Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 545/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 545/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu buộc ông Huỳnh Văn H trả lại phần đất có diện tích 11,5m², tọa lạc tại đường N, Khóm F, Phường A, thành phố C. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu ông H và bà Nguyễn Mỹ Đ trả lại phần đất có diện tích 2,3m².
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 545/2026/DS-PT
Ngày: 17 - 8 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế;
Ông Lê Phan Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 7 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 304/2025/TLPT-DS
ngày 22 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 212//2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 375/2025/QĐ-PT ngày
29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Vu L, sinh ngày: 26/08/1953; Căn cước công dân số: ************,
cấp ngày: 10/07/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Ngô Tuyết N, sinh ngày: 08/03/1958; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 28/06/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội.
Cùng trú tại: Số E đường Đ, Khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh
Mau (Nay là Số E đường Đ, Khóm D, Phường A, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Văn P, sinh ngày: 02/10/1957; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 14/08/2021, nơi cấp: Cục Cảnh t quản lý hành chính
về trật tự xã hội; Cư trú tại: Khóm A, Phường A, tỉnh Cà Mau (Theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 23/11/2023) (có mặt).
2. Ông Nguyễn Văn K, sinh ngày: 19/09/1979; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 29/09/2022, nơi cấp: Cục Cảnh t quản lý hành chính
2
về trật tự hội; trú tại: A, Đ, Khóm A, phường A, tỉnh Mau (theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 06/3/2026) (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Bị đơn:
Ông Huỳnh Văn H, sinh ngày: 20/03/1982; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 27/03/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội; trú tại: Nhà không số, đường N, Khóm F, Phường A, thành
phố C, tỉnh Mau (nay là Nhà không số, đường N, Khóm A, Phường A, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Huỳnh Văn H:
Nguyễn Mỹ Đ, sinh ngày: 18/12/1983; Căn cước ng dân số:
************; cấp ngày: 31/03/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự hội; trú tại: Nhà không số, đường N, khóm F, Phường A, thành
phố C, tỉnhMau, nay Nhà không số, đường N, Khóm A, phường A, tỉnh
Mau (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13/11/2025) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Mỹ Đ, sinh ngày: 18/12/1983; Căn cước ng dân số:
************; cấp ngày: 31/03/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự hội; trú tại: Nhà không số, đường N, khóm F, Phường A, thành
phố C, tỉnh Cà Mau (nay là Nhà không số, đường N, Khóm A, phường A, tỉnh
Mau).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H và Đ: Luật sư Du Thị
B, là Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn H là bị đơn và bà Nguyễn Mỹ Đ
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa
thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình
bày:
Năm 2002, ông Vu L và bà Ngô Tuyết N nhận chuyển nhượng của ông Từ
Văn Q phần đất diện tích 666m², loại đất trồng lúa, thuộc thửa đất số 123, tờ
bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm F, Phường A, thành phố C. Phần đất này được Ủy
ban nhân dân (UBND) tỉnh Cà Mau cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy
CNQSDĐ), vào sổ số 0053 ngày 06/01/2001. Hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất giữa ông Q với ông L, bà N được U chứng thực ngày 27/02/2002.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông L, N đăng biến động được
UBND thành phố C cấp Giấy CNQSDĐ số V239462 ngày 30/7/2002. Năm 2008,
UBND thành phố C ban hành Quyết định số 254/QĐ-UB thu hồi 640,21m² đất của
ông L, N để thực hiện dán xây dựng Khu đô thị P Phường I; diện tích n
lại theo Giấy chứng nhận là 25,79m².
Năm 2023, ông L, bà N liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành
phố L1 yêu cầu đo đạc phần đất còn lại đđăng cấp Giấy CNQSDĐ tcho
3
rằng ông Huỳnh Văn H đã lấn chiếm 11,5m². Ông L, bà N nhiều lần yêu cầu trả đất
nhưng ông H không đồng ý vì cho rằng đây là đất vỉa hè.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc ông Huỳnh Văn H trả lại phần đất
diện tích 11,5m², tọa lạc tại đường N, Khóm F, Phường A, thành phố C. Tại phiên
tòa thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ
yêu cầu ông H và bà Nguyễn Mỹ Đ trả lại phần đất có diện tích 2,3m².
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm phía bđơn trình
bày:
Ông H nhận chuyển nhượng của Lê Thu H1 phần đất có diện tích
236,4m², ngang 11m, chiều dài một cạnh 35,5m, cạnh còn lại 25m, cạnh khác
8,5m; thuộc thửa đất số 676, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm F, Phường A, thành
phố C. Phần đất được cấp Giấy CNQSDĐ số BL188060 ngày 31/8/2012 đăng
ký biến động sang tên ông H, bà Đ o năm 2019.
Khi H1 n giao nhà và đất thì quán phê đã có sẵn. Ông H, Đ
không lấn chiếm đất của ông L, bà N. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, đối với yêu
cầu trả phần đất diện tích 2,3m², ông Hiệp đồng Ý trả lại diện tích này cho ông
L, bà N.
Tại Bản án dân sự thẩm số 212/2025/DS-ST ngày 30/6/2025, Tòa án
nhân dân (TAND) thành phố C quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vu L bà Ngô Tuyết N;
buộc ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Mỹ Đ tháo dỡ công trình trên đất, trả lại cho
ông L, N phần đất có diện tích 2,3m², tọa lạc tại Khóm F, Phường A, thành phố
C, các hướng tiếp giáp: hướng Đông giáp đất ông H, Đ tại điểm N3; hướng
Tây giáp vỉa hè, đoạn N1–N2 dài 1,17 m; hướng Nam giáp vỉa hè, đoạn N2N3 dài
3,89m; hướng Bắc giáp đất ông H, Đ, đoạn N1–N3 dài 4,06m, theo Mảnh đo
chỉnh thửa đất của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T1 ngày
27/6/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025 ông Huỳnh Văn H Nguyễn Mỹ Đ đơn
kháng cáo, yêu cầu TAND tỉnh Mau sửa toàn bộ bản án thẩm số
212/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của TAND thành phố Cà Mau theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyễn Mỹ Đ người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn H,
đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Luật Du Thị B bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Cấp thẩm sai sót trong việc đo đạc, Tòa án đã chấp nhận cho đo lại nhưng cấp
thẩm lại lấy bản vẽ do Công ty T1 đo để giải quyết. Tại phiên tòa thẩm bị
đơn xác định chỉ che mái che ra 2,3m
2
tại phần vĩa hè và đồng ý trả phần này
nhưng bản án sơ thẩm tuyên tháo dcông trình trên đất để trả đất phía trong c
nhà ông H nhưng không tuyên là tháo dỡ những gì. Công văn số
4
3845/VPĐKĐĐ ngày 29/7/2026 của Văn phòng Đăng đất đai tỉnh L1 xác định
2,3m
2
không nằm trong thửa 720. Quyết định thu hồi đất s 254/QĐ-UB ngày
13/4/2005 không thể hiện thu hồi phần đất 666m
2
của nguyên đơn.
Từ những tình tiết trên, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm, không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông xác định yêu cầu ông H trả cho ông L
2,3m
2
đất để sau này nhập phần đất vỉa 23,49m
2
đyêu cầu quan chức
năng đền bù giải tỏa làm vỉa hè với tổng diện tích 25,79m
2
.
- Ông Nguyễn Văn K trình bày: Căn cứ Giấy CNQSDĐ của ông Vu L,
quan thẩm quyền đã thu hồi, diện tích còn lại 25,79m
2
. Quá trình làm thủ tục
đổi Giấy CNQSDĐ đã phát hiện ông H lấn qua đất của ông L. Đơn đăng biến
động ngày 31/5/2023 thể hiện diện tích còn lại 25,79m
2
, ông L N đang quản
lý, sử dụng. Công văn số 3845/VPĐKĐĐ ngày 29/7/2026 của Văn phòng Đăng ký
đất đai tỉnh L1 cho rằng 2,3m
2
không lưu trữ trong hồ sơ, chưa xác định được. Tại
phiên tòa thẩm ông H thừa nhận đất ông L kiện nằm trong phần đất ông đang
quản ông H yêu cầu được trả giá trị đất. Cấp thẩm tuyên buộc ông H tháo
dỡ công trình trả đất cho ông L là có căn cứ.
Từ những tình tiết trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn H Nguyễn Mỹ Đ.
Sửa Bản án dân sự thẩm số: 212/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn H bị đơn và bà Nguyễn Mỹ Đ
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp trong thời hạn quy định của pháp
luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện thẩm quyền giải quyết
đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Xét các yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn H bà Nguyễn Mỹ Đ
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ông Vu L Ngô Tuyết N khởi kiện yêu cầu ông H, Đ tháo dcông
trình, trả lại phần đất diện tích 2,3m² tại góc nhà bị đơn, với do phần đất này
thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nhưng bị bị đơn lấn chiếm.
[3] Giấy CNQSDĐ số V239462 do UBND thành phố C cấp ngày 30/7/2002
xác định hộ ông L, N được quyền sử dụng 666m² đất trồng lúa, thuộc thửa đất
5
số 123, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Phường A, thành phố C. Tại mặt sau Giấy
CNQSDĐ, cơ quan thẩm quyền đã chỉnh lý: Căn cứ Quyết định số 254/QĐ-UB
ngày 13/4/2005 về việc thu hồi đất của ông Vu L tại Phường A hồ kỹ thuật
thửa đất do quan Tài nguyên Môi trường lập để xây dựng Khu đô thị P
Phường I, diện tích còn lại là 25,79m² đất trồng lúa.
Như vậy, căn cứ xác định ông L, N còn quyền sử dụng 25,79m² đất.
Tuy nhiên, nội dung chỉnh chỉ xác định diện tích còn lại, không xác định phần
đất này được chỉnh lý thành thửa đất số 720; không có tọa độ, ch thước các cạnh
hoặc thông tin đủ để xác định chính xác vị trí trên thực địa. đồ kèm theo Giấy
CNQSDĐ chỉ thể hiện khái quát vị trí phần đất còn lại, không xác lập mối liên hệ
giữa diện tích 25,79m² với phần đất 2,3m² tại góc nhà ông H. Do đó, Giấy
CNQSDĐ chỉ chứng minh quyền sử dụng diện tích đất còn lại, không chứng minh
phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đó.
[4] Ngày 31/5/2023, ông L, bà N lập Đơn đăng ký biến động đất đai, kê khai
thửa đất số 123 sau khi biến động còn 25,79m². Ngày 01/6/2023, U xác nhận:
“Ông Vu L Ngô Tuyết N đang trực tiếp sử dụng đất chưa quyết định
thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Tuy nhiên, xác nhận trên không ghi rõ số thửa, diện tích, vị trí, ranh giới, tọa
độ hiện trạng phần đất đang sử dụng; không xác định phần đất đó phải diện
tích 25,79m² đã được chỉnh lý tại Giấy CNQSDĐ hay nằm tại góc nhà ông H. Phần
“Ý kiến của quan đăng đất đai” trong đơn cũng chưa được ghi nhận; hồ
chưa được cơ quan đăng ký đất đai chấp thuận, chỉnh lý hoặc cấp đổi Giấy
CNQSDĐ.
Sau khi kiểm tra hồ sơ, ngày 12/7/2023, Chi nhánh Văn phòng Đăng đất
đai thành phố L1 ban hành Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, ghi rõ: “Chủ sử
dụng không xác định được vị trí, chủ sdụng yêu cầu đo đạc in giấy chứng nhận
mới”. Vì vậy, xác nhận chung của U không đủ giá trị chứng minh vị trí pháp lý của
phần đất còn lại, trong khi quan đăng đất đai xác định chính chủ sử dụng
không xác định được vị trí đất trên thực địa.
[5] Tại Biên bản hòa giải ngày 31/8/2023 của U, ông Nguyễn Văn P
người đại diện theo ủy quyền của ông Vu L trình bày diện tích còn lại theo Giấy
CNQSDĐ 25,79m²; phần đất thể hiện trên bản đồ thửa đất số 720, khi đo đạc
để cấp đổi Giấy CNQSDĐ diện tích khoảng 11,5m² cho rằng phần đất này
đang do ông H sử dụng.
Đây chỉ là lời trình bày của người đại diện nguyên đơn. Biên bản hòa giải
không thể hiện Hội đồng hòa giải hoặc công chức địa chính đã kiểm tra, kết luận
thửa đất số 720 được hình thành từ phần diện tích còn lại của thửa đất số 123; cũng
không tài liệu kỹ thuật kèm theo xác định vị trí, ranh giới tọa đphần đất.
Khi khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu trả 11,5m², đến phiên tòa thẩm lại chỉ yêu
cầu trả 2,3m² tại góc nhà ông H. Việc thay đổi yêu cầu thuộc quyền tự định đoạt
của đương sự, nhưng không phải căn cứ chứng minh phần đất 2,3m² thuộc
quyền sử dụng của nguyên đơn.
6
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và bản vẽ đo đạc trong vụ án chỉ thể hiện
hiện trạng và ranh giới theo sự chỉ dẫn của các đương sự, không phải là tài liệu xác
định ranh giới pháp lý. Việc nguyên đơn tự chỉ dẫn vị trí đất khi đo đạc không làm
phát sinh quyền sử dụng đất.
[6] Theo Công văn số 3845/VPĐKĐĐ ngày 29/7/2026 của Văn phòng Đăng
đất đai tỉnh L1, hồ địa chính thể hiện ông Phạm Thạnh T và bà Phạm Kim C
thực hiện thủ tục hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất được cấp Giấy
CNQSDĐ số BK 285804 ngày 16/8/2012 đối với thửa đất số 676, tờ bản đồ số 02,
diện tích 236,40 m². Thông tin pháp lý của thửa đất số 676 được xác định theo ranh
giới, hình thể, kích thước và diện tích thể hiện tại Giấy CNQSDĐ, hồ kỹ thuật
thửa đất hồ cấp Giấy CNQSDĐ; sau đó được chuyển nhượng, đăng biến
động cho ông H, Đ.
Qua đối chiếu Giấy CNQSDĐ, hồ kỹ thuật thửa đất số 676 và hồ địa
chính, phần diện tích 2,3 không được thể hiện một phần diện tích độc lập
ranh giới, vị trí hoặc tọa độ; không tài liệu pháp xác định phần đất này thuộc
thửa đất số 676 hoặc thửa đất số 720. vậy, Văn phòng L1 không căn cứ xác
định, xác nhận vị trí và thửa đất có phần diện tích 2,3m².
Công văn còn xác định bản đồ địa chính sổ mục kê năm 2009 có thể hiện
thửa đất số 720, nhưng hồ đang lưu trữ không hồ đăng biến động, hồ
kỹ thuật hoặc tài liệu pháp thể hiện thửa đất số 720 được hình thành từ phần
diện tích còn lại của thửa đất số 123; cũng không tài liệu xác lập mối liên hệ
giữa thửa đất số 720 với phần diện tích 2,3m². Việc thửa đất số 720 được thể hin
trên bản đồ địa chính sổ mục không đcăn cứ kết luận về nguồn gốc hình
thành hoặc xác lập quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Kết quả đối chiếu bản vẽ
còn thể hiện phần đất 2,3m² tại góc nhà ông H không thuộc thửa đất số 720.
Việc quan đăng đất đai không xác định được phần đất 2,3m² thuộc
thửa đất số 676 hay thửa đất số 720 không đương nhiên xác lập quyền sử dụng đất
cho bị đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn người yêu cầu trả đất nên phải chứng minh
phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Các tài liệu trong
hồ chỉ chứng minh nguyên đơn còn quyền sử dụng 25,79m² đất, không chứng
minh phần đất 2,3m² tại góc nhà ông H nằm trong diện tích đó.
[7] Tại phiên tòa thẩm, ông H người đại diện theo ủy quyền của ông
Hiệp đồng Ý tháo dỡ mái che, trả phần diện tích 2,3m² tại vị trí vỉa hè. Tuy nhiên,
phần đất ông Hiệp đồng Ý trả không phải phần đất 2,3m² tại góc nhà nguyên
đơn yêu cầu theo bản vẽ đo đạc. Các bên chỉ thống nhất về số liệu diện tích, không
thống nhất về vị trí, ranh giới và đối tượng tranh chấp.
vậy, lời trình bày của ông H không phải sự thừa nhận phần đất tại góc
nhà thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn, cũng không phải sự thỏa thuận của
các đương sự về việc giải quyết vụ án. Tòa án cấp thẩm chưa làm sự khác
nhau về vị trí đất nhưng căn cứ vào lời đồng ý của ông H để chấp nhận yêu cầu
khởi kiện là chưa phù hợp với ý chí của bị đơn và tài liệu, chứng cứ của vụ án.
[8] Tại cấp phúc thẩm, hồ sơ thu hồi đất, hồ kỹ thuật thửa đất, Đơn đăng
biến động Công văn số 3845/VPĐKĐĐ đã được thu thập, bổ sung. Các tài
7
liệu này đủ căn cứ xác định nguyên đơn không chứng minh được phần đất 2,3m²
tại vị trí yêu cầu thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình.
Hội đồng xét xử không xem xét tính hợp pháp của các giao dịch chuyển
nhượng đối với thửa đất s676. Việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện không
làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của những người đã tham gia chuỗi chuyển nhượng
không ảnh hưởng đến hiệu lực Giấy CNQSDĐ đã cấp. Do đó, không cần thiết
đưa những người chuyển nhượng trước đây vào tham gia tố tụng.
Từ những chứng cứ và nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Huỳnh Văn H Nguyễn Mỹ Đ; sửa bản án sơ thẩm, không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vu L và bà Ngô Tuyết N về việc buộc ông H,
Đ tháo dỡ công trình, trả lại phần đất có diện tích 2,3m².
[9] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên
được chấp nhận.
[10] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông
L, N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá theo quy
định tại các điều 157 và 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chi p xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá tại cấp sơ thẩm:
23.252.000 đồng, ông L và bà N phải chịu (đã nộp xong).
Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm: 5.730.000 đồng, tại
phiên tòa phúc thẩm bà Đ là người đại diện theo ủy quyền của ông H xác định ông
H tự chịu (đã nộp xong).
[11] Về án phí dân sự:
- Án phí thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, ông L N
phải chịu 300.000 đồng. Nhưng do ông L N người cao tuổi đơn xin
miễn án phí, nên được xét miễn.
- Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông H, bà Đ được chấp nhận nên ông H,
Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[12] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; khoản 1 Điều 148; các Điều 91, 157,
165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Mỹ Đ.
8
Sửa bản án dân sự thẩm số: 212/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Cà Mau).
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vu L Ngô Tuyết N về
việc yêu cầu ông Huỳnh Văn H Nguyễn Mỹ Đ tháo dỡ công trình, trả lại
phần đất diện tích 2,3m² tọa lạc tại Khóm F, Phường A, thành phố C, tỉnh
Mau.
2. Về chi phí tố tụng:
- Chi phí xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá tại cấp sơ thẩm: 23.252.000
đồng, ông Vu L và bà Ngô Tuyết N phải chịu (đã nộp xong).
- Chi phí thẩm định, đo đạc tại cấp phúc thẩm: 5.730.000 đồng, ông Huỳnh
Văn H tự chịu (đã nộp xong).
3. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Ông Vu L và bà Ngô Tuyết N được miễn.
- Án phí phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn H Nguyễn Mỹ Đ không phải
chịu, ngày 11/7/2025 ông Huỳnh Văn HNguyễn Mỹ Đ mỗi người đã dự nộp
300.000 đồng, theo biên lai số 0011629 0011630 của Thi hành án dân stỉnh
Cà Mau, được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lê Phan Công Trí Ninh Quang Thế
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất