Bản án số 217/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 217/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 217/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 217/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi di sản thừa kế; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 217/2026/DS-PT Bản án số 217/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/DS-PT Bản án số 217/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 217/2026/DS-PT
Ngày: 13- 8 - 2026
V/v tranh chấp kiện đòi di sản thừa
kế; yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ về tài sản do người
chết để lại
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuyến, bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư phiên toà: Triệu Mùi Nái - Thư Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Đỗ Thu
Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng,
xét xử phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số 66/2026/TLPT-DS ngày 11
tháng 5 năm 2026 về tranh chấp kiện đòi di sản thừa kế; yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vtài sản do người chết để
lại; do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số 183/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 6 năm 2026, Quyết
định hoãn phiên tòa số 287/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 7 năm 2026, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; số CCCD:
************; nơi đăng thường trú: Tổ dân phố (TDP) P, phường B, thành
phố Hải Phòng; nơi ở: TDP C, phường M, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1964; số CCCD: ************;
địa chỉ: TDP P, phường B, thành phố Hải Phòng; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Chị Nguyễn
Thị B, sinh năm 1990; số CCCD: ************ và anh Hoàng Quý P, sinh năm
1986; số CCCD: ************; địa chỉ: TDP P, phường B, thành phố Hải Phòng;
có mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
4.1. Bà Thị M, sinh năm 1965; số CCCD: ************; địa chỉ: TDP
P, phường B, thành phố Hải Phòng; có mặt.
4.2. y ban nhân dân phường B, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo
pháp luật: Chủ tịch UBND phường; vắng mặt.
4.3. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1960; số CCCD: ************, địa
chỉ: Thôn H, phường A, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt ủy quyền cho anh C tham gia
tố tụng.
4.4. Hoàng Thị H, sinh năm 1965; số CCCD: ************; địa chỉ:
TDP P, phường B, thành phố Hải Phòng;
4.5. Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1984; số CCCD: ************; địa chỉ:
TDP V, phường H, thành phố Hải Phòng;
5. Người bảo vquyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Hoàng Văn D
người có quyền lợi liên quan Hoàng Quý P, Nguyễn Thị BLê Thị M: Luật sư
Nguyễn Văn T, Đinh Hữu C1, Đinh Phú M1, Nguyễn Văn D1 - Công ty L, Đoàn
luật sư thành phố H; có mặt Luật sư T và Luật sư C1.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Văn C; bđơn Hoàng Văn D;
người có quyền lợi liên quan Nguyễn Thị B, Hoàng Quý P và Lê Thị M.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Nguyễn Văn C trình bày:
Bố mẹ anh C ông Nguyễn Văn B1 Hoàng Thị T1 chỉ sinh được
một mình anh. Sau khi sinh anh C khoảng 9 tháng, ông B1T1 ly thân (chưa
ly hôn), bà T1 đưa anh C về ở nhờ nhà cụ Hoàng Đình T2 (Hoàng Văn T3) và cụ
Cao Thị D2 (là ông ngoại anh C). Cụ T3, cụ D2 có thửa đất rộng, sau đó tách
cho ông D (là con trai cụ T3 cụ D2) ½ diện tích, ½ diện tích còn lại hai cụ
sau đó thì cho ông Hoàng Minh T4 (là con trai cụ T3 và cụ D2, ông T4 đã chết
năm 2020). Thửa đất của ông D được cụ T3, cụ D2 cho có lối đi vào thuộc cạnh
phía Bắc của thửa đất. Sau khi về với bố mẹ, T1 mua thửa đất của cụ N
tiếp giáp với đất cụ T3 nhưng mẹ con anh C vẫn nhờ nhà cụ T3, cụ D2. Thửa
đất T1 mua của cụ N gồm 02 thửa thửa đất số 2272 (đất ở) thửa đất số
2270 ất ao). T1 đã dành một phần đất giữa 2 thửa để làm lối đi vào đất cụ
T3. Khi đó, thửa đất số 2270 có diện tích 176 m
2
thửa đất số 2272 có diện tích
286 m
2
, đều thuộc tờ bản đồ s 15, xã T, thị K, tỉnh Hải Dương. Ngày
12/4/2004, T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối
với hai thửa đất.
Năm 2007 ông D tự ý san lấp xây nhà 2 tầng trên thửa đất số 2270 (đất
ao). Khi đó mcon anh C phản đối nhưng không ngăn cản được. Do không
hiểu biết pháp luật nên mẹ con anh C không trình báo UBND và không khởi
kiện ra Tòa án.
3
Từ đầu năm 2008, anh C đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng mới về. Anh C
người trực tiếp quản GCNQSDĐ của gia đình. Năm 2012, T1 báo cho anh
C biết sđi lấy chồng, nên anh C không thường xuyên về quê và cũng không liên
lạc với bà T1. Cuối năm 2019, anh C về quê mới biết là bà T1 chết từ năm 2018.
Giữa anh và bà T1 không có mâu thuẫn gì.
Anh C nghe người hàng xóm kể lại: Bà T1 lấy chồng thứ hai được khoảng
2 năm thì lại về qở. Cuối năm 2017, T1 đã xây nhà trên thửa đất số 2272
(đất ở) khi đó bà T1 đã được nhiều người, họ hàng cho thêm tiền để xây nhà. Đây
là nhà của bà T1, không phải nhà của ai khác.
Cũng năm 2017 bà T1 bị bệnh ung thư vú, được hàng xóm, họ hàng nhiều
người cho tiền đi chữa bệnh. Anh C được biết quá trình bà T1 bị bệnh, chị B (vợ
anh P) đưa bà T1 đi viện. tình cảm nên anh C định tách thửa đất số 2270
diện tích 176 m
2
cho vợ chồng anh P. Do đó, anh C đã làm thủ tục khai nhận thừa
kế với 2 thửa đất trên. Qtrình làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ mới để tách tặng
cho vợ chồng anh P thì ông D gửi đơn khiếu nại đến Văn phòng Đăng ký đất đai
tỉnh H.
Tại buổi hòa giải ngày 02/3/2023 do UBND phường T tổ chức, anh C đồng
ý tách sang tên thửa đất số 2270 diện tích 176 m
2
cho anh P, ông D chị B đều
đồng ý vào biên bản hòa giải. Do T1 chết không để lại di chúc. Cụ D2
ông B1 đều có văn bản từ chối nhận di sản của bà T1. Ngày 25/5/2023, anh C lập
văn bản khai nhận di sản thừa kế do T1 để lại quyền sử dụng thửa đất số
2270 và 2272, tờ bản đồ số 15, địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương,
diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 2270 176 m
2
, là đất
ao; diện tích thửa 2272 286 m
2
là đất ở. Ngày 06/6/2023, Văn phòng Đăng ký
đất đai thị K đã xác nhận biến động chủ sử dụng đất sang tên anh C tại
GCNQSDĐ. Anh C đã làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất thửa 2270 từ
đất ao thành đất trồng cây lâu năm. Khi anh C làm thủ tục xin cấp đổi GCNQDĐ
mới thì ông D gửi đơn lên Sở T11 tỉnh yêu cầu dừng giải quyết hồ sơ của anh để
không ra được sổ mới. Anh C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung
sau:
- Buộc ông D dỡ bỏ toàn bộ công trình nhà ở, sân mái tôn đã xây dựng
trên đất trả lại toàn bộ phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 176 m
2
thuộc
thửa đất số 2270, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện K, nay là TDP P,
phường B, thành phố Hải Phòng.
- Buộc ông D và anh P tháo dỡ toàn bộ mái tôn khung thép, sân bê tông có
diện tích khoảng 69,2 m
2
xây dựng trái phép trên thửa đất số 2272, tờ bản đồ số
15, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, nay TDP P, phường B,
thành phố Hải Phòng.
- Buộc ông D và anh P dọn toàn bộ đồ đạc để trả lại hiện trạng cho căn nhà
mà bà T1 xây dựng trên thửa đất số 2272.
2. Bị đơn Hoàng Văn D người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị
M trình bày:
4
Cụ T3, cụ D2 sinh được 6 người con gồm: Ông Hoàng Văn H1, sinh năm
1958, đã hy sinh năm 1979; bà Hoàng Thị T5, sinh năm 1960, hiện ở: Thôn Đ, xã
B, thị K, Hải Dương; ông Hoàng Văn D (tên gọi khác Hoàng Văn C2); bà
Hoàng Thị T1, sinh năm 1968, đã chết năm 2018; ông Hoàng Văn T6 (chết khi
mới khoảng 10 tuổi); ông Hoàng Văn T7, sinh năm 1976, đã chết năm 2020.
Năm 1989, cụ T3 cụ D2 mua thửa đất số 2270 và 2272 nêu trên của cụ
N (là em con chú ruột của cụ T3, cụ N không có vợ con) với giá 2.800.000 đồng.
Khi cụ N sử dụng thửa đất này thì chưa có lối đi giữa 2 thửa đất như hiện tại
sau khi mua đất, cụ T3 mới dành ra lối đi giữa 2 thửa đất. Ông D khẳng định 2
thửa đất này là của cụ T3 và cụ D2. Ông D kết hôn với bà M năm 1984. Sau khi
kết hôn, ông trên đất của cụ T3 cụ D2, phía trong thửa đất nhà ông D đang
sử dụng mà anh C tranh chấp.
Đến năm 1990, bà T1 chồng ông B1 thôn H, T, Đ (nay TP .)
tỉnh Quảng Ninh bỏ nhau, bà T1 đã dẫn con là C mới đẻ được gần 1 tuổi trở về
nhờ nhà cụ T3, cụ D2.
Năm 2002, cụ T3, c D2 đã tặng cho v chng ông D din tích 176 m
2
đất
ao thuc thửa đất s 2270. Vợ chồng ông D đã san lấp ao tnăm 2002 đến năm
2007 thì làm nhà 2 tầng như hin ti. Thời điểm này c D2, T1anh C đều
biết không ý kiến gì, không phát sinh tranh chp, không b quan Nhà
c x pht vi phm hành chính v vic s dụng đất. Vic c T3, c D2 tng cho
v chng ông D quyn s dụng đất ch nói miệng trong gia đình, không thc hin
các th tc tng cho tại quan thẩm quyn. Hàng năm vợ chồng ông D vẫn
nộp thuế sử dụng đất của thửa 2270, 2272 nhưng không còn lưu giđược biên lai
nộp thuế.
Năm 2008, anh P lấy vợ cùng vchồng ông D. Đến năm 2017, vợ
chồng anh P, chị B y dựng nhà đT1 ra riêng trên thửa đất số 2272, tờ bản
đồ số 15, diện tích đất 286 m
2
, do cụ T3, cụ D2 cho T1 ở nhờ.
Năm 2011, anh C mâu thuẫn với T1 bỏ nhà đi không về. Thời điểm năm
2017 năm 2018 T1 m nặng rồi chết, gia đình ông D không liên lạc được
với anh C, không biết anh C đâu, chỉ biết làm Hưng Yên, anh P đã đi tìm
nhưng không tìm được anh C. Khi bà Tần C3 anh C cũng không về chịu tang. Vợ
chồng ông D và vợ chồng anh P là người trực tiếp bỏ tiền, công sức chăm sóc, lo
viện phí và lo ma cho bà T1.
Năm 2023 anh C xuất hiện và có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai
gửi UBND phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Đến thời điểm này, gia đình ông
D mới biết toàn bộ diện ch 286 m
2
đất ở thuộc thửa đất số 2272 và diện tích 176
m
2
đất ao thuộc thửa đất số 2270 đã được UBND huyện K (nay thị K) cấp
GCNQSDĐ số V 319687, số vào sổ cấp số: 1021 QSDĐ ngày 12/4/2004 cho
người sử dụng là bà T1. Ông D xác định vợ chồng ông, cD2 không biết việc bà
T1 đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất nêu trên và các anh chị
em trong gia đình không được biết, không ký bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến
việc cấp GCNQSDĐ cho T1. Việc UBND huyện K cấp GCNQDĐ cho bà T1
là trái luật, không đúng đối tượng sử dụng đất.
5
Việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông D với anh C đã được UBND
phường T tổ chức hòa giải. Theo Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày
02/3/2023 của UBND phường T đã kết luận: Anh C sẽ thực hiện các thủ tục hồ
để anh C tách, sang tên diện tích đất ao số 2270 diện tích 176 m
2
cho anh P.
Anh P và chị B đang sinh sống tại nhà mà anh P xây cho bà T1 ở trên thửa đất số
2272 thờ cúng T1. Như vậy, thể thấy việc tranh chấp đất đai giữa gia
đình ông với anh C đã được hòa giải thành. Tuy nhiên, sau khi hòa giải tranh chấp
nêu trên, anh C không thực hiện việc sang tên diện tích 176 m
2
đất ao, thửa đất s
2270 cho anh P và anh C hành vi thực hiện việc khai nhận thừa kế đối với 02
thửa đất này là không đúng.
Ông D, bà M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh C vì quyền sử dụng
đất là của bố mẹ ông D, không phải của anh C. Ông D đề nghTòa án bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của anh C hủy GCNQDĐ số V 319687, số vào scấp số:
1021 QSDĐ ngày 12/4/2004 do UBND huyện K (nay là thị xã K) cấp cho người
sử dụng là bà T1, đã được Văn phòng Đăng ký đất đai - Chi nhánh thị xã K đăng
biến động sang tên anh C. Đề nghị Tòa án bác quyền thừa kế của anh C đối
với di sản thừa kế của T1 anh C vi phạm nghĩa vụ chăm sóc T1, khi
T1 ốm, anh C không một ngày chăm sóc, khi chết anh C không về chịu tang, xây
mộ mẹ cũng không biết, không biết mộ mẹ ở đâu.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập Nguyễn Thị
B và Hoàng Quý P trình bày:
Cụ T3 và cụ D2 là chủ sử dụng toàn bộ diện tích 286 m
2
đất ở, thuộc thửa
đất số 2272 và diện tích 176 m
2
đất ao thuộc thửa đất số 2270, cả hai thửa đất đều
thuộc tờ bản đồ số 15 tại thôn P, phường T, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay TDP
P, phường B, thành phố Hải Phòng). Nguồn gốc đất này là cụ T3, cụ D2 mua của
cụ Hoàng Văn N từ trước năm 1990 với giá tiền là 2.800.000 đồng.
Đến năm 1990, bà T1 ly hôn ông B1 nên mẹ con T1 đã vnhà cụ T3, c
D2 nhờ. Cụ T3, cụ D2 cùng ông D, bà M đã cưu mang mẹ con bà T1. Đến năm
2011, anh C bỏ đi không về, không liên lạc với gia đình, bỏ mặc bà T1 bị ung thư.
Gia đình anh chị không liên lạc được, không biết anh C đâu, chỉ biết làm Hưng
Yên, anh P đã đi tìm ở Hưng Yên nhưng không tìm được anh C. Vợ chồng anh P
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chữa bệnh cho T1, mọi chi phí khám chữa
bệnh ăn uống do vợ chồng anh P vay mượn chi trả. Tổng chi phí chữa trị ốm
đau, lo đám hiếu cho T1 khoảng 400.000.000 đồng, trong đó 200.000.000
đồng T1 viết giấy vay ngày 25/9/2017 điểm chỉ, phần còn lại gồm các khoản
chi phí trước và sau ngày bà T1 viết giấy vay nợ anh chị không yêu cầu T1
xác nhận.
Năm 2017, gia đình gồm cụ D2, ông D, bà M, T1, ông T7 vợ chồng
anh chị đã họp, thống nhất giao cho vợ chồng anh là P và chị B được toàn quyền
sử dụng diện tích 286 m
2
đất ở thuộc thửa đất số 2272, tờ bản đồ số 15 tại thôn P,
T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Việc họp thống nhất cho vợ chồng anh chị s
dụng thửa đất này không có văn bản, giấy tờ mà chỉ thống nhất bằng lời nói. Sau
khi được tặng đất ở, anh chị đã mua đất đổ nền, mua nguyên vật liệu, thuê thợ xây
6
dựng nhà 01 tầng trên thửa đất 2272, mục đích để cho T1 lên ng vợ chồng
anh chị. Quá trình anh chị xây dựng không phát sinh tranh chấp, không bị quan
Nhà nước xử phạt hành chính. Tổng chi phí xây dựng công trình nhà ở trên đất là
khoảng 250.000.000 đồng. Do vậy toàn bộ đất ở và nhà ở 01 tầng chưa trát là của
vợ chồng anh chị, không phải là của anh C cho nên anh C khởi kiện buộc vợ chồng
anh chị trả lại đất là không có căn cứ.
Năm 2023, anh C đã đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai với ông
D và bà M đối với diện tích 176 m
2
đất ao, thuộc thửa đất số 2270. Vụ việc tranh
chấp của hai bên đã được UBND phường T hòa giải thành, riêng diện tích 286 m
2
đất ở, cùng tài sản trên đất thuộc thửa đất số 2272, tờ bản đồ số 15 thì vợ chồng
anh chị vẫn đang sử dụng không phát sinh tranh chấp cho nên anh C không
quyền khởi kiện bởi diện tích đất và tài sản trên đất của vợ chồng anh chị đang sử
dụng, không phải tài sản của T1 để lại. Mặt khác anh C cũng không quyền
hưởng di sản thừa kế của bà T1 để lại do anh C vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
nuôi dưỡng đối với bà T1.
Anh P, chị B đề nghị a án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh C về
việc buộc anh P ông D phải tháo dỡ mái tôn liên quan đến thửa đất số 2272,
thuộc tờ bản đồ số 15. Hủy GCNQSDĐ số V319687, số vào sổ cấp số 1021 QSDĐ
ngày 12/4/2004 đã được UBND huyện K, tỉnh Hải Dương cấp cho người sử dụng
T1, đã được Văn phòng Đăng đất đai - Chi nhánh thị K, tỉnh Hải
Dương đăng ký biển động sang tên anh C. Yêu cầu anh C phải trả cho anh chị số
tiền 400.000.000 đồng T1 vay anh chị trước khi chết chi phí khám chữa
bệnh, đám hiếu, xây mộ... cho bà T1.
4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn B1 trình bày: Thửa
đất số 2270 và 2272 tài sản hợp pháp của T1. Ông B1 tự nguyện từ chối
nhận di sản thừa kế của T1 đồng ý để anh C được toàn quyền hưởng thừa
kế, thực hiện quyền nghĩa vụ đối với 2 thửa đất nêu trên. Ông B1 y quyền cho
anh C thay mặt ông tham gia tố tụng trình bày ý kiến, tranh luận và ký kết các văn
bản liên quan tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của gia đình. Ông B1 xin
vắng mặt tại các buổi xét xử của Tòa án.
5. Kết quả xác minh tại phường B:
5.1. Đối với diện tích đất đang tranh chấp:
- Theo Sổ mục lập năm 1987 Bản đồ 299 đo vẽ năm 1985 đến năm
1987, thửa đất số 2270 2272 theo GCNQSDĐ số V319687 ngày 12/4/2004 nêu
trên thửa đất số 347, tờ bản đồ số 8, diện tích 544 m
2
, tên chủ sử dụng Hoàng
Văn N, loại đất T (đất ở).
- Theo Sổ mục lập năm 1991 Bản đồ tọa độ đo năm 1991 gồm thửa
đất số 2270, tờ bản đồ số 15, diện tích 168 m
2
, loại đất Ao và thửa 2272, tờ bản
đồ số 15, diện tích 360 m
2
, loại đất T (đất ở), tên chủ sử dụng Hoàng Thị T1.
- Theo Bản đồ hiện trạng đo vẽ năm 2010, thửa đất số 2270 nêu trên thửa
đất số 15, tờ bản đồ số 45, diện tích 178 m
2
, loại đất NTS (Nuôi trồng thủy sản);
7
thửa 2272 là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45, diện tích 280 m
2
, loại đất ONT (đất
ở nông thôn), tên chủ sử dụng của cả 2 thửa đất là Hoàng Thị T1.
- Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, thửa đất số 15, tờ bản đồ số 45, diện
tích 178 m
2
, loại đất NTS (Nuôi trồng thủy sản) có chỉnh lý như sau: thửa đất số
15, tờ bản đồ số 82, diện tích 172,1 m
2
, loại đất NTS; thửa đất số 16, tờ bản đồ số
82, diện tích 295,5 m
2
, loại đất ODT (đất ở đô thị), tên chủ sử dụng của cả 2 thửa
đất là bà Hoàng Thị T1.
- Theo bản đồ đo vhiện trạng năm 2010, được chỉnh sau sáp nhập địa
giới hành chính thể hiện, trên thửa đất số 15 (đất Ao) có diện tích xây dựng 53,7
m
2
; trên thửa đất số 16 có diện tích xây dựng nhưng không thể hiện diện tích xây
dựng. Giữa 2 thửa đất có lối đi (theo bản đồ đo vẽ năm 1991 chưa lối đi giữa
2 thửa đất).
- UBND phường B cung cấp cho Tòa án trích đo bản đồ và sổ mục kê qua
các thời kỳ như nêu trên. Ngoài ra không có hồ sơ, tài liệu nào khác thể hiện việc
chuyển quyền sử dụng đất từ cụ Hoàng Văn N sang tên bà Hoàng Thị T1, cũng
như từ cụ Hoàng Văn N sang tên cụ Hoàng Đình T2 và cụ Cao Thị D2, cũng như
không thấy hồ sơ hồ sơ cấp GCNQS số V319687 ngày 12/4/2004 đứng tên
Hoàng Thị T1.
- Thửa đất số 15 (đất Ao), trên đất ông Hoàng Văn D xây nhà 2 tầng. Việc
ông D xây nhà trên đất ao trái phép, không đúng mục đích sử dụng đất. Qua
kiểm tra hồ sơ, không thông tin xử phạt hành chính việc xây dựng nhà của ông
Hoàng Văn D trên thửa đất ao. Sau này nếu Nhà nước yêu cầu, thì buộc chủ sở
hữu phải khắc phục hậu quả, trả lại mục đích sử dụng đất theo quy định.
5.2. Đối với đất ở của cụ T2 và cụ D2:
- Theo Sổ mục lập năm 1987 Bản đồ 299 đo vẽ năm 1985 đến năm
1987, thửa đất s343, tờ bản đồ số 8, diện tích 595 m
2
, tên chủ sử dụng Hoàng
Văn T3, loại đất T (đất ở).
- Theo Sổ mục kê lập năm 1991 và Bản đồ tọa độ đo năm 1991 thì thửa đất
số 343 nêu trên được tách làm 3 thửa: Thửa 2271, diện tích 200 m
2
, đất Ao, tên
chủ sử dụng đất cụ Hoàng Văn T3; Thửa 2273, diện tích 310 m
2
, loại đất T (đất
ở), tên chủ sử dụng đất cụ Hoàng Văn T3 và Thửa 2274, diện tích 332 m
2
, đất ở,
tên chủ sử dụng đất ông Hoàng Văn C2.
6. Kết quả xác minh với Tổ trưởng T12:
Việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất phi nông nghiệp (đất ở) của thửa đất
mang tên bà Hoàng Thị T1, khi còn sống do bà T1 nộp, sau khi bà T1 chết thì do
chị Nguyễn Thị B nộp, mỗi năm thu thuế đất 1 lần, thường thu vào đầu năm. Khi
thu phiếu thu, ông chlưu phiếu thu năm 2025, thể hiện người nộp thuế: Hoàng
Thị T1, số thuế 8204497560, số thuế phải nộp năm 2025 137.280 đồng,
người nộp: Nguyễn Thị B. Tổ dân phố chỉ thu hộ, sau đó nộp thuế đã thu về Ủy
ban. Còn đối với đất vườn đất nông nghiệp thì không phải nộp thuế không
có thông báo nộp của Ủy ban.
8
7. Tại Kết luận giám định số 85/KL-KTHS ngày 12/3/2026, V - Bộ C5 kết
luận:
- 01 dấu vân tay in mục "Người vay tiền", dưới dòng chữ "Hoàng Thị T1"
tại cuối trang trong Giấy vay tiền đngày 25/9/2017, đứng tên Hoàng Thị T1, sinh
năm: 1969, quê quán: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương với 01 dấu vân tay
in ở ô "cái phải" trong chỉ bản, ghi tên: Hoàng Thị T1, sinh ngày 10/02/1969, nơi
ĐKHKTT: Thất Hùng, Kinh M2, Hải Dương gi giám định của cùng một
người.
- Không giám định được tuổi mực của dấu vân tay in mục "Người vay
tiền", dưới dòng chữ "Hoàng Thị T1" tại cuối trang trong Giấy vay tiền đề ngày
25/9/2017, đứng tên Hoàng Thị T1, sinh năm: 1969, quê quán: Thôn P, T,
huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Từ chối giám định tuổi mực ca chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền.
8. Lời khai của những người làm chứng:
8.1. Ông Hoàng Trung T8 trình bày: Ông T8 là cháu ruột của cụ N, là anh
họ ông D bà T1. Trước đây ông T8 cạnh đất của cN. Năm 1993 ông T8 bán
mảnh đất của ông cho em gái là Hoàng Thị H nhưng ông vẫn ở cùng xóm cụ T3.
T1 đi lấy chồng nhưng vợ chồng trục trặc, bà T1 cùng anh C về ở cùng cT3,
cụ D2. Ông T8 nghe bố mẹ đẻ nói chuyền cụ N bán đất cho cụ T3, cụ D2
còn ông không chứng kiến việc họ trao đổi thỏa thuận mua bán, không biết giá
bán là bao nhiêu và hình thức thanh toán như thế nào. Bố mẹ ông T8 đều đã chết
từ năm 1996, 1997. Ông T8 cũng không biết cụ T3, cụ D2 đã được cấp
GCNQSDĐ chưa, cũng không biết được cụ T3, cụ D2 thực hiện nghĩa vụ của
người sử dụng đất với Nhà nước như thế nào. Ông T8 cũng không biết ông D san
lấp ao, xây nhà đang ở, cũng không biết thửa 2270 thửa 2272 ở chỗ nào và là
của ai. Ông T8 biết T1 bị ốm nặng sau đó chết cách đây khoảng 7 năm. Ông
không tham gia chăm sóc T1 ốm, đó chỉ ông D (tên thường gọi là ông C2)
và người nhà ông D chăm sóc bà T1 lúc ốm đau. Anh P, chị B xây nhà một tầng,
hiện chưa trát, trên đất trước của cụ N, T1 nhà này hay không ông T8
không nắm được. Địa điểm ông cung cấp nội dung khai trong Biên bản xác minh
ngày 08/8/2025 do Luật Đinh Hữu C1 ghi biên bản tại nhà ông D. một
số nội dung luật tghi vào biên bản như số thửa đất, diện tích đất hay nội dung
khi anh P xây nhà T1 không tranh chấp, khiếu nại gì. Ông T8 khẳng định nội
dung cung cấp cho Tòa án là đúng.
8.2. Ông Nguyễn Đình Đ trình bày: Ông Đ không quan hệ họ hàng với
ông D, M, anh P, chị B, bà T1, anh C. Ông chỉ là người cùng xóm, là thợ xây
nhà. Ông không biết về thửa đất 2270, 2272, diện tích bao nhiêu, ông cũng
không cung cấp nội dung này cho Luật ghi trong Biên bản xác minh. Anh P,
chị B có đến hợp đồng với ông về xây nhà 01 gian thụt, 01 gian thò, đổ mái bằng,
gạch 6 lỗ, còn không nói xây cho ai. Khi ông Đ xây dựng ngôi nhà này thì bà T1
cùng cụ D2 tại nhà phía sau nhà ông xây, khi đó T1 khỏe mạnh, đi lại bình
thường. Khi ông xây nhà, nếu bà T1 phản đối việc xây nhà thì ông cũng không
xây được. Vợ chồng anh P, chB gọi vật liệu xây dựng, ông anh em thợ chỉ
9
biết xây. Ông chỉ biết anh P, chị B thuê (thỏa thuận bằng lời nói, không văn
bản hợp đồng xây nhà) thì ông xây còn cụ thể nhà của ai thì ông không nắm rõ.
Thực tế, chị B, anh P trả tiền công cho ông, đơn giá 900.000 đồng/m
2
mặt mái,
nhà 63 m
2
, đã thanh toán xong, không còn nợ gì, ông cũng không ghi chép sổ
sách. Nhà xây từ tháng 2 đến tháng 7/2017 thì đổ mái. Nhà mới chỉ láng nền
tông, chưa trát. Anh P, chị B bảo kinh phí hạn nên dừng lại chủ yếu để hành
tỏi nên không làm tiếp. Ông T8 khẳng định nội dung ông khai tại Tòa là đúng
8.3. Ông Cao Văn C4 trình bày: Ông C4 họ hàng với cụ D2, gọi T1
là cô họ. Ông C4 làm kinh doanh vật liệu xây dựng. Năm 2017, anh P, chị B đến
mua vật liệu xây dựng gồm xi măng, sắt thép, gạch xây 6 lỗ, cát, đá. Anh P, chị B
nói mua vật liệu để xây nhà cho bà T1 tạm vì T1 không có nhà. Tổng số
tiền mua vật liệu khoảng 200 triệu đồng, chị B, anh P thanh toán. Khi bán vật liệu,
ông C4 có ghi phiếu nhưng do bên mua đã thanh toán xong nên ông đã hủy bỏ.
8.4. Ông Hoàng Trung K trình bày: Ông K là cháu ruột cụ N, ông ông
T8 anh em ruột. T1 đi lấy chồng, vợ chồng trục trặc, khoảng năm 1990
T1 cùng anh C về cùng cụ T3, cụ D2. T1 làm nông nghiệp, thường nhà.
Vào năm 1989, cụ N bán đất cho cụ T3, cụ D2 toàn bộ thửa đất giáp với đất của
cụ T3 đang ở. Ông không chứng kiến khi họ thỏa thuận mua bán, ông chỉ nghe bố
mẹ ông kể lại, ông cũng không biết giá bán bao nhiêu, hình thức thanh toán
như thế nào.
8.5. Ông Nguyễn Đình S trình bày: Ông S không họ hàng với nhà cụ T3,
cụ D2, chỉ hàng xóm và Trưởng thôn từ tháng 10/1989, đến tháng 4/1990.
Ngày đó, cụ T3 mời ông ra làm chứng việc mua bán đất giữa cụ N cụ T3. Hai
bên mua bán không làm giấy tờ gì, ông không chứng kiến việc trả tiền, ông chỉ
làm chứng họ nói với nhau về việc mua bán đất, vì họ là họ hàng. Sau khi cụ T3,
cụ N mua bán đất thì họ không làm các thủ tục sang tên tại quan thẩm quyền.
Khoảng năm 1991, đội đo lưới tọa đcủa Sở Nông nghiệp tỉnh vđo, khi dẫn đạc
thì ông S người dẫn đi, đến thửa đất nhà nào thì địa chính gọi chủ nhà gọi
hàng xóm ra để xác định mốc, xác định xong thì đoàn đo. Ông không biết thửa
đất ông D, M xây nhà 2 tầng đang là đất của ai. Khoảng năm 2002 ông
biết ông D chở đất về lấp ao, sau này xây lên nhà 2 tầng hiện đang ở, đây là một
phần đất của cụ N trước đây. Nhà 01 tầng anh P, chị B cho rằng anh chị đã
xây dựng ông cũng chỉ biết thửa đất này đất của cụ N trước đây. Ông Hoàng
Văn D, tên thường gọi ông Hoàng Văn C2 lấp ao, xây nhà trên đó thì ông không
thấy ông Dự bị xử phạt hành chính về việc xây dựng này.
8.6. Hoàng Thị T5 trình bày: con cụ T3, cụ D2, chị gái ông
Hoàng Văn D (tên gọi khác Hoàng Văn C2), chị gái của bà Hoàng Thị T1.
Năm 1989 bố mẹ bà mua thửa đất (hiện anh C và ông D tranh chấp) của cụ N.
cũng không nhớ cụ thể bố mẹ mua bán thế nào. đi lấy chồng từ năm
1983 nên thời điểm đó không cùng bố mẹ bà nên bà không biết. Khi bố mẹ
bà còn sống không nói gì về thừa kế tài sản. Bố mẹ bà chết không để lại di chúc.
Trước khi chết thì mẹ dặn để lại đất cho vợ chồng chị B, anh T9 (tên gọi
khác là P) thửa đất đang có tranh chấp này, ông D vẫn được ở nhà 2 tầng trên đất
10
ao như hiện nay. Khi còn sống, cụ D2, cụ T3 không nói gì việc cho bà T1 đất, mẹ
chỉ nói để cho vợ chồng cháu B, P. Họp gia đình, chỉ nói miệng, không
ghi biên bản, hôm đó họp bà, vợ chồng ông D, M, vợ chồng chị B, ông
T7, nội dung thống nhất cho mảnh đất mua của cụ N cho anh P, chị B. T1 bị
bệnh và mất năm 2018, anh C bỏ nhà đi từ khoảng năm 2011, đến gần đây mới
thấy xuất hiện để kiện đòi đất. Nên bà T1 ốm anh C không chăm sóc. Bà T1 chưa
bao giờ xây nhà vì ở chung với mẹ đẻ bà. Bà T1 biết chữ, đã học hết lớp 7. Năm
2017, bà không nhớ ngày tháng, thì bà T1 có hỏi vay anh P, chị B 200 triệu đồng
để đi chữa bệnh. Bà chứng kiến chị B giao tiền cho T1, số tiền 200 triệu đồng,
T1 đếm tiền tại đó, nhận đủ tiền. Ông H2 người viết giấy vay tiền này,
các bên ký vào. Bà không nhớ đặc điểm tiền như thế nào. Bà T1 có ký vào Giấy
vay tiền. Bà T1 khi đó vẫn minh mẫn, khỏe mạnh, vẫn đi lại được.
8.7. Ông Hoàng Văn H2 trình bày: Ông H2 họ hàng với cụ T3, cụ D2.
Khi chB, anh P cho T1 vay tiền có mời ông H2 sang chứng kiến. Hôm đó, tại
nhà cụ D2, thì bà T1 hỏi vay tiền anh P, chị B số tiền vay 200 triệu đồng, ông H2
là người viết giấy hộ ký làm chứng, anh P, chị B giao luôn bằng tiền mặt cho
bà Tần số tiền 200 triệu đồng, bà T1 đếm tiền và đã nhận đủ. Ông H2 nghĩ bà T1
vào giấy vay. Mục đích T1 vay anh P, chị B 200 triệu đồng để đi chữa
bệnh. Ông không nhớ đặc điểm tiền như thế nào. Khi T1 vay tiền tT1 vẫn
minh mẫn, khỏe mạnh, vẫn đi lại được.
8.8. Hoàng Thị H trình bày: Bố bà H với cụ T3 là anh em con chú con
bác. Đất nhà bà H một phần cạnh Đông Bắc giáp giáp đất nhà cụ T3, cụ T3 đã
chia cho ông D và ông T7 mỗi người một nửa. Bà không nhớ chính xác năm nào,
nhưng trước năm 1990 thì bà T1 lấy chồng là ông B1 Đ, Quảng Ninh. Khoảng
năm 1990 thì bà T1 bế con là anh C về sinh sống cùng bố mẹ đẻ là cụ T3, cụ D2.
Khoảng năm 1990 thì bà T1 mua thửa đất này cụ Hoàng Văn N, với số tiền
1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng), bà biết được là do bà T1 kể với
bà, trong số tiền 1.800.000 đồng này cả cụ T3 cụ D2 cho T1 tiền để
mua, không được chứng kiến cụ N T1 thỏa thuận mua bán thế nào hay
viết giấy chuyển nhượng đất hay không. Cụ N bán đất cho T1 chứ không
phải bán đất cho cụ T3, cụ D2. Khi cụ N bán cho T1 thì xung quanh thửa đất
này không có tường bao mà chỉ cây dứa, cây vông làm ranh giới với các thửa
đất khác. Cụ N vợ nhưng không con, vợ cụ N ly hôn với cụ N nhiều năm
trước khi cụ N chuyển nhượng đất cho T1. Đất của cụ N một mảnh đất rộng,
có cạnh tây Nam giáp đường xóm, một cạnh giáp nhà ông Hoàng Trung T8 (hiện
đang ở, mua của ông T8 anh trai từ năm 2000, bà trên đất này từ
2001 đến nay; trước đây ở trong làng, cách khoảng 500m), một cạnh giáp đất
nhà cụ T3, cụ D2, một cạnh giáp đất nhà bà T10 (hiện con trai T10 anh P1
ở). Trong thửa đất này một phần A, giáp nT10, hiện ông C2 (tên gọi
khác ông D) đã xây nhà 2 tầng ở trên đó. Đất của T1 trước đây một mảnh,
sau đó bà T1 dành 1 lối đi ở giữa vườn giáp với A mà ông D xây nhà để cho ông
Hoàng Văn T7 sử dụng làm lối đi ra ngoài đường xóm. Đất của cụ T3, cụ D2
trước đây lối đi cạnh phía bắc của thửa đất, sau này cụ T3 cho ông C2 một
11
nửa đất thuộc phía bắc của thửa đất, cho ông T7 một nửa thửa đất giáp phía đất
nhà bà T1 mua của cụ N.
T1anh C ở chung với cụ T3, cụ D2. Khi anh C đang học cấp 3 (lớp
12), thì nghỉ học đi làm Hưng Yên. Những năm đầu thỉnh thoảng anh C về
nhà, đi làm có tiền mua gạch chỉ đặc tích dần để xây nhà. Nhưng đến khi bà T1 đi
theo ông thứ 2 thì anh C giận bà T1 không về nhà, cắt cả liên lạc. Bà T1 đi được
8 tháng lại quay về, không có con với ông thứ 2. Đầu năm 2017, bà T1 xây nhà,
T1 chỉ 6.000.000 đồng, lúc đó T1 bị bệnh, thì bảo sao không đi
chữa bệnh lại xây nhà, T1 nói bà xây để sau này cháu C về có chỗ ở. Chị
gái bà T1 (là bà T5) cho bà T1 vay 50.000.000 đồng, ông T7 cho vay 20.000.000
đồng, cụ D2 cho T1 vay 12.000.000 đồng. Đây số tiền T1 vay để làm nhà,
bà biết được số tiền vay này là bà T1 kể, vì chị em vẫn thường xuyên nói chuyện
với nhau. T1 ốm nên đã đưa tiền cho chị B, anh P trả tiền xây nhà. Bà không
nghe thấy T1 nói về việc mượn tiền của chị B và anh P. Còn nhà xây một tầng
bằng gạch 6 lỗ chưa trát là nhà của T1, do bà xây, chưa lắp cửa, để khi nào anh
C về ở thì mới lắp cửa, bà T1 vẫn ở cùng cụ D2. Bà T1 học sau bà 4 lớp, học hết
lớp 7/10, có biết đọc, biết viết.
Khi ông D (C2) san lấp ao của T1, xây nhà thì khi đó bàn T1 đang đi
giúp việc không có nhà, lúc về ông D đã xây được một nửa tường nhà, bà T1 đòi
trả tiền là 60 triệu đồng, ông D nói chtrả 10 triệu đồng, tT1 không bán, ông
D cứ xây nhà, T1 chỉ biết khóc.
Năm 2017, T1 ốm thì chị B đưa T1 đi viện. Khi T1 chết thì tchức
lễ tang tại nhà cD2.
8.9. Thị N1 trình bày: Cụ Hoàng Văn N bán cho T1 2 thửa đất
2270 2272; Nhà mái bằng trên thửa 2272 của T1 xây; Khi Tòa án báo gọi
thì bà xin phép không tham gia vì nhiều lý do.
8.10. Ông Phạm Minh P1 trình bày: Ông xác nhận công trình xây dựng trên
thửa đất 2272 lúc Hoàng Thị T1 còn sống, xong T1 mắc bệnh không qua
khỏi nên công trình tạm ngừng thi công. Ông chỉ biết T1 thi công nhà trên
đất sổ đỏ của bà T1, còn về phần tài chính thì ông không biết. Ông không tham
gia bất cứ việc gì khác khi Tòa án mời ông tham gia.
8.11. Nguyễn Thị Q trình bày: hàng xóm của cụ T3, cụ D2, ông
D, M, T1, anh P, chị B. giáp đất nhà cụ T3. Do thời gian lâu rồi,
không nhớ chính xác năm nào, nhưng mảnh đất hiện anh C đang tranh chấp với
ông D (tên gọi khác là ông C2) nguồn gốc là của cụ N bán cho bà T1. Bà nghe cụ
N nói bán đất cho T1, còn không biết giữa cụ N T1 thỏa thuận mua
bán với nhau như thế nào. Cụ N không vợ, không con. Bán mảnh đất này
cho T1 khoảng 1 năm sau thì cụ N chết. Đặc điểm mảnh đất cụ N bán cho
T1 có một cạnh tây Nam giáp đường xóm, một cạnh giáp nhà ông Hoàng Trung
T8 (hiện H đang ở), một cạnh giáp đất ncụ T3, cụ D2 bố mẹ đẻ của
T1, một cạnh giáp nhà bà T10 (hiện con trai bà T10 là anh P1 ở). Trong thửa đất
này có một phần là A, giáp nhà bà T10. Xung quanh thửa đất này không tường
bao chỉ dứa, cây vông… làm ranh giới với các thửa đất khác. Cách đây
12
khoảng hơn 10 năm thì ông D xây nhà trên thửa đất ao T1 mua của cụ N,
hiện ông D, M đang ở. Khoảng năm 2017, T1 xây nhà mái bằng hiện vẫn
chưa trát trên thửa đất bà T1 mua của cụ N. Khi đó T1 còn phụ xách vữa xây
nhà. Do T1 không có tiền nên chỉ làm dần, chưa lắp cửa, nên chưa lên ở được.
T1 đi làm thuê với người khác để có tiền chi trả cuộc sống và xây nhà. Nhưng
đến năm 2018 thì bị ốm, nhà không hoàn thiện được, T1 bị ung thư vú, khi phát
hiện ra một thời gian ngắn thì chết. Bà biết nđó của T1 trước đó T1
nói chuyện với bà là bà xây nhà để ở, có đến đâu thì xây đến đấy. T1 biết chữ
vì bà T1 học hết lớp 7.
8.12. Nguyễn Thị U trình bày: vợ ông Hoàng Minh T4 (Ông T4
đã mất năm 2020). Vợ chồng được cụ T3, cụ D2 cho mảnh đất tại TDP P,
phường B, thành phố Hải Phòng. Vchồng bà có làm trụ cổng, cánh cổng trên lối
đi giữa 2 thửa đất 2270 và 2272, hiện giữa ông D, bà M, anh P, chị B và anh C
tranh chấp. xác định lối đi này thuộc đất của nhà bà, trụ cánh cổng do vợ
chồng bà làm, là tài sản của vợ chồng bà, không liên quan tới đất đang tranh chấp
giữa các bên nêu trên. Bà đề nghị tòa án giải quyết vụ án giữa các bên tranh chấp
nêu trên vắng mặt bà.
9. Kết quả định giá tài sản:
A. Nhà cửa, vật kiến trúc:
Phần tài sản vật, kiến trúc trên phần đất tranh chấp trên thửa đất số
2270, tờ bản đồ số 15, TDP P:
1. 01 nhà 2 tầng, trên lợp chồng nóng mái tôn thường, tường xây gạch chỉ
20cm, sàn gạch ceramic 400x400, xây dng năm 2007, diện tích xây dựng 64,2
m
2
. Giá trị còn lại là: 71.672.000 đồng.
2. 01 sân lát gạch hoa loại 400x400, xây dựng năm 2007, diện tích 4,7 m
2
.
Giá trị còn lại là: 103.000 đồng.
3. 01 mái tôn thường, xây dựng năm 2008, diện tích 4,7 m
2
. Giá trị còn lại
là: 178.000 đồng.
4. 01 mái tôn lạnh, xây dựng năm 2020, diện tích 20,8 m
2
. Giá trị còn lại
là: 7.105.000 đồng.
5. 01 mái tôn thường, xây dựng năm 2020, diện tích 15,3 m
2
. Giá trị còn lại
là: 4.064.000 đồng.
6. 01 mái tôn lạnh, xây dựng năm 2016, diện tích 31,9 m
2
. Giá trị còn lại
là: 7.783.000 đồng.
7. 01 sân tông, chiều dày 0.07m, xây dựng năm 2020, diện tích 67 m
2
Giá trị còn lại là: 1.910.000 đồng.
8. 01 trụ cống được xây gạch chỉ đỏ, xây dựng năm 2007, kích thước
0,5x0,5x2,4m (không trát). Giá trị còn lại là: 115.000 đồng.
9. 02 cánh cổng sắt, kích thước 2.5x2.5m, xây dựng năm 2015. Giá trị còn
lại là: 900.000 đồng.
13
10. 01 trụ cống được xây gạch chỉ đỏ, xây dựng năm 2009, kích thước
0,5x0,5x2,4m (trên sơn màu xanh, đỉnh trụ lợp ngói đỏ). Giá trị còn lại là: 250.000
đồng. Do bà U, ông T4 xây trên lối đi giữa 2 thửa đất 2270 và 2272.
11. 01 đoạn tường kích thước (4,8x1,1x0.1m) được xây dựng bằng gạch
chỉ, xây dựng năm 2007. Giá trị còn lại là: 1.013.000 đồng.
12. 01 hàng rào sắt dài 4.8m, cao 0.9m, xây dựng năm 2007. Giá trị còn lại
là: 237.000 đồng.
13. Các cây cối trên đất (03 cây cau, 01 cây nhót, 02 cây mai tquý, 01 cây
thiết mộc lan). Giá trị còn lại là: 1.192.000 đồng.
14. Phần giá trị san lấp: Chiều sâu san lấp 2m diện tích san lấp 172,1
m
2
. Tổng cộng là 344,2 m
3
. Giá trị còn lại là: 120.470.000 đồng
Tổng cộng: 216.992.000 (Hai trăm mười sáu triệu, chín trăm chín mươi hai
nghìn) đồng
Phần tài sản vật, kiến trúc trên phần đất tranh chấp trên thửa đất số
2272, tờ bản đồ số 15, TDP P:
1. 01 nhà mái bằng diện tích 59.3 m
2
, không trát, xây dựng năm 2018. Giá
trị còn lại là: 258.073.000 đồng.
2. 01 mái tôn lạnh, có kích thước 81.2 m
2
, xây dựng năm 2020. Giá trị còn
lại là: 27.737.000 đồng.
3. 01 mái tôn thường, xây dựng năm 2020, diện tích 13,3 m
2
. Giá trị còn lại
là: 3.528.000 đồng.
4. 01 sân bê tông, chiều dày 0.05m, xây dựng năm 2020, diện tích 165 m
2
.
Giá trị còn lại là: 9.411.000 đồng.
5. 01 đoạn tường kích thước (12,8x0,7x0.1m) được xây dựng bằng gạch
chỉ, xây dựng năm 2009. Giá trị còn lại là: 429.000 đồng.
6. 01 đoạn tường kích thước phía trên (12,71x0,8x0.1m) được xây dựng
bằng gạch chỉ, xây dựng năm 2018, giá trị còn lại là: 1.072.000 đồng, phía dưới
xây gạch pabanh (12,7x0,8x0,2m) xây dựng năm 1993. Giá trị còn lại là: 124.000
đồng.
7. 01 trụ cổng được xây gạch chỉ đỏ, xây dựng năm 2009, kích thước
0,5x0,5x2,4m (trên sơn màu xanh, đỉnh trụ lợp ngói đỏ). Giá trị còn lại là: 250.000
đồng. Do bà U, ông T4 xây trên lối đi giữa 2 thửa đất 2270 và 2272.
8. 02 cánh cống sắt, kích thước 1.8x2m, xây dựng năm 2009. Giá trị còn lại
là: 202.000 đồng. Do bà U, ông T4 xây trên lối đi giữa 2 thửa đất 2270 và 2272.
9. 01 đoạn tường xây gạch babanh (2.42x0.4x0.2m), xây dựng năm 2009.
Giá trị còn lại là: 35.000 đồng. Ông K1, H xây nhờ trên đất, thuộc đất của ai
để người đó sử dụng bà H, ông K1 không yêu cầu gì.
10. 01 đoạn tường kích thước phía trên (5,08x1x0.1m) được xây dựng
bằng gạch chỉ, xây dựng năm 2018, giá trị còn lại là: 600.000 đồng, phía dưới xây
14
gạch babanh (5,08x0.9x0.2m) xây dựng năm 2018. Giá trị còn lại là: 427.000
đồng. Ông K1, bà H xây nhờ trên đất, thuộc đất của ai để người đó sử dụng H,
ông K1 không yêu cầu gì.
11. Các cây trồng tn đất (01 cây giành giành) không trong đơn giá
thành phố Hải Phòng quy định.
12. Phần giá trị san lấp: Độ sâu san lấp 0,3m, diện tích san lấp 295,5m
3
.
Tổng là 88,65 m
3
. Giá trị còn lại là: 31.027.000 đồng.
Tổng cộng: 332.915.000đồng.
B. Tài sản khác: Không
C. Tài sản là đất:
Đất tại thửa đất số 2270, 2272 tbản đồ số 15, thuộc bộ bản đồ địa chính
phường T, thị K, tỉnh Hải Dương (nay TĐP P, phường B, thành phố Hải
Phòng) (N, khu vực 1, vị trí 1): Vị trí đất ở có giá là 9.500.000 đồng/m
2
, đất ao đã
san lấp có giá là 130.000 đồng/m
2
10. Về chi phí tố tụng: Anh C đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 16.000.000
đồng, đã chi 11.700.000 đồng. Anh C đã nộp 15.000.000 đồng tạm ứng chi phí
trưng cầu giám định, đã chi 3.000.000 đồng.
11. Văn phòng Đ cung cấp: Đơn đăng ký biến động đất đai tài sản gắn liền
với đất của anh Nguyễn Văn C; Văn bản khai nhận di sản của anh Nguyễn Văn
C, đề ngày 25/5/2023; Văn bản tchối nhận di sản thừa kế của cụ Cao Thị D2 đề
ngày 05/4/2023; Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn B1 đề
ngày 22/5/2023; Trích lục khai tử của cụ Hoàng Đình T2 (chết ngày 28/6/2005);
Trích lục khai tử của bà Hoàng Thị T1 (chết ngày 27/4/2018; Bản sao Giấy khai
sinh của anh Nguyễn Văn C; Bản cam kết (về việc khai các đồng thừa kế tài sản
của Hoàng Thị T1) của anh Nguyễn Văn C; Bản sao Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị Tần S1 V319687.
12. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2026/DS-ST ngày 30/3/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C:
- Buộc anh P chị B di dời tài sản thuộc quyền sở hữu của anh P, chị B
trong ngôi nmái bằng chưa trát cây giành giành trên thửa đất số 2272, trả lại
anh Nguyễn Văn C nhà, đất thửa số 2272, tờ bản đồ số 15, được chỉnh lý sau khi
sáp nhập địa giới hành chính thửa đất số 16, tờ bản đồ số 82, diện tích 295,5
m
2
, loại đất ODT (đất đô thị), địa chỉ thửa đất: TDP P, phường B, thành phố Hải
Phòng.
- Giao cho anh C được sở hữu, sử dụng các tài sản, vật kiến trúc mà anh P,
chị B tạo lập trên thửa đất 2272 (gồm: Mái tôn lạnh 81,2 m
2
; Mái tôn thường diện
tích 13,3 m
2
; sân bê tông diện tích 165 m
2
; 01 đoạn tường phía trên có kích thước
(12,71x0,8x0.1m); giá trị san lấp là 88,65 m
3
).
15
- Buộc anh C thanh toán trả cho anh P và chB: Giá trị còn lại của các tài
sản do anh P, chị B tạo lập trên thửa đất số 2272 72.775.000 đồng; chấp nhận
sự tự nguyện của anh C trả thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mà anh P, chị B đã
nộp thay là 768.000 đồng; trả công sức quản lý, tôn tạo di sản của anh P, chị B là
56.145.000 đồng; trả tiền do bà T1 vay 200.000.000 đồng của anh P, chị B, nhưng
trong phạm vi di sản mà bà T1 để lại (Tổng cộng là 329.688.000 đồng).
- Giao cho ông D, M được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 2270, tờ
bản đồ số 15, được chỉnh lý sau khi sáp nhập địa giới hành chính là thửa số 15, tờ
bản đồ số 82, diện tích 172,1 m
2
, loại đất NTS (Nuôi trồng thủy sản). Trên đất có
nhà tài sản gắn liền với đất do ông D, M tạo lập; địa chỉ thửa đất: TDP P,
phường B, thành phố Hải Phòng. Ông D, bà M phải chấp hành nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật đối với việc sử dụng sai mục đích sử dụng đất.
- Buộc ông D, bà M thanh toán giá trị quyền sử dụng đất thửa 2270, tờ bản
đồ số 15 (được chỉnh lý sau khi sáp nhập địa giới hành chính là thửa số 15, tờ bản
đồ số 82, diện tích 172,1 m
2
, loại đất NTS cho anh C số tiền 22.373.000 đồng.
Không chấp nhận các yêu cầu sau:
- Không Chấp nhận yêu cầu của anh C về việc buộc ông D, bà M, anh P ch
B tháo dỡ tài sản trên các thửa đất 2270, 2272 và buộc ông D, bà M trả lại quyền
sử dụng thửa đất số 2270 bằng hiện vật.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông D, bà M, anh P, chị B về yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V319687 ngày 12 tháng 4 năm 2004 mang
tên bà Hoàng Thị T1 hiện đã thay đổi tên chủ sử dụng đất sang Nguyễn Văn C.
- Không chấp nhận yêu cầu của chị B, anh P về yêu cầu anh C trả số tiền
200.000.000 đồng chi phí khám chữa bệnh, tiền lo ma, tiền xây mộ cho bà T1.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông D, bà M về bác quyền thừa kế của anh
Nguyễn Văn C đối với di sản thừa kế của bà Hoàng Thị T1 để lại.
Anh C, ông D, bà M tự liên hệ với quan có thẩm quyền để đăng ký biến
động quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, chi phí tố
tụng và quyền kháng cáo.
14. Các kháng cáo:
Ngày 08/4/2026, anh C kháng cáo: Không đồng ý giao quyền sử dụng thửa
đất số 2270 cho ông D, M; yêu cầu ông D, M tháo dỡ toàn bộ nhà ở, công
trình vật kiến trúc trên đất để trả lại đất cho anh C. Không đồng ý trả số tiền công
sức quản lý di sản và tiền vay nợ của bà T1 cho anh P, chị B; yêu cầu anh P, chị
B phải tháo dỡ toàn bộ các công trình, vật kiến trúc trên thửa đất số 2272 để trả
lại quyền sử dụng đất cho anh C
Ngày 13/4/2026, ông D, bà M, anh P, chị B kháng cáo đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh C; hủy GCNQSDĐ đã cấp cho
T1; ngoài ra ông D, bà M kháng cáo yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của anh C
16
đối với di sản của bà T1; anh P, chị B kháng cáo yêu cầu Tòa án buộc anh C phải
trả số tiền 400.000.000đồng anh chị đã chi phí chữa bệnh và lo mai táng, xây m
cho bà T1.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo nêu trên;
ngoài ra bổ sung kháng cáo không đồng ý trả lãi chậm thi hành án cho anh P, chị
B và đnghị Hội đồng xét xử xem xét việc anh P, chị B không yêu cầu trả công
sức quản bảo vệ di sản của T1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn giải quyết là
vượt quá yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo và yêu cầu độc lập, đồng thời cùng với người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp trình bày các ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đnghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ
thẩm; miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông D, bà M; buộc anh C, chị B và anh
P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các đương sự trong thời hạn luật định nên
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất s2270
2272, tbản đồ số 15, tại TDP P, phường B, thành phHải Phòng (thửa đất s2270,
2272) trước đây của cụ Hoàng Văn N (không vợ, không con). Theo Sổ mục kê lập năm
1987, thửa đất số 2270 và 2272 là thửa đất số 347, tờ bản đồ số 8, diện tích 544 m
2
, loại
đất ở, tên chủ sử dụng đất cụ Hoàng Văn N. Sổ mục kê lập năm 1991, thửa đất s347,
tờ bản đồ số 8 trên tách thành 02 thửa là thửa đất số 2270, diện tích 168 m
2
, loại đất Ao
và thửa 2272, diện tích 360 m
2
, loại đất T (đất ở), tên chủ sử dụng là bà Hoàng Thị T1.
Ông D, M, chị B, anh P cho rằng thửa đất 2270, 2272 cụ N bán cho
cụ T2, cụ D2 với giá 2.800.000 đồng nhưng không tài liệu chứng cứ chứng
minh. Những người làm chứng đều không trực tiếp chứng kiến việc chuyển
nhượng chỉ nghe người khác nói, trong đó có người làm chứng nghe nói cụ N
chuyển nhượng đất cho cụ T2, người làm chng lại nghe nói cụ N chuyển
nhượng đất cho T1. Thực tế, T1 đứng tên chủ sử dụng đất từ năm 1991,
được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ ngày 12 tháng 4 năm 2004; ngày
05/4/2023, cụ D2 Văn bản tchối nhận di sản thừa kế một phần quyền sử
dụng đất đứng tên T1 để lại thửa đất số 2270, 2272 theo GCNQSDĐ nêu
trên, điều này chứng tỏ, khi còn sống, cụ D2 đã xác định 2 thửa đất nêu trên thuộc
quyền sử dụng của bà T1.
Kết quả xác minh, khi còn sống T1 đóng thuế sử dụng đất hàng năm, sau
khi bà T1 chết năm 2018, chị B người nộp thuế đất nhưng tên người chịu thuế
vẫn T1. Biên bản hòa giải ngày 02/3/2023 tại UBND phường T thể hiện ông
17
D, chị B nhất trí để anh C làm thủ tục sang tên thửa đất ao số 2270 cho anh P,
không đề cập đến thửa đất 2272. Như vậy, ông D, bà M, chị B, anh P biết 2 thửa
đất trên của Hoàng Thị T1, không phải của cụ T2, cụ D2. Từ những pn
tích trên, cấp sơ thẩm xác định 2 thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
T1 là có căn cứ. Ông D, bà M trình bày, năm 2002 ông được cụ T2, cụ D2 tặng
cho thửa đất 2270 đất ao, ông đã san lấp đến năm 2007 thì xây nhà. Như
nhận định trên, đất thuộc quyền sử dụng của T1, nên cụ T2, cụ D2 không
quyền tặng cho đất cho người khác. Cũng không căn cứ xác định T1 tặng
cho ông D, bà M thửa đất 2270.
T1 chết ngày 27/4/2018, ông D, bà M, anh P, chị B không thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của T1. Năm 2023, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất
của T1 gồm cụ D2, ông B1 đã tchối nhận di sản để anh C khai nhận di sản
thừa kế ngày 06/6/2023, anh C được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị
xã K xác nhận anh C là chủ sử dụng đất theo hồ sơ số 000803.TK.001. Do đó, có
căn cứ xác định anh C người chủ sử dụng hợp pháp của 2 thửa đất số 2270,
2272 nêu trên. Theo bản đồ hiện trạng đo vẽ năm 2010, thửa đất số 2270 là thửa
đất số 15, tờ bản đồ số 45, sau khi sáp nhập địa giới hành chính, thửa đất số 15,
tờ bản đồ số 45, diện tích 178 m
2
, loại đất NTS (Nuôi trồng thủy sản) được chỉnh
lý là thửa đất số 15, tờ bản đồ số 82, diện tích 172,1 m
2
, loại đất NTS (Nuôi trồng
thủy sản); thửa 2272 là thửa đất số 16, tờ bản đồ số 45, diện tích 280 m
2
, loại đất
ONT (đất nông thôn), được chỉnh lý là thửa đất số 16, tbản đồ số 82, diện tích
295,5 m
2
, loại đất ODT (đất đô thị) tên chủ sử dụng của cả 2 thửa đất
Hoàng Thị T1 (nay là anh Nguyễn Văn C).
[2.2] Đối với yêu cầu của anh C buộc phía bị đơn tháo dỡ toàn bộ mái tôn
khung thép, sân bê tông xây dựng trái phép trên thửa đất số 2272, dọn toàn bộ đồ
đạc để trả lại hiện trạng như lúc ban đầu.
Tài liệu hồ sơ thể hiện nhà mái bằng trên thửa đất số 2272, được xây dựng
từ khoảng tháng 2/2017 đến khoảng tháng 7/2017 thì dừng lại, nhà chưa hoàn
thiện, chưa trát. Có người làm chứng xác định là nhà của anh P, chị B xây, anh P,
chị B là người thanh toán vật liệu, công thợ; người xác định là nhà của T1
T1 xây nhà để anh C sau này về ở. Anh P, chị B cho rằng nhà này anh chị
xây, anh chị là người bỏ tiền ra xây dựng là của anh chị, anh C không chấp nhận
cho rằng nhà này là của T1. Như phân tích ở trên, đất thuộc quyền sử dụng
đất của T1, khi đó bà T1 còn sống, không căn cứ chứng minh việc T1
cho anh P, chị B xây nhờ nhà trên đất của bà T1. Anh P, chị B ở nhà phía sau nhà
ông D hiện đang ở. Người bán vật liệu trực tiếp cho anh P chB cũng khẳng
định anh chị nói là mua vật liệu xây nhà cho bà T1. Khi đang xây dựng thì bà T1
ốm, phải dừng xây dựng, nhà chưa trát, chưa hoàn thiện được phù hợp với thực
tế. Do đó, cấp sơ thẩm xác định ngôi nhà này do bà T1 xây dựng, thuộc quyền sở
hữu của bà T1 và nay là thuộc quyền sở hữu của anh C là có căn cứ.
Sau khi bà T1 chết, anh P, chị B có làm thêm một số tài sản trên đất cụ thể:
01 mái tôn lạnh, kích thước 81,2 m
2
, giá trị còn lại là: 27.737.000 đồng; 01 mái
tôn thường, diện tích 13,3 m
2
, giá trị còn lại là: 3.528.000 đồng; 01 sân tông,
18
chiều dày 0,05m, diện tích 165 m
2
, giá trị còn lại là: 9.411.000 đồng; 01 đoạn
tường kích thước phía trên (12,71x0,8x0,1m), giá trị còn lại là: 1.072.000 đồng;
phần giá trị san lấp 88,65 m
3
, giá trị còn lại là: 31.027.000 đồng. Tổng cộng:
72.775.000 đồng. Đây là các công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất và với nhà
ở, cấp sơ thẩm giao cho anh C sở hữu và phải thanh toán giá trị cho anh P, chị B
là phù hợp.
Do trước khi T1 chết, anh C đã bỏ đi nhiều năm không về nhà, không
biết T1 bị bệnh, khi bà T1 chết anh C cũng không biết. Khi bà T1 xây nhà, anh
P, chị B công sức giúp đỡ việc xây dựng. Sau khi bà T1 chết, anh P, chị B có
công sức quản lý, bảo quản di sản, san lấp đất, tôn tạo làm tăng giá trị đất và làm
một số công trình, vật kiến trúc trên đất. Cấp sơ thẩm ước công sức quản lý, tôn
tạo di sản cho anh P, chị B trong 8 năm (từ tháng 4/2018 đến tháng 3/2026) tương
đương 02% gtrị đất = 56.145.000 đồng phù hợp. Anh P, chị B yêu cầu xác
định thửa đất 2272 tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng sở hữu của mình.
Yêu cầu này của anh P, chị B lớn hơn yêu cầu trả công sức quản lý, tôn tạo di sản
của bà T1. Cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất và nhà ở là di sản của bà T1
như nhận định trên, anh P, chị B công sức trong việc quản lý, tôn tạo di
sản nên cấp sơ thẩm buộc anh C phải trả khoản công sức này cho anh P, chị B là
không vượt quá yêu cầu của đương sự.
Cũng từ năm 2018, vợ chồng chị B, anh P người nộp thuế đất phi nông
nghiệp của thửa đất 2272, anh C tự nguyện trả chị B, anh P số tiền này nên buộc
anh C phải hoàn trả chị B số tiền thuế nộp từ 2018 đến 2025 là 768.000 đồng.
[2.3] Đối với yêu cầu của anh C buộc ông D, bà M dỡ bỏ toàn bộ công trình
là nhà ở, sân và mái tôn đã xây dựng trên thửa đất số 2270, trả lại anh thửa đất số
2270:
Ông D, bà M san lấp ao, xây nhà 02 tầng và ở trên thửa đất 2270 của T1
từ năm 2007. Thời điểm này T1 còn sống, T1 anh C không ý kiến
phản đối, không ý kiến đề nghị địa phương xử việc lấn chiếm. Nhà ông D
xây 2 tầng trên đất ao nhưng UBND xã, phường không lập biên bản vi phạm, xử
phạt vi phạm hành chính. Hiện tại giá trị san lấp giá trị nhà ở, công trình xây
dựng của ông D, M lớn hơn nhiều giá trị quyền sdụng đất. Bản thân anh C
đã có nhà mái bằng do bà T1 xây trên thửa đất 2272. Để đảm bảo sự ổn định nơi
ở của ông D, bà M người cao tuổi, cấp sơ thẩm giao toàn bộ quyền sử dụng đất
diện tích thửa đất 2270 cho ông D, M sdụng, buộc ông D M phải trả
giá trị quyền sử dụng đất cho anh C là phù hợp. Việc ông D, bà M xây dựng nhà
trên đất ao là không đúng mc đích sử dụng, sau này cơ quan quản lý Nhà nước
về đất đai sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[2.4]. Đối với yêu cầu của ông D, M, anh P, chị B về việc hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số V319687 ngày 12 tháng 4 năm 2004 mang tên
Hoàng Thị T1 hiện đã thay đổi tên chủ sử dụng đất sang Nguyễn Văn C: Như
nhận định trên, thửa đất số 2270 2272 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
Hoàng Thị T1, anh C đã khai nhận được Chi nhánh VPĐK đất đai thị K xác
nhận anh chủ sử dụng đất theo hồ số 000803.TK.001 là đúng. Cấp sơ thẩm
19
không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc hủy GCNQSDĐ là phù hợp. Sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền đề nghị cơ quan quản lý
Nhà nước về đất đai cấp lại GCNQSDĐ trên cơ sở bản án.
[2.5] Đối với yêu cầu của chị B, anh P buộc anh C phải trả số tiền
400.000.000 đồng cho vợ chồng anh chị liên quan đến việc T1 vay nợ chi
phí khám chữa bệnh, lo đám hiếu, xây mộ cho bà T1:
Tại Giấy vay tiền đề ngày 25/9/2017 thể hiện T1 vay của anh P, chị B
số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay để chữa bệnh, dấu điểm chỉ vân tay
dưới dòng chữ tên Hoàng Thị T1 mục Người vay tiền. Anh C cho rằng, ngày
25/9/2017 bà T1 còn khỏe mạnh, minh mẫn, bà T1 biết chữ, nhưng T1 không
lại điểm chỉ dấu vân tay nên việc làm giả tài liệu. Xét thấy, T1 xây
nhà từ khoảng tháng 2 đến tháng 7/2017, nhà vẫn chưa trát, chưa lắp cửa phải
dừng việc xây nhà T1 bị bệnh. T1 không nghề nghiệp thu nhập ổn
định, bà T1 không ở cùng chồng, ở với mẹ đẻ là cụ D2 đã già yếu, anh C không ở
địa phương đi từ năm 2012 đến thời điểm T1 ốm, chết không về. Việc T1
phải vay tiền để điều trị căn bệnh ung tphù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của
T1 khi đó. Tại kết luận giám định vân tay, xác định dấu là vân tay tại giấy vay
tiền là vân tay “cái phải” của bà T1. Những người làm chứng trong đó có ông H2
là người trực tiếp viết hộ Giấy vay tiền xác nhận bà T1 vay và nhận tiền vay nêu
trên. Do đó, xác định T1 vay của anh P, chị B số tiền 200.000.000 đồng.
T1 chết ngày 27/4/2018, anh C không sống ở địa phương, không cung cấp địa chỉ
cho gia đình đến 2023 mới về nhà; anh C là người duy nhất hưởng di sản của
T1 nên anh P, chị B chỉ yêu cầu anh C trả 200.000.000 đồng tiền gốc, không yêu
cầu lãi nên cấp thẩm buộc anh C phải trả chB, anh P số tiền 200.000.000 đồng
trong phạm vi di sản của bà T1 để lại là phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự về
thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Đối với số tiền 200.000.000 đồng theo anh P, chị B cho rằng tiền anh chị
bỏ ra chi phí lo chữa bệnh cho bà T1, chi phí lo ma, xây mộ: Cấp sơ thẩm đã yêu
cầu anh P và chị B cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh nhưng anh chị không
cung cấp được nên cấp sơ thẩm không chấp nhận phần yêu cầu này của anh P, chị
B là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm anh P, chị B cũng không cung cấp được tài liệu
chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu nên Hội đồng xét xử xác định nội dung
kháng cáo này của anh P, chị B không có căn cứ chấp nhận.
[2.6] Đối với yêu cầu của ông D, M đnghị Tòa án bác quyền thừa kế
của anh C đối với di sản thừa kế của Hoàng Thị T1 để lại anh C vi phạm
nghĩa vụ chăm sóc T1, khi T1 ốm, anh C không một ngày chăm sóc, khi
chết anh C không về chịu tang, xây mộ mẹ cũng không biết, không biết mộ mẹ ở
đâu. Thấy rằng, anh C không về nhà từ năm 2012, không biết T1 ốm, chết. Anh
C không bị cơ quan chức năng xử phạt về hành vi ngược đãi, hành hạ, hay có n
hoặc biết bà T1 ốm không chăm sóc, bỏ mặc T1. Do đó, cấp thẩm không
chấp nhận yêu cầu này của ông D, bà M là phù hợp.
[2.7] Anh C có nghĩa vụ trả tiền cho chị B, anh P theo bản án của Tòa án;
thời điểm anh C phải thực hiện nghĩa vụ khi bản án hiệu lực pháp luật. Do
20
vậy, từ khi án hiệu lực pháp luật, anh P, chị B yêu cầu thi hành án anh
C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu
khoản lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Anh
C kháng cáo về nội dung này không có căn cứ chấp nhận.
[3] Với các nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định toàn bộ kháng cáo
của anh C, ông D, bà M, anh P, chị B không có căn cứ chấp nhận cần giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Ông D, M kháng cáo không được chấp nhận
nhưng là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Anh C, anh P,
chị B kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
theo Điều 148 Bluật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Nguyễn Văn C, ông Hoàng
Văn D, Thị M, anh Hoàng Quý P và chị Nguyễn Thị B. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
10 - Hải Phòng.
2. Miễn án pdân sự phúc thẩm cho ông Hoàng Văn D Thị M.
Buộc anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
trừ vào số tiền 300.000đồng anh C đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTƯ/26E số 0003947 ngày 08/4/2026 của Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng, anh C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Buộc anh Hoàng Quý P chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đồng án phí dân
sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng anh C đã nộp tạm ứng án phí
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ pTòa án hiệu BLTƯ/26E số 0004777
ngày 22/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, anh P và chB đã
nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- VKSND TP.Hi Phòng;
- Các đương sự;
- TAND khu vc 10-Hi Phòng;
- Phòng THADS khu vc 10-Hi
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TO PHIÊN T
21
Phòng;
- Lưu: HS, VP.
Trn Hu Hiu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 217/2026/DS-PT Bản án số 217/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/DS-PT Bản án số 217/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất