đất này do ông B1 cho ông N. Sau đó, ông N đã
xây dựng hàng rào cột tông, khung sắt bao quanh đất nhưng chừa khoảng
10m mặt trước để làm lộ giới thửa đất.
4
Ngày 16/10/2014, ông N được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp
giấy chứng nhận QSDĐ số BS237872, số vào scấp GCN: CH01717 đối với thửa
đất số 881 (diện tích 1.293m
2
), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp V, T, huyện T, tỉnh
Long An, nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho đất cha cho con.
Khoảng tháng 9/2022, ông T1 (em trai ông N) đổ đất để san lấp mặt bằng
như ông B1 trình thì ông B có ngăn cản.
Đối với thửa đất 839 với hình thể như ông B trình bày thì trùng với phần
diện tích đất của 03 cái ao và 01 bờ tràm như trên.
Nay, ông B khởi kiện yêu cầu ông Bầu ông N phải trả lại thửa đất số 839
(diện tích 493m
2
), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An thì ông
không đồng ý phần đất này được cha mẹ tặng cho đã quản lý, sử dụng từ xưa
cho đến nay không tranh chấp.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T văn bản
đề nghị vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Võ Thị S1: S1 vợ của ông
B1 có văn bản đề nghị vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B2 do bà Võ Thị N1
đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà B2 vợ ông B nên B2 thống nhất với lời
trình bày từ phía ông B và không bổ sung gì thêm.
Tại Bản án dân sự thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh đã:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; c
Điều 164, 165, 166, 175, 176, 236 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, 235, 236 Luật
đất đai năm 2024, Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm
2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn B.
Công nhận quyền sử dụng đất của ông Võ Văn B đối với thửa số 839 (diện
tích 493m
2
), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Buộc ông Văn N trả lại hiện trạng ban đầu đối với một phần thửa số 839
(diện tích 493m
2
), tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh mà ông N
đã đổ đất làm đường đi.
(Vị tđất tranh chấp được thể hiện tại khu A, khu B Mảnh trích đo địa
chính số 01-2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ duyệt ngày 16/01/2026).
2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Văn B1 ông Văn N phải chịu
chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập chứng cứ
14.468.000 đồng. Nguyên đơn ông B đã nộp 10.458.000 đồng, ông B1 đã nộp
4.000.000 đồng nên ông Bầu ông N nghĩa vụ trả lại cho ông B 10.458.000
5
đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cu khi kin của nguyên đơn ông B
được nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy đnh ti
khoản 1 Điều 147 B lut T tng dân s năm 2015 khoản 2 Điều 26 Ngh
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy đnh v mc thu, min, gim,
thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án, nguyên đơn đối tượng
miễn án tạm ứng án phí nên không phải hoàn tạm ứng án phí.
Bị đơn ông Bầu và ông N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm, nhưng ông Bầu sinh năm 1952 đối tượng được miễn án
phí theo Điều 12 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
đơn xin miễn án phí nên ông B1 được miễn 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
và ông N phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 11/5/2026, ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N kháng cáo không đồng ý
bản án sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Võ Văn B1 do Nguyễn Thị Huỳnh T đại diện theo ủy quyền
ông Văn N trình bày nội dung kháng cáo: Phần tranh chấp được thể hiện
tại khu A diện tích 105m
2
, khu B diện tích 110m
2
, tổng diện tích 215m
2
nhưng
bản án tuyên buộc ông Võ Văn N trả lại hiện trạng ban đầu đối với một phần thửa
số 839 (diện tích 493m
2
) là không đúng. Trên đất có cây trồng, một phần nhà của
ông N. Phần đất này trước đây hiện trạng thấp hơn mặt đường, ông N ông
T1 cùng sdụng, ông T1 cùng đổ đất san lấp với chi phí hơn 400.000.000 đồng
nhưng chưa được xem xét là không đảm bảo quyền lợi của bị đơn. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm. Giao hồ về a án cấp sơ thẩm giải quyết
lại nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Nguyên đơn ông Võ Văn B, bà Võ Thị N1 trình bày: Ông B thống nhất trên
đất có tài sản, cây trồng, nhà tạm của ông N như ông N trình bày. Ông N và ông
T1 có san lấp đất tại khu A và khu B như ông N trình bày, khi ông N sang lấp thì
ông B khiếu nại đến Ủy ban nhân dân T2. Tại vị trí đất khu A trước đây ông
B cho ông N ông T1 mượn sử dụng để làm đường đi. Tuy nhiên, phần đất
tranh chấp hiện do ông B là người đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nên đề nghị Tòa án căn cứ vào giấy đất để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Ông Phạm Quốc S người đại diện theo ủy quyền của ông B thống nhất
với trình bày của ông B.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
6
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đđiều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo của ông Bầu, ông N:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Võ Văn B1 và ông Võ Văn N vẫn giữ
nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; trường hợp
xét thấy không đủ căn cứ để sửa án thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết
lại. Bị đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm đã công nhận toàn bộ diện tích 493m²
thuộc thửa đất số 839 cho ông Văn B không đúng với phạm vi tranh chấp
thực tế. Theo kết quả đo đạc, phần diện tích các bên đang tranh chấp chỉ gồm khu
A diện tích 105m² và khu B diện tích 110m², tổng cộng 215m². Đồng thời, người
trực tiếp thực hiện việc đđất, san lấp khu vực tranh chấpông Võ Văn T1 (con
ông Bầu, em ông N), do đó việc bản án buộc ông N phải khôi phục hiện trạng
không có căn cứ; hơn nữa, cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ hiện trạng ban đầu của
khu đất để xác định nội dung phải khôi phục chưa đưa ông T1 tham gia tố tụng
với cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn ông Văn B
không đồng ý với kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án thẩm.
Tuy nhiên, tại phiên tòa ông B xác định chỉ yêu cầu được công nhận quyền sử
dụng đối với phần diện tích đang tranh chấp thực tế tại khu A khu B theo Mảnh
trích đo địa chính số 01-2026 với tổng diện tích khoảng 215m², không yêu cầu
công nhận toàn bộ diện tích 493m² của thửa đất số 839.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của
các bên đương sự và xét kháng cáo của ông Bầu, ông N, thấy rằng:
Theo đơn khởi kiện, ông Võ Văn B yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất số 839
diện tích 493m², nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi Tòa án trưng
cầu cơ quan chuyên môn tiến hành đo đạc theo sự chỉ ranh của các bên, phần diện
tích thực tế phát sinh tranh chấp chỉ được xác định tại khu A khu B với tổng
diện tích 215m². Phần diện tích còn lại 278 m
2
của thửa đất số 839 không được
phân khu, không được xác định ranh giới cụ thể các bên đều không tranh
chấp. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm vẫn tuyên công nhận toàn bộ quyền sử dụng đối
với thửa đất số 839 diện tích 493m² cho ông Võ Văn B. Tại phiên tòa phúc thẩm,
chính nguyên đơn cũng xác định lại yêu cầu khởi kiện chỉ giới hạn trong phần
diện tích 215m² thuộc khu A khu B. Như vậy, việc tuyên án như trên đã vượt
quá phạm vi tranh chấp thực tế mà các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng
thời chưa phản ánh đúng đối tượng tranh chấp của vụ án. Đồng thời, bản án
thẩm chỉ tuyên công nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn B mà không tuyên
buộc bị đơn giao trả phần diện tích đất đang quản lý, sử dụng, trong khi theo lời
trình bày thống nhất của các bên tại phiên tòa xác định hiện nay khu A do nguyên
đơn quản lý, còn khu B do bị đơn quản lý, sử dụng. Do đó, đối với phần diện tích
khu A, thực tế nguyên đơn đang trực tiếp quản nhưng vẫn yêu cầu bị đơn trả lại
là chưa phợp với tình trạng sử dụng đất trên thực tế; còn đối với khu B, bản án
7
lại không xác định rõ nghĩa vụ giao trả đất của bị đơn trong trường hợp yêu cầu
của nguyên đơn được chấp nhận là chưa phù hợp.
Bên cạnh đó, phần quyết định của bản án thẩm còn tuyên buộc ông
Văn N “trả lại hiện trạng ban đầu” đối với phần đất đã đổ đất làm đường đi. Tuy
nhiên, theo lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm thì phần đất được san
lấp không chỉ phần đất đã đổ đất làm đường đi khu A luôn cả khu B. Đồng
thời, trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh, làm
rõ hiện trạng ban đầu của phần đất trước khi bị san lấp là gì; không xác định khối
lượng đất đã đổ, phạm vi san lấp, chiều cao cần đào bỏ hoặc các hạng mục cụ thể
phải khôi phục. Việc tuyên buộc khôi phục hiện trạng trong khi không xác định
được hiện trạng cần khôi phục sẽ dẫn đến phần quyết định của bản án không đủ
cụ thể để thi hành, cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ xác định phạm vi
nghĩa vụ của người phải thi hành án cũng như nội dung công việc cần tổ chức thi
hành.
Ngoài ra, theo lời trình bày của ông Văn B1 ông Võ Văn N trong
suốt quá trình giải quyết vụ án, người trực tiếp thực hiện việc đổ đất, san lấp phần
đất tranh chấp là ông Võ Văn T1 (con ông Văn B1). Tại phiên tòa phúc thẩm,
chính nguyên đơn ông Võ Văn B cũng thừa nhận ông T1 người thuê xe đưa đất
vào san lấp phần đất ông cho của nh. Như vậy, việc xác định trách nhiệm
khôi phục hiện trạng liên quan trực tiếp đến quyền nghĩa vụ của ông Văn
T1. Tuy nhiên, cấp thẩm không đưa ông T1 tham gia tố tụng với tư cách người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ hành vi san lấp, phạm vi thực hiện, chi
phí san lấp cũng như trách nhiệm khôi phục là thiếu sót nghiêm trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến việc giải quyết toàn diện vụ án.
Do những vi phạm thiếu sót của Tòa án cấp thẩm không thể khắc phục
tại giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xác minh
và giải quyết lại theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N. Căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS đề nghị hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N được thực hiện
đúng nội dung và hình thức quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Võ Văn B và người đại diện theo ủy quyền là
ông Phạm Quốc S mặt, Nguyễn Thị Huỳnh T người đại diện theo ủy
quyền của ông Võ Văn B1, ông Văn N, Võ Thị N3 mặt, các đương sự
còn lại vắng mặt, đã được tống đạt hợp lệ, văn bản yêu cầu giải quyết vắng
mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
8
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Võ Văn B khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Văn B1, ông
Văn N trả lại thửa đất số 839, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 493m
2
, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An. Toà án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Văn N trả lại
hiện trạng ban đầu đối với một phần thửa số 839 (diện tích 493m
2
), tờ bản đồ số
7, tọa lạc tại ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh mà ông N đã đổ đất làm đường đi.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N kháng cáo;
các đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Căn cứ
Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản
án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N, thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất:
Nguồn gốc đất của ông Võ Văn B:
Ngày 18/11/1997, ông Văn B được UBND huyện T cấp giấy chứng
nhận QSsố L600798, số vào sổ cấp GCN: 00267QSDĐ/1103-LA tổng diện
tích của các thửa đất là 15.861m
2
gồm các thửa đất số 634 (diện tích 4.491m
2
), tờ
bản đồ số 5; thửa đất số 731 (diện tích 4.851m
2
), thửa 732 (diện tích 461m
2
), thửa
733 (diện tích 3.095m
2
), thửa 734 (diện tích 2.999m
2
) cùng thuộc tờ bản đồ số 7,
tọa lạc tại tọa lạc tại ấp V xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Năm 2000-2006 Nhà nước mở lộ công trình đường tỉnh 817 (trước đây
đường V - Bình Hòa T) nên ông B đã hiến một phần thửa đất gồm: thửa 733 diện
tích 30m
2
, thửa 734 diện tích 2493m
2
, thửa 731 diện tích 1.897m
2
. Sau khi Nhà
nước làm đường giao thông phần đất còn lại phát sinh thửa mới là 839, diện tích
493m
2
, được Phòng T cập nhật, chỉnh trên giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày
20/6/2006.
Nguồn gốc đất của ông Võ Văn B1, ông Võ Văn N:
Ngày 11/4/1998, ông Văn B1 được UBND huyện T cấp giấy chứng
nhận QSDĐ số M 157785, số vào sổ cấp GCN: 00916QSDĐ/1103-LA tổng diện
tích 17.819m
2
, gồm các thửa đất số 661 (diện tích 3.664m
2
), thửa đất số 735
(diện tích 1.486m
2
), thửa 736 (diện tích 780m
2
), thửa 737 (diện tích 6.984m
2
),
thửa 738 (diện tích 209m
2
), thửa 739 (diện tích 4.033m
2
), thửa 742 (diện tích
663m
2
), cùng thuộc tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại tọa lạc tại ấp V, T, huyện T, tỉnh
Long An.
Năm 2014, ông B1 tặng cho ông N phần đất diện tích 1.293m
2
thuộc một
phần thửa đất 737. Ngày 16/10/2014, ông N được Sở Tài nguyên và i trường
tỉnh L cấp giấy chứng nhận QSDĐ số BS237872, số vào sổ cấp GCN: CH01717
đối với thửa đất số 881 (diện tích 1.293m
2
), tờ bản đồ số 7, T, huyện T, tỉnh
Long An.
9
Ông B ông Bầu thống nhất ông hai ông anh, em ruột, nguồn gốc đất
của ông B, ông Bầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều do cha, mẹ
cho, các bên tự khai, đăng cấp giấy, vị trí khu đất của ông Bầu ông B
trước khi mở đường giáp ranh với nhau. Các bên không thống nhất căn cứ xác lập
quyền sử dụng đất tại vị trí khu A và khu B nên phát sinh tranh chấp.
Ông B cho rằng phần đất khu A và khu B thuộc một phần thửa 731 diện
tích 1.897m
2
, sau khi Nhà nước làm đường giao thông phần đất còn lại phát sinh
thửa mới 839, diện tích 493m
2
. Trong khi đó, ông B1 xác định vị trí đất tranh
chấp trước đây ông Bầu đã đào 03 cái ao chiều ngang 7m, chiều dài khoảng
25m và cặp mé ao (giáp đường tỉnh hiện nay) có 01 bờ sử dụng để trồng tràm có
chiều ngang khoảng 1,2m, chiều dài khoảng 75m trùng với thửa đất 839 nên
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.2] Vị trí đất tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện, ông Văn B yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất số 839
có diện tích 493m², nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi Tòa án trưng
cầu quan chuyên môn tiến hành đo đạc theo sự chranh của các bên, phần diện
tích thực tế phát sinh tranh chấp chỉ được xác định tại khu A khu B với tổng
diện tích 215m².
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất xác định vị trí đất tranh
chấp đo đạc thực tế thể hiện tại khu A diện tích 105m
2
, khu B diện tích 110m
2
,
tổng diện tích đo đạc thực tế 215m
2
, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 493m
2
, thuộc thửa đất số 839, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện T,
tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính s01-2026 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai khu vực Thạnh Hóa duyệt ngày 16/01/2026, thửa đất 839 hiện do
ông B là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, bản án thẩm vẫn tuyên công nhận toàn bộ quyền sdụng đối
với thửa đất số 839 diện tích 493m² cho ông Văn B. Như vậy, việc tuyên án
như trên là đã vượt quá phạm vi tranh chấp thực tế mà các đương sự yêu cầu Tòa
án giải quyết, đồng thời chưa phản ánh đúng đối tượng tranh chấp của vụ án.
[3.3] Về hiện trạng đất;
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân
dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (nay Tòa án nhân dân khu vực 2 -Tây
Ninh) thể hiện trên phần đất tranh chấp 03 cây sầu riêng, 02 cây P, một căn
nhà tiền chế.
Các đương sự trình bày thống nhất trước đây khu đất hiện trạng thấp hơn
mặt đường, một phần là bờ tràm, một phần là ao. Sau đó ông N em của ông N
là ông Võ Văn T1 có đổ đất san lấp đất trên khu A, B nên có hiện trạng như hiện
nay. Trên khu đất hiện nay trồng cây sầu riêng, cây P, một căn nhà tiền chế của
ông N. Tại vị trí khu A có một phần là đường đi do gia đình ông N và ông T1 sử
dụng để ra đường lớn.
10
Mặc dù hiện trạng sử dụng đất đã có sự thay đổi đáng kể so với thời điểm
trước khi phát sinh tranh chấp, nhưng Bản án sơ thẩm lại tuyên buộc ông Võ Văn
N “trả lại hiện trạng ban đầu” đối với phần đất tranh chấp mà không xác định cụ
thể hiện trạng ban đầu là gì.
Hồ vụ án không có tài liệu nào thể hiện hiện trạng gốc của khu đất trước
khi san lấp; không xác định khu vực nào là ao, khu vực nào là bờ đất; không xác
định khối lượng đất đã đổ, chiều cao san lấp, phạm vi phải đào bỏ hoặc các hạng
mục cần phải khôi phục. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ chỉ ghi nhận hiện
trạng tại thời điểm giải quyết vụ án cây trồng, công trình trên đất không
phản ánh hiện trạng gốc của thửa đất trước khi có việc san lấp. Do đó, việc tuyên
án theo cách trên làm cho bản án không bảo đảm tính khả thi trong thi hành án.
Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, chính nguyên đơn ông Võ Văn B cũng
thừa nhận ông T1 người thuê xe đưa đất vào san lấp phần đất ông cho của
mình. Ông N còn trình bày việc san lấp do ông ông T1 thực hiện với chi phí
khoảng 400.000.000 đồng. Như vậy, việc xác định trách nhiệm khôi phục hiện
trạng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền nghĩa vụ của ông Văn T1. Tuy
nhiên, cấp thẩm không đưa ông T1 tham gia tố tụng với cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan để làm hành vi san lấp, phạm vi thực hiện, chi phí san
lấp cũng như trách nhiệm khôi phục thiếu sót nghiêm trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến việc giải quyết toàn diện vụ án.
Do đó, đgiải quyết triệt để nội dung tranh chấp, đảm bảo quyền lợi ích
hợp pháp của các bên đương sự cần phải tiến hành xác minh, thu thập thêm chứng
cứ về hiện trạng gốc của đất, xác định đầy đủ người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, xem xét tài sản trên đất, làm việc san lấp, khối lượng đất đã đổ, chi phí
thực hiện. Đây đều là những hoạt động tố tụng phải được thực hiện toàn diện ti
cấp sơ thẩm nhằm bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ, tranh tụng và quyền được
xét xhai cấp của các đương sự. Những thiếu sót nêu trên không thể bổ sung,
khắc phục tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, kháng cáo của bị đơn ông Bầu, ông N yêu cầu
hủy bản án sơ thẩm cơ sở chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng: được xem xét khi giải
quyết lại vụ án.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương skhông phải chịu án phí. Ông
Bầu được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn tiền tạm ứng án phí
cho ông B1. Ông N được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn B1, ông Văn N.
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
11
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, về “tranh chấp quyền sử
dụng đất” giữa nguyên đơn ông Võ Văn B, bđơn ông Văn B1, ông Văn
N.
Giao toàn bộ hồ về a án nhân dân khu vực 2 Tây Ninh thụ giải
quyết lại vụ án.
2. Ván phí dân sự thẩm các chi phí tố tụng được xem xét khi giải
quyết lại vụ án.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Văn N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
theo biên lai thu số 0009999 ngày 11/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
4. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 2 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 2 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1016/2026/DS-PT Bản án số 1016/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1016/2026/DS-PT Bản án số 1016/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất