Bản án số 228/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 228/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 228/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 228/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 228/2026/DS-PT Bản án số 228/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 228/2026/DS-PT Bản án số 228/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 202/2026/DS - PT
Ngày 05-8-2026
“V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử
dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản
trên đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Đoan Trang và ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Phạm Ngọc Hoa -
Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tán nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 139/2026/TLPT- DS
ngày 08/6/2026 về việc Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất yêu cầu
tháo dỡ tài sản trên đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2026/DS-ST ngày 15
tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 203/2026/QĐ-PT ngày 20
tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn Bình P, sinh năm 1982; CCCD số
************; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Quốc H, sinh năm
1985; CCCD số ************; địa chỉ: Thôn L, Q, Nội, (Theo văn bản
ủy quyền ngày 21/3/2024), “có mặt”.
- Bị đơn:
1. Ông Văn Khắc L, sinh năm 1972;
2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; CCCD số ************;
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ.
2
Người đại diện theo ủy quyền của H1: Ông Văn Khắc L, sinh năm
1972; (Theo văn bản ủy quyền ngày 20/6/2023). “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngô Thị Kim C, sinh năm 1990 (vợ ông P); CCCD s
************; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Quốc H, sinh năm 1985;
CCCD số ************; địa chỉ: Thôn L, Q, Nội, (Theo giấy y quyền
ngày 25/4/2024), “có mặt”.
2. Chị Văn Thị Thanh T, sinh năm 1992 (con ông L); địa chỉ: Thôn Đ,
L, tỉnh Phú Thọ.
3. Anh Văn Minh T1, sinh năm 2001 (con ông L); CCCD số
************; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T, anh T1: Ông Văn Khắc L, sinh
năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ, (Theo n bản ủy quyền ngày
07/6/2024), “có mặt”.
- Người kháng cáo: Ông Văn Khắc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 22 tháng 3 năm 2023 các lời khai tiếp
theo tại Tòa án nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ông Văn Bình P và bà Ngô Thị Kim C là chủ sử dụng thửa đất số 927, tờ
bản đồ số 17, diện tích 86,3m
2
tại thôn Đ, Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay
Thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết
tắt GCNQSDĐ) số DC 465407, số vào s cấp GCN số CS 01073 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 21/07/2021.
Về nguồn gốc thửa đất số 927: Ngày 14/6/2021 ông Văn Bình P và vợ
Ngô Thị Kim C đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vchồng ông
Cao Đắc T2 và Hoàng Thị N. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được thực hiện tại V Công chứng Minh An, địa chỉ: thị trấn V, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc. Vợ chồng ông P nhận bàn giao hiện trạng thửa đất số 927 từ ông
T2 (N) theo diện tích hệ toạ độ được xác định trong GCNQSDĐ số CR
981655. thời điểm nhận chuyển nhượng, khi ông P C nhận bàn giao đất t
ông T2, bà N thì trên thửa đất số 927 01 lán tôn chạy dọc phía trước, kéo dài
từ thửa đất nhà ông L đến hết thửa đất 927 và lán tôn này là của gia đình ông P.
Sau khi nhận bàn giao mốc giới, cuối tháng 7 năm 2021 ông P đã yêu cầu
3
ông L tháo dỡ lán tôn, trả lại ranh giới thửa đất đã được xác lập theo bản đồ địa
chính. Ông L đã thực hiện phá dỡ lán n theo yêu cầu của ông P, nhưng ông L
vẫn chừa lại một phần mái tôn dùng các tấm tôn tháo trên mái làm hàng rào
lấn sang đất nhà ông P, C. Gia đình ông P đề nghị gia đình ông Lương C1
phối hợp mời địa phương đến để xác định mốc giới cho 02 gia đình, nhưng
ông L không hợp tác. Ông P đã tự kiểm tra lại hiện trạng thửa đất đối chiếu
với GCNQSDĐ đã được cấp thì vợ chồng ông Văn Khắc L Nguyễn Thị
H1 lấn chiếm của ông P C khoảng 01m
2
đất (tính theo mốc giới cạnh 1-2
trên GCNQSDĐ số DC 465407 cấp cho ông P, bà C).
Ông P đã làm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Đ (nay là UBND L)
giải quyết, yêu cầu hộ ông Văn Khắc L trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm
cho gia đình ông P, đồng thời tháo dỡ phần lán tôn, hàng rào tôn làm trên phần
đất đã lấn chiếm. Tuy nhiên tại các buổi hòa giải ông L, H1 đều vắng mặt
không có lý do nên các buổi hòa giải không tiến hành được.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn ông P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị
đơn phải tháo dỡ rào tôn, mái tôn đtrả cho gia đình nguyên đơn diện tích đất
1m
2
tại thửa đất số 927, tờ bản đồ số 17. Tại phiên tòa nguyên thay đổi nội dụng
yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn tháo dỡ rào tôn, mái tôn, trả lại cho gia
đình nguyên đơn tích đất 0,6m
2
đã lấn chiếm tại thửa đất số 927, được chỉ giới
bởi các điểm F, F’,L’,L , F tại sơ đồ hiện trạng ngày 20/7/2023.
Việc Tòa án xác minh tại địa phương địa phương xác định giá đất tại
thửa 927, tờ bản đ17, thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ là 6.400.000đồng/1m
2
thì
ông P đồng ý không có thắc mắc gì.
Về chi phí tố tụng: Trong thời hạn giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp
tiền tạm ứng để chi phí cho việc xem xét thẩm định đối với tài sản, nay nguyên
đơn xin tự chịu toàn bộ chi phí thẩm định tài sản không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra ông P không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Văn Khắc L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà
Nguyễn ThH1 bị đơn người đại diện theo ủy quyền của chị T2, anh T1
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày:
Năm 2000, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng thửa đất 210 của gia đình
nhà ông Nguyễn Duy T3 người cùng xã Đ. Đến năm 2003, hai bên hoàn tất
thủ tục chuyển nhượng, nên ngày 21/9/2003 gia đình ông được cấp GCNQSDĐ.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông T3 năm 2001, vợ chồng ông đã xây 01
4
ngôi nhà cấp bốn, 3 gian để đến năm 2012 thì phá nxây ngôi nhà mới
như hiện nay. Theo GCNQSDĐ cấp năm 2003, thì thửa đất của gia đình ông
thửa s210, diện ch 228m
2
. Năm 2019 do gia đình không nhu cầu
rộng, nên đã chuyển nhượng một phần thửa đất số 210 cho ông Ngô Gia L2 (là
em rể của ông P), địa chỉ: Thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ. Hai bên viết Biên
bản làm việc về việc mua bán đất thổ vị trí đất được xác định như sau:
Cạnh giáp đường liên xã dài 4,50m; cạnh giáp đất nhà ông H, bà B dài 4,50m;
cạnh giáp đường liên thôn và cạnh giáp đất nhà ông là dài hết thửa đất…” . Sau
đó, ông L2 đã thanh toán trả ông toàn bộ số tiền mua đất, ông đã giao đất
giao GCNQSDĐ cho ông L2, để ông L2 làm thủ tục đăng cấp GCNQSDĐ
theo quy định.
Tổng diện tích đất bán cho ông L2 là 86,3m
2
cụ thể chiều cạnh như sau:
Cạnh giáp đường liên xã dài 4,50m; cạnh giáp đường liên thôn dài 19,26m; cạnh
giáp đất nhà ông H, B dài 4,50m; cạnh giáp đất nhà ông hiện tại dài 19,50m.
Sau đó, Nnước cấp GCNQSDĐ đối với vị trí phần đất ông chuyển nhượng
theo bản đVN B thửa 927, tờ bản đồ 17; địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, Đ,
huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Phần diện tích đất còn lại của ông thửa đất 926,
diện tích 131.2m
2
, tờ bản đồ 17; địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, Đ, huyện Y, tỉnh
Vĩnh Phúc. Sau khi chuyển nhượng thì đất của gia đình ông bị thiếu nhưng ông
không thắc mắc gì. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông, thì
ông L2 tiếp tục chuyển nhượng thửa đất 927 cho mấy người tiếp theo nhưng ông
không biết những người đó là ai, qua ông P thì ông được biết gia đình ông P
đã nhận chuyển nhượng thửa đất số 927.
Ông khẳng định thửa đất số 210 của vợ chồng ông trước khi chuyển
nhượng một phần diện tích cho ông L2, thì không việc lấn ra hành lang giao
thông phần đất nằm trong diện tích thửa đất 210 của ông đã được Nhà nước
cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Sau khi chuyển nhượng thì mốc giới đất giữa thửa
926 thửa 927 không việc lấn chiếm lẫn nhau. Phần đất gia đình ông
chuyển nhượng vẫn đủ chiều rộng đất 4,50m, chiều sâu hết khổ đất khi
chuyển nhượng đất cho ông L2 thì thửa đất đã xây tường bao quanh, phía trước
là nhà lợp mái tôn như thỏa thuận của ông và ông L2 ban đầu, không có việc lấn
ra hành lang giao thông.
Tại thời điểm chuyển nhượng đất cho ông L2 thì chỉ ông ông L2 tự
thỏa thuận với nhau về mốc giới được tính từ tường xây giáp đường ngõ kéo vào
phía trong tiếp giáp đất nhà ông 4,50m. Việc thỏa thuận về mốc giới hai bên
chỉ nói miệng với nhau, không lập thành văn bản cũng không mời chính
quyền địa phương đến đo đạc, để xác định mốc giới thửa đất cho hai nhà và
cũng không có người làm chứng, nên không có tài liệu về giao mốc giới với ông
5
L2 nộp cho Tòa án. Tại thời điểm chuyển nhượng đất cho ông L2, trên đất có 01
nhà (lán tôn) kéo dài hết thửa đất, nằm trên phần đất của ông và phần đất chuyển
nhượng cho ông L2. Sau khi chuyển nhượng đất phần lán vẫn giữ nguyên và gia
đình ông vẫn sử dụng.
Đến khoảng tháng 7 năm 2021 thì ông được biết phần đất ông chuyển
nhượng cho ông L2 đã bán cho ông P và bà C, ông P, bà C yêu cầu gia đình ông
tháo dỡ phần tài sản là gian nhà (lán tôn), bể nước và di dời cây trồng trên đất để
trả lại đất cho ông P (Số tài sản này do gia đình ông làm từ trước khi chuyển
nhượng, đang nằm trên phần đất gia đình ông P, C nhận chuyển nhượng) để
trả lại đất cho gia đình ông P nên ông đã dỡ toàn bộ lán tôn đi dời cây và tài sản
trả lại thửa đất cho ông P. Sau khi tháo dỡ lán tôn, để tận dụng ông đã lấy phần
tôn cắt từ mái ra làm hàng rào ngăn cách làm ranh giới giữa hai nhà. Sau khi làm
xong phần hàng rào bằng tôn ngăn cách ranh giới được một thời gian thì hai bên
xảy ra tranh chấp.
Sau khi làm việc tại Toà án, Toà án có cho ông xem Biên bản xác minh và
kiểm tra hiện trạng thửa đất ngày 11/7/2019 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 13 tháng 8 năm 2019, giữa bên chuyển nhượng Văn
Khắc L Nguyễn Thị H1, chị Văn Thị Thanh T, anh Văn Minh T1, bên nhận
chuyển nhượng ông Cao Đắc T2 Hoàng Thị N chữ của ông,
H1, chị T2, anh T1. Ông thừa nhận chữ trong hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 13 tháng 8 năm 2019 chữ của ông, H1, chị T2, anh T1, nhưng
không biết tại sao lại chữ của ông, H1, chT2, anh T1 tại hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 8 năm 2019 ông không
tài liệu chứng minh về việc này; ông thừa nhận chký, chữ viết Văn Khăc L
tại Biên bản xác minh và kiểm tra hiện trạng thửa đất ngày 11/7/2019 là của ông.
Việc gia đình ông chuyển nhượng đất các giấy tờ tự nguyện,
không bị ai ép buộc; từ năm 2019 đến nay sức khoẻ của ông cùng các thành viên
trong gia đình ông đều ổn định, không ai phải đi điều trị tại bệnh viện vbệnh
liên quan đến thần kinh. Ông đã chuyển nhượng đất cho ông L2 từ năm 2019,
nên ông L2 sử dụng hoặc bán cho người khác là quyền của ông L2, gia đình ông
không có thắc mắc gì về diện tích đất đã chuyển nhượng, vì gia đình ông đã bán
đã nhận đủ tiền nên khi ông biết ông P nhận chuyển nhượng đất yêu cầu
ông tháo dỡ tài sản để trả đất thì ông đồng ý và không có ý kiến gì.
Nhưng ông xác định mốc giới thửa đất phải tính từ bức tường rào tiếp
giáp đường ngõ (mép ngoài tường gạch) kéo vào phía trong giáp đất của gia
đình ông 4,5m (điểm E
đến điểm số 9 của đồ đo đạc ngày 20/3/2023, từ
điểm E
đến điểm số 9 là tường xây cũ của gia đình ông) nên gia đình ông không
lấn chiếm đất của gia đình ông P, việc ông P khởi kiện yêu cầu gia đình ông phải
6
tháo dỡ tài sản để trả lại cho gia đình ông P 0,6m
2
đất là không có căn cứ nên gia
đình ông không đồng ý.
Việc Tòa án xác minh tại địa phương địa phương xác định giá đất tại
thửa 927, tờ bản đ17, thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ là 6.400.000đồng/1m
2
thì
ông đồng ý không có thắc mắc gì. Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Ông Quốc H người đại diện theo ủy quyền của C người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày: C vợ của ông Văn
Bình P, C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P. Đề nghị Tòa án buộc ông
Văn Khắc L Nguyễn Thị H1 trả lại 0,6m
2
đất đã lấn chiếm tại thửa đất số
927; đồng thời phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên thửa đất đã lấn
chiếm để trả lại đất cho gia đình bà.
Ông Cao Đắc T2 Hoàng Thị N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần
nhưng đều vắng mặt, nên Toà án không tiến hành làm việc và không lấy lời khai
của ông T2 và bà N được.
Với các nội dung như trên, tại bản án dân sự thẩm số 22/2026/DS-ST
ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh PThọ đã
quyết định:
Căn cứ các Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân snăm 2015; Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ pTòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Văn Khắc L Nguyễn ThH1 trả cho ông Văn Bình P
Ngô Thị Kim C 0,6m
2
đất, tại thửa đất số 927, tbản đồ 17; địa chỉ thửa đất:
Thôn Đ, L, tỉnh Phú Thọ tháo dỡ phần mái tôn hàng rào các tấm tôn
làm trên diện tích đất 0,6m
2
(được xác định bởi các điểm F, F’, L
,
L, F) để trả lại
đất cho ông Văn Bình P và bà Ngô Thị Kim C. Ranh giới thửa đất giữa gia đình
ông Văn Bình P bà Ngô Thị Kim C với gia đình ông Văn Khắc L
Nguyễn Thị H1 được xác định bởi các điểm F, L, J, (có sơ đồ kèm theo).
Trường hợp ông Văn Khắc L Nguyễn Thị H1 không tự tháo dỡ, di
dời tài sản để trả lại đất cho ông Văn Bình P Ngô Thị Kim C thì ông P, bà
C quyền yêu cầu quan Thi hành án thẩm quyền cưỡng chế thi hành án
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự thẩm quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 27 tháng 4 m 2026 ông Văn Khắc L đơn kháng cáo, đề nghị
7
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của ông P.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lương G nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng
cáo của ông Văn Khắc L, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 22/2026/DS-ST
ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân n Khu vực 10 - Phú Thọ. Về án
phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Văn Khắc L làm trong hạn luật
định, đơn hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thẩm quyền và xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2]. Xem xét nội dung kháng cáo của ông L đnghị sửa bản án thẩm,
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp do vợ chồng ông P nhận
chuyển nhượng của ông T2, bà N; ông T2, bà N nhận chuyển nhượng của ông L,
H1. Mặc ông L kháng cáo cho rằng gia đình ông không chuyển nhượng
đất cho ông T2 N chỉ chuyển nhượng đất cho ông L2 được thể hiện tại
Biên bản làm việc về việc mua bán đất thổ giữa ông Văn Khắc L với ông
Ngô Gia L2. Mặc trình bày như vậy tuy nhiên ông L chỉ xuất trình được bản
phô Biên bản làm việc về việc n đất thổ ngày 13/6/2019 giữa ông Văn
Khắc L với ông Ngô Gia L2, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu nhưng ông L không
xuất trình được bản gốc, ngoài lời trình bày của ông L không bất kỳ tài
liệu nào khác để chứng minh.
[2.2]. Trong khi đó tài liệu thu thập được là hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 13 tháng 8 năm 2019 giữa bên chuyển nhượng ông
Văn Khắc L và bà Nguyễn Thị H1, chị Văn Thị Thanh T, anh Văn Minh T1 bên
nhận chuyển nhượng là ông Cao Đắc T2 và bà Hoàng Thị N; Biên bản xác minh
kiểm tra hiện trạng đất ngày 11/7/2019 thể hiện ông vợ chồng ông L các con
đều ký đầy đủ (ông L thừa nhận chữ ký, chữ viết trong hợp đồng đúng là của vợ
chồng ông các con). Ông L cũng khẳng định gia đình ông đã chuyển nhượng
một phần thửa đất số 210 theo bản đồ 299, sau khi chuyển nhượng được điều
8
chỉnh theo bản đồ VN2000 và tách thành 02 thửa thửa đất số 926 thửa đất
số 927. Khi chuyển nhượng đất cho ông L2 hoàn tự nguyện, không bị ai ép
buộc và gia đình ông L đã nhận đủ tiền và giao đất nên ông L không có thắc mắc
về diện tích đất đã chuyển nhượng nên ông P nhận chuyển nhượng đối với
thửa đất số 927, thửa đất là của ông P, ông L cũng không có ý kiến thắc mắc gì.
[3]. Ông L cho rằng mốc giới của thửa đất này phải được tính từ bức
tường xây phía ngoài, tiếp giáp đường (từ điểm E
đến điểm 9), chứ không phải
tính từ phía trong tường (tđiểm E
đến điểm K) theo như kết quả đo đạc ngày
20/7/2023. Tuy nhiên tài liệu trong hồ sơ thể hiện, trước khi thực hiện việc
chuyển nhượng thửa đất của gia đình ông L đã được chỉnh cụ thể, tại Biên
bản xác minh kiểm tra hiện trạng đất ngày 11 tháng 7 năm 2019. Tại mục III của
Biên bản thể hiện: Bản đồ 299, thửa số 210, tờ bản đồ số 05, diện tích 228m
2
;
bản đồ địa chính chính quy (VN2000) thửa số 780, tờ bản đồ 17, diện tích 217,5
m
2
; vẽ đồ ghi chiều cạnh của thửa đất; tại mục ý kiến của người sử
dụng ghi: Chsử dụng đất hoàn toàn đồng ý với mốc giới đã thống nhất với các
hộ liền kề, chcủa ông Văn Khắc L. Ngày 15 tháng 7 năm 2019 Ủy ban
nhân dân Đ (nay L) đã tiến hành đo đạc chỉnh bản đồ địa chính đối
với thửa đất của gia đình ông L.
[3.1]. Đến ngày 13 tháng 8 năm 2019 các bên ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, sau đó bên nhận chuyển nhượng đi khai đã
được tách thửa vào năm 2019 đã được cấp GCNQSDĐ ngày 26 tháng 9 năm
2019. Khi thực hiện việc tách thửa, thửa đất của gia đình ông L còn lại diện tích
131,2m
2
(thửa 926); Phần đất gia đình ông L chuyển nhượng có diện tích 86,3m
2
(thửa 927) được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông T2, bà N. Ngày 14 tháng 6
năm 2021 ông T2, N chuyển nhượng thửa đất số 927 cho ông P, bà C sau đó
ông P bà C2 cũng đã được cấp GCNQSDĐ ngày 21 tháng 7 năm 2021.
[4]. Tòa án cấp thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, thể hiện:
Diện tích đất gia đình ông L đang sdụng 131,8m
2
, tăng 0,6m
2
đất so với
GCNQSDĐ được cấp; diện tích đất gia đình ông P đang sử dụng là 85,7m
2
giảm
0,6m
2
đất so với GCNQSDĐ được cấp. Đối chiếu giữa đthửa đất được thể
hiện trong GCNQSDĐ được cấp cho ông P, C trích đo của UBND Đ
tháng 7 năm 2019; trích lục bản đồ địa chính ngày 17 tháng 3 năm 2022, thì thửa
đất của ông P, C thửa đất của ông L, H1 đang sử dụng sự chồng lấn
sang phần đất của ông L, H1. Trên phần đất này ông Lương H1 dựng
tấm tôn, phía trên có lợp mái. Nay ông P, bà C yêu cầu ông L, bà H1 trả lại diện
tích đất 0,6m
2
u cầu tháo dỡ tài sản trên diện tích đất 0,6m
2
căn cứ,
phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thẩm sau khi không
chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát và của ông L
9
để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung, trên cơ sở xem xét một cách khách
quan toàn diện nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ và chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[5]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không căn cứ để chấp
nhận kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận.
[6]. Về án phí: Ông Lương phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Văn Khắc L, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số
22/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 -
Phú Thọ.
2. Áp dụng các Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn Bình P, buộc ông
Văn Khắc L Nguyễn Thị H1 trả cho ông Văn Bình P Ngô Thị Kim
C 0,6m
2
đất, tại thửa đất số 927, tờ bản đồ 17; địa chỉ: Thôn Đ, L, tỉnh Phú
Thọ tháo dỡ phần mái tôn hàng rào các tấm tôn làm trên diện tích đất
0,6m
2
(được xác định bởi các điểm F, F’, L
,
L, F) đtrả lại đất cho ông Văn
Bình P và bà Ngô Thị Kim C.
Ranh giới thửa đất gia đình ông Văn Bình P, bà Ngô Thị Kim C với gia
đình ông Văn Khắc L, bà Nguyễn Thị H1 được xác định bởi các điểm F, L, J (có
sơ đồ kèm theo).
Trường hợp ông Văn Khắc L, Nguyễn Thị H1 không tự tháo dỡ, di dời
tài sản để trả lại đất cho ông Văn Bình P, Ngô Thị Kim C thì ông P, C có
quyền yêu cầu quan Thi hành án thẩm quyền cưỡng chế thi hành án theo
quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Ông Văn Khắc L Nguyễn Thị H1 phải chịu
300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Văn Bình P không phải chịu án phí dân sự
thẩm được hoàn tr số tiền 300.000đ tm ng án phí đã np, theo biên lai thu
tin s 0001635 ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Yên Lạc nay là Thi hành án dân s tỉnh Phú Thọ.
10
- Án phí dân s phúc thm: Ông Văn Khắc L phải chịu 300.000đ án phí
phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp,
theo biên lai thu số 0004258 ngày 12/5/2026 của Thi hành án dân stỉnh Phú
Thọ. Xác nhận ông L đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Văn Nghĩa Bùi Thị Đoan Trang
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 228/2026/DS-PT Bản án số 228/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 228/2026/DS-PT Bản án số 228/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất