Bản án số 414/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 414/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 414/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 414/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 414-2026 DSPT B. - T. (Chấm dứt HV cản trở QSDĐ)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
_______________
Bản án số: 414/2026/DS-PT
Ngày : 19/8/2026
V/v Tranh chấp yêu cầu chấm dứt
hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
________________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Đào Chí Keo và ông Trương Văn Hai.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (cơ
sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 411/2026/TLPT-DS
ngày 24 tháng 7 năm 2026 về việc Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi ngăn
cản quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 387/2026/QĐXX-PT
ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1966;
1.2. Bà Võ Thị Thùy V, sinh năm 1969.
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thị Thùy V: Ông Nguyễn Thanh
B, sinh năm 1966 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13/4/2026)
2. Bị đơn:
2.1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1946; nơi trú: Tổ A, ấp A, A, tỉnh
An Giang.
2.2. Thị Thúy L, sinh năm 1974, nơi trú: Ấp H, V, tỉnh An
Giang.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lê Thanh H, sinh năm 1972;
3.2. Ông Lê Quốc T1, sinh năm 1981
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, tỉnh An Giang.
3.3. Ông Thanh P, sinh năm 1979; nơi trú: Tổ A, ấp A, A, tỉnh
An Giang.
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị Thúy L.
(Các đương sự có mặt, riêng bà Võ Thị Thùy V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án cũng ntại
phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B, Thị Thùy V thống nhất trình
bày:
Nguồn gốc đất của ông nhận chuyển nhượng của ông Văn S
Nguyễn Thị T vào khoảng năm 1990, 1991 với giá 06 chỉ vàng. Kích thước
ngang phía trước 6,6m, ngang phía sau 7m, chiều dài 18m. Khi mua bán làm
giấy tay, nội dung mua bán do ông B viết, tên của hai bên gồm ông B,
V, ông S, T, ông H, ông P, ông T1, trong những người này chỉ T lăn
tay, những người còn lại đều tên. Khi làm thủ tục đo đạc để cấp giấy, ông
đưa giấy tờ mua bán cho bên đo đạc nhưng sau đó ông không nhớ bên đo đạc
trả lại hay không hay trả lại giấy mua bán rồi ông đã làm mất, hiện nay ông đã
làm thất lạc giấy mua bán, không còn giữ.
Ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00188aL ngày
05/4/2005. Đến ngày 06/6/2012 ông bà được cấp đổi cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà gắn liền với đất số CH00188aL theo thửa đất
178, tbản đồ số 23 diện tích 123,1m
2
do Ủy ban nhân dân huyện A cấp
06/6/2012. Ngày 19/6/2024, ông bà có yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện
A (cũ) phục hồi mốc ranh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp để
xác định mốc ranh giữa của ông bà hộ ông Hồ Văn P1 (ranh trên) hộ
Huỳnh Thị H1 (ranh dưới), đất phía sau nhà ông B, bà V đã sử dụng hết ranh nên
không còn đất nữa, không liên quan đến đất gia đình T nhưng bị ngăn cản
không cho đoàn đo đạc đo. Nay, ông yêu cầu T và L phải chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng đất số CH00188aL theo thửa đất 178, tờ bản đồ s
23, diện tích 123,1m
2
do Ủy ban nhân dân huyện A cấp 06/6/2012 mang tên
Nguyễn Thanh B, bà Võ Thị Thùy V.
* Bị đơn Nguyễn Thị T, Thị Thúy L trình bày: Nền đất ông B,
V sử dụng nguồn gốc của gia đình T. Trước kia ông B đã sang nhượng từ
ông n S (chồng bà T) phần đất diện tích ngang 04m x dài 15m = 60m²
để cất nhà ở, đã được gia đình đồng bị đơn đồng ý giấy sang nhượng. Nhưng
ông B, bà V chỉ làm 01 giấy cất giữ, không photo giao cho đồng bị đơn 01
bản. Ông B, bà V đã xây dựng căn nhà đúng theo diện tích đất sang nhượng, giáp
phần đất sang nhượng cho ông B và bà V nối liền phía sau là căn nhà của ông
3
Quốc T1 (con bà T). Ông B và bà V đã yêu cầu mua phần đất đang có nhà của
T1 phía sau để mở rộng thêm diện tích cất nhà ở, nhưng không được T1 chấp
nhận. Với phần đất sang nhượng cho ông B V ngang 04m phía bên hông
còn phần đất trống của gia đình đồng bị đơn, không biết ông B V đăng
xin cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất thời gian nào nhưng đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 123,1m², hơn gấp đôi với diện
tích nhận sang nhượng. Sau đó, ông B V hợp đồng với Văn phòng Đ chi
nhánh A để xin đo đạc xác định mốc sử dụng đất mà ông B và V đã được cấp
giấy chứng nhận quyền s dụng đất đăng biến động nhằm mở rộng thêm
quyền sử dụng trên đất của gia đình bà. Ông B V đã làm đơn nộp cho Ủy
ban nhân dân thị trấn A, yêu cầu giải quyết đồng bị đơn phải chấm dứt hành vi
cản trở. Ngày 02/8/2024 Ủy ban nhân dân thị trấn A mở phiên hoà giải, đồng bị
đơn đề nghị ông B V phải đem giấy sang nhượng do ông Văn S
người gia đình đồng bđơn đã ký, không sự tẩy xoá, sửa số căn cứ đúng
theo diện tích ấy sử dụng, đồng bị đơn không cản trở nếu sử dụng đúng, ngược
lại nếu thừa hơn phải trả lại cho đồng bị đơn.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm
2026, Tòa án nhân dân khu vực - An Giang quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm
a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 266 Bộ luật t
tụng dân sự; Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11, 12, 31, 134, 135
Luật đất đai 2024; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều
24, khoản 2 Điều 26 của , ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh B, Thị Thùy V. Buộc bà Nguyễn Thị T, Thị Thúy L phải
chấm dứt hành vi cản trở đối với phần đất tại các điểm 11, 18, 24, 23 thuộc thửa
đất số 178, tờ bản đồ số 23, diện tích 123,1m², tọa lạc tại tổ A, khóm A, A,
tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s CH00188aL do
UBND huyện A cấp ngày 06/6/2012 mang tên ông Nguyễn Thanh B
Thị Thùy V (Theo Bản vhiện trạng khu đất ngày 17/04/2025 của Văn phòng Đ
chi nhánh A)
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 23 tháng 5 năm 2026, bà Thị Thúy L
kháng cáo không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn Thị Thúy L trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo,
không đồng ý với nội dung bản án thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội
đồng xét xử buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến: Tại giai
đoạn phúc thẩm những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tuân thủ đúng pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, thành phần
Hội đồng xét xử, thư phiên tòa và thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 B
luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Thị Thúy L. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 30/2026/DS-ST ngày
12/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực – An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bị đơn Thị Thúy L kháng cáo trong hạn luật định và nộp
tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.2] Về sự có mặt của đương sự: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản
tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị đơn ThThùy
V vắng mặt nhưng người đại diện ủy quyền mặt tham dự. Căn cứ Điều
228, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn bà Võ Thị Thùy V.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bđơn Thị Thúy L, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp do gia
đình bị đơn chuyển nhượng cho nguyên đơn nhưng các bên tranh chấp về diện
tích chuyển nhượng; Phía nguyên đơn cho rằng gia đình bị đơn chuyển nhượng
cho nguyên đơn diện ch ngang phía trước 6,6m, ngang phía sau 7m, chiều dài
18m; Bđơn cho rằng chỉ chuyển nhượng cho nguyên đơn diện tích ngang 04m,
dài 15m. Nhưng hiện tại, giấy sang nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn
với gia đình bị đơn đã thất lạc, bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng
minh diện tích đất gia đình bị đơn đã chuyển nhượng cho nguyên đơn.
Tuy nhiên, tại Biên bản đo đạc xác định ranh giới sử dụng đất ngày
17/4/2003 để làm sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn
có các chủ sử dụng đất tứ cận ký tên, trong đó bà Nguyễn Thị T có lăn tay và ghi
rõ họ tên. Mặc dù bà T không thừa nhận có ký tên và lăn tay trong Biên bản ngày
17/4/2003 nhưng bà không yêu cầu giám định. Ngoài ra, theo Bản vẽ hiện
trạng ngày 17/4/2025 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh A - Chi nhánh huyện
A thì diện tích đất 123,1m
2
tại các điểm 11, 18, 24, 23 thuộc thửa đất 178, tờ bản
đồ số 23 diện tích 123,1m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH00188aL do Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang (cũ) cấp ngày
06/6/2012 cho ông Nguyễn Thanh B, bà Võ Thị Thùy V.
5
Bên cạnh đó, căn cứ theo sơ đồ thửa đất của Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH00188aL thể hiện phần phía sau căn nhà của nguyên đơn (phần
hậu) chiều ngang 5,03m - phần này tiếp giáp với đất của gia đình bị đơn -
Điều này hoàn toàn phù hợp với trình bày của nguyên đơn về phần diện tích đất
đã mua. Như vậy, n nhà của nguyên đơn đã được xây dựng từ trước và nguyên
đơn đã sử dụng đất công khai, ổn định, lâu dài, được Nhà nước công nhận quyền
sử dụng hợp pháp và trong suốt quá trình sử dụng phía bị đơn không ý kiến,
không phát sinh tranh chấp, khiếu nại việc nguyên đơn đã xây dựng chiều ngang
căn nhà nhiều hơn chiều ngang diện tích đất đã mua hay khiếu nại việc nguyên
đơn có lấn chiếm đất của gia đình bị đơn.
Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc Nguyễn Thị T Thị Thúy L
chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh B
Thị Thùy V là có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn Thị
Thúy L kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình nên không sở xem xét chấp nhận; do vậy, cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Lê Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Thị Thúy L. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2026/DS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực - An Giang.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm
a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều
228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 164, Điu 166 ca
B lut Dân s năm 2015; Điều 11, Điều 12, Điều 31, Điều 134, Điều 135 của
Luật đất đai năm 2024; Điều 3, Điều 24, khoản 2 Điều 26 ca Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B,
Võ Thị Thùy V.
2. Buộc Nguyễn Thị T, Thị Thúy L phải chấm dứt hành vi cản
trở đối với phần đất tại các điểm 11, 18, 24, 23 thuộc thửa đất s178, tờ bản đồ
số 23, diện tích 123,1m², tọa lạc tại tA, khóm A, A, tỉnh An Giang, theo
Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số CH00188aL do UBND huyện A cấp
ngày 06/6/2012 mang tên ông Nguyễn Thanh B và bà Võ Thị Thùy V (Theo Bản
vẽ hiện trạng khu đất ngày 17/04/2025 của Văn phòng Đ chi nhánh A)
6
3. Về chi phí tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thị T, Thị Thúy L hoàn trả
cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B, Thị Thùy V chi phí đo đạc theo
hợp đồng dịch vụ đo đạc theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0002220 ngày
18/4/2025 là số tiền 1.223.640 đồng (một triệu hai trăm hai mươi ba nghìn sáu
trăm bốn mươi đồng) của Văn phòng Đăng đất đai tỉnh A biên nhận giao
nhận tạm ứng ngày 05/3/2025 của Tòa án số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm
trăm nghìn đồng)
4. Về án phí:
4.1. Dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thanh B, Thị Thùy V được hoàn lại tiền tạm ứng án
phí 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0010188
ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú (nay Thi hành
án dân sự tỉnh An Giang).
Nguyễn Thị T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
4.2. Dân sự phúc thẩm: Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001617 ngày 25/5/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh An Giang) (đã nộp xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi nh án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
Điều 7Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
- Phòng Thi hành án DS khu vực-An Giang;
- Tòa án nhân dân khu vực-An Giang;
- Phòng KTNV & THA;
- Đương sự “Để thi hành”;
- Văn phòng; Tòa Dân sự, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất