Bản án số 1044/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1044/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1044/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1044/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim H "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Như Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1044/2026/DS-PT Bản án số 1044/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1044/2026/DS-PT Bản án số 1044/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1044/2026/DS-PT
Ngày: 14-8-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 590/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 7 năm
2026, về “tranh chấp hợp đồng vayi sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 510/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã Q, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi đăng ký tạm trú: khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Văn C, sinh năm 1979
(có mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Như Q, sinh năm 1962 (có mặt).
2.2. Bà Lâm Lệ H1, sinh năm 1966 (có mặt).
Cùng địa chỉ: số A, khu phố D, phường T, tỉnh Tây Ninh ng Q có mặt,
H1 vắng mặtđơn xin vắng mặt).
2
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Như Q và bà Lâm Lệ H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07-01-2026, bà H có cho ông Nguyễn Như Q, bà Lâm Lệ H1 vay số
tiền 990.000.000 đồng để ông Q H1 thực hiện việc đáo hạn ngân hàng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Á (sau đây gọi tắt Ngân hàng). Khi cho vay tiền
H đã chuyển khoản từ tài khoản của bà H đến tài khoản của ông Q 02 lần với
tổng số tiền là 990.000.000 đồng. Khi cho vay tiền bà H có yêu cầu ông Q ký tên
vào giấy mượn tiền. Sở dĩ theo giấy nợ thì ông Q số tiền vay là 1.000.000.000
đồng nhưng thực tế bà H chỉ chuyển khoản cho ông Q số tiền 990.000.000 đồng.
Khi cho vay hai bên thỏa thuận lãi suất là 15%/tháng, thời hạn vay 02 ngày. Tuy
nhiên, ông Q, H1 chưa trả cho bà H nợ gốc và lãi. Nay bà H khởi kiện yêu cầu
ông Q, H1 có nghĩa vụ trả cho H số tiền nợ gốc 990.000.000 đồng và tiền
lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 07-01-2026.
Bị đơn ông Nguyễn Như Q trình bày:
Ông thừa nhận ngày 07-01-2026 ông vay của H 990.000.000 đồng,
nhận tiền chuyển khoản 02 lần của H. Mục đích ông vay tiền của H để
thanh toán khoản vay đến hạn ca ông H1 tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Á. Khi vay tiền của H ông tên vào giấy mượn tiền với số tiền ghi
1.000.000.000 đồng, nhưng thực tế ông chỉ nhận số tiền vay là 990.000.000
đồng. Theo thỏa thuận với H thì thời hạn vay 02 ngày, lãi suất thỏa thuận
miệng là 15%/tháng. Sau khi làm thủ tục trả tiền cho Ngân hàng và xóa thế chấp
tài sản quyền sử dụng đất do H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì bà H1 không đồng ý cho ông dùng tài sản này thế chấp lại để vay tiền, vì
H1 cho rằng H1 ông đã ly hôn. Do đó, từ ngày nhận số tiền vay
990.000.000 đồng đến nay ông chưa trả cho bà H tiền gốc và lãi cho bà H.
Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông và bà H1 trả số tiền 990.000.000 đồng thì
ông chỉ đồng ý nhân ông trả nợ, không yêu cầu bà H1 cùng với ông nghĩa
vụ liên đới trả nợ, do đây nợ riêng của ông, ông ký giấy vay tiền với H,
H1 không tên. Ngoài ra ông và bà H1 đã ly hôn trước thời điểm ông vay tiền
của H. Do đó, ông đồng ý tmình trả nợ cho bà H tiền gốc 990.000.000
đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Lâm Lệ H1 trình bày:
thừa nhận biết việc ông Q vay tiền của H để trả nợ cho Ngân
hàng Thương mại cổ phần Á trước đây cho ông Q mượn tài sản riêng
quyền sử dụng đất của bà đứng tên để thế chấp vay tiền của Ngân hàng. Sau khi
trả tiền vay xóa thế chấp, yêu cầu ông Q trả lại bản chính giấy chứng
nhận quyền sdụng đất không đồng ý cho ông Q mượn lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để tiếp tục vay tiền. Số tiền 990.000.000 đồng ông Q tên
3
vay của H sau thời điểm vợ chồng ông bà ly hôn. Do đó, không đồng ý cùng
với ông Q trả nợ, đây là nợ riêng thì ông Q tự trả.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh đã căn cứ các Điều 463, 466, 468 của
Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chp nhn yêu cu khi kin ca Nguyễn Kim H đối với ông Nguyễn
Như Q với bà Lâm Lệ H1 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Nguyễn Như Q với Lâm Lệ H1 nghĩa vụ trả cho Nguyễn
Kim H s tiền gốc 990.000.000 đồng và tiền lãi76.012.000 đồng, tổng cộng
1.066.012.000 đồng (một tỷ không trăm sáu mươi sáu triệu không trăm mười hai
nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
2. V án phí dân s sơ thẩm: ông Nguyễn Như Q, bà Lâm L H1 là người
cao tuổi nên được min tin án phí.
Nguyễn Kim H được nhận lại 20.850.000 đồng (Hai mươi triệu tám
trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ng án phí theo biên lai thu số 0002585
ngày 03 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án ca các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 08-6-2026, bị đơn ông Nguyễn Như Q Lâm Lệ H1 kháng cáo
không đồng ý bản án thẩm, đề nghị không buộc bà H1 cùng nghĩa vụ liên
đới trả nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Như Q trình bày nội dung kháng cáo: Ông thừa nhận
ngày 07-01-2026 ông vay của H 990.000.000 đồng như nguyên đơn khởi
kiện. Mục đích ông vay tiền để thanh toán khoản nợ đến hạn của ông và H1
vay Ngân hàng Thương mại cổ phần Á trước khi ông và bà H1 ly hôn, tài sản thế
chấp là giấy chng nhận quyền sử dụng đất do H1 đng tên. Sau khi ông làm
thủ tc trả tiền Ngân hàng và xóa thế chấp tH1 không đồng ý cho ông mượn
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp Ngân hàng vay tiền, nên ông
chưa trả tiền gốc tiền lãi cho H. Ông đã trả bản chính giấy chứng nhận quyền
4
sử dụng đất cho bà H1. Hiện nay ông không còn tài sản nào khác. Ông và H1
đã ly hôn, cá nhân ông ký giấy nợ nên ông đồng ý trả tiền cho H tiền gốc và lãi
tổng cộng 1.066.012.000 đồng (gồm gốc 990.000.000 đồng tiền lãi
76.012.000 đồng) như bản án thẩm đã tuyên. Đề nghị không buộc H1
nghĩa vụ liên đới trả nợ.
Bị đơn Lâm Lệ H1 trình bày nội dung kháng cáo: Mặc ông Q vay
tiền của bà H để trả khoản nđến hạn mà bà và ông Q vay tại Ngân hàng Á trước
khi bà và ông Q ly hôn, tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
nhân H1 đứng tên. Ông Q đã xóa thế chấp và trả lại bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho bà. Nay bà và ông Q đã ly hôn nên bà không đồng ý
cho ông Q sử dụng giấy chứng nhận quyền sdụng đất đứng tên để tiếp tục
vay tiền Ngân hàng để trả nợ cho H. không nhận tiền của H, cá nhân ông
Q nhận tiền thì cá nhân ông Q nghĩa vụ trả nợ, không buộc bà cùng liên đới trả
nợ.
Nguyên đơn bà Nguyễn Kim H do ông Võ Văn C là người đại diện theo ủy
quyền trình bày: Ông Q, bà H1 có vay ca bà H số tiền 990.000.000 đồng để ông
Q và bà H1 thực hiện việc đáo hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á. Hai bên
thỏa thuận sau khi đáo hạn Ngân hàng, vay lại tiền thì trả tiền cho bà H nhưng ông
Q, bà H1 không thực hiện. Đây là nợ chung của vợ chồng nên ông Q, bà H1 phải
có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà H. Nay ông Q, bà H1 lấy lý do vợ chồng đã ly
hôn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà H là không phù hợp.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo của đương sự:
Ngày 08-6-2026, bị đơn Lâm Lệ H1 ông Nguyễn Như Q kháng cáo
yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không buộc H1 liên đới cùng
ông Q thanh toán cho bà H số tiền 1.066.012.000 đồng.
Trên sở tài liệu chứng cứ trong hồ sơ qua kết quả tranh luận tại
Tòa, nhận thấy:
Các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự xác định ngày 07-
01-2026, Nguyễn Kim H cho ông Nguyễn Như Q vay 990.000.000 đồng để
đáo hạn khoản vay tại Ngân hàng TMCP Á. Ông Q thừa nhận nhận tiền, ký giấy
vay và sdụng toàn bộ số tiền để thanh toán khoản vay; bà Lâm Lệ H1 ng biết
việc này. Khoản vay tại Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số
TBA.CN.5054.170724 ngày 24-7-2024 nghĩa vụ chung của ông Q H1
được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, chưa căn cứ chứng minh đã phân chia
hoặc thỏa thuận là nghĩa vụ riêng.
Mặc khoản vay giữa H ông Q phát sinh sau khi ông Q, H1 ly
hôn, nhưng tiền vay được sử dụng đthanh toán khoản nợ chung của cả hai tại
5
Ngân hàng, nên H1 cũng người được hưởng lợi từ khoản vay này. H1
không chứng minh đã hoàn trả cho ông Q phần nghĩa vụ của mình hoặc thỏa
thuận để ông Q tự chịu toàn bộ khoản nợ chung. vậy, không có cơ sở xác định
đây là khoản nợ riêng của ông Q.
Do đó, cấp sơ thẩm xác định ông Q và bà H1 cùng có trách nhiệm hoàn trả
cho bà H số tiền 990.000.000 đồng là phù hợp, bởi khoản tiền vay được sử dụng
để thực hiện nghĩa vụ chung ca hai người, bảo đảm quyền lợi của người cho vay
tránh việc một bên được hưởng lợi từ việc thanh toán nợ chung nhưng không
phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn ông Q và bà H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Như Q bà Lâm Lệ H1 được thực
hiện đúng nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Kim H vắng mặt, bà H do
ông Văn C người đại diện theo ủy quyền mặt; bị đơn ông Nguyễn Như
Q, bà Lâm Lệ H1 có mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tc chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Kim H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Như Q vi
Lâm Lệ H1 nghĩa vụ trả cho bà H số tiền gốc 990.000.000 đồng và tiền lãi
76.012.000 đồng, tổng cộng 1.066.012.000 đồng. Toà án cấp thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử thẩm, bị đơn ông Q,
H1 kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bà H1 liên
đới cùng ông Q thanh toán cho bà H số tiền 1.066.012.000 đồng. Nguyên đơn
không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải
quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo
của đương sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Như Q Lâm LH1
về việc đề nghị sửa bản án thẩm theo hướng xác định khoản vay tiền gốc
990.000.000 đồng, tiền lãi 76.012.000 đồng là nghĩa vụ nợ riêng của cá nhân ông
Q, không buộc bà Lâm Lệ H1 phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ, thấy rằng:
[3.1] Về nghĩa vụ trả tiền gốc:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai thống
nhất của các đương sự tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 07-01-2026,
Nguyễn Kim H đã thực hiện 02 giao dịch chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn
6
Như Q với tổng số tiền thực tế là 990.000.000 đồng. Ông Q thừa nhận đã nhận đủ
số tiền nêu trên và ký xác nhận vào giấy nhận nợ. Do đó, Tòa án cấpthẩm xác
định quan hệ mượn tài sản buộc ông Q nghĩa vụ hoàn trả số tiền nợ gốc
990.000.000 đồng cho nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án các bên trình bày cho vay thỏa thuận lãi
trình bày thống nhất vlãi suất, từ khi vay đến nay ông Q chưa trả lãi nên phải
chịu lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tòa án cấp
sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu tính lãi từ ngày
cho vay 07-01-2026 đến ngày 29-5-2026 (ngày xét xử thẩm) 04 tháng 22
ngày, tiền lãi được tính như sau: 990.000.000 đồng x 1,66% x 4 tháng 22 ngày =
76.012.000 đồng.
Như vậy, Tòa án cấp thẩm xác định tiền gốc 990.000.000 đồng tiền
lãi là 76.012.000 đồng; tổng cộng tiền nợ là 1.066.012.000 đồng là phù hợp.
[3.3] Về nghĩa vụ liên đới của bà Lâm Lệ H1:
Xét kháng cáo ông Nguyễn Như Qbà Lâm Lệ H1 về việc không đồng ý
buộc bà H1 có nghĩa vụ trả nợ, thấy rằng:
Các đương sđều thống nhất xác định ngày 07-01-2026, ông Q vay của
H số tiền 990.000.000 đồng để thanh toán khoản vay đến hạn tại Ngân hàng
Thương mại c phần Á. Khoản vay tại Ngân hàng được xác lập theo Hợp đồng
tín dụng số TBA.CN.5054.170724 ngày 24-7-2024, trong thời kỳ hôn nhân, do
ông Q và bà H1 cùng vay. H1 cũng thừa nhận có biết việc ông Q vay tiền
của bà H để trả khoản nợ tại Ngân hàng mà trước đó bà và ông Q cùng vay. Như
vậy, mục đích sử dụng khoản tiền 990.000.000 đồng đã được các bên thừa nhận,
không có tranh chấp.
Mặc giao dịch vay tiền giữa bà H với ông Q được xác lập sau khi ông Q
H1 đã ly hôn, nhưng thời điểm phát sinh giao dịch không phải là căn cứ duy
nhất để xác định trách nhiệm trả nợ. Cần xem xét bản chất mục đích thực tế
của khoản tiền vay. Theo đó, toàn bộ số tiền 990.000.000 đồng ông Q vay của bà
H đã được sử dụng để thanh toán khoản nợ của ông Q và H1 tại Ngân hàng, là
nghĩa vụ được xác lập trong thời kỳ hôn nhân. Việc thanh toán khoản nợ này đồng
thời làm chấm dứt nghĩa vụ của cả ông Q và bà H1 đối với Ngân hàng, đồng thời
làm tài sản do H1 đứng tên được giải chấp H1 nhận lại bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào việc bà H1 không trực tiếp nhận tiền hoặc
không ký vào giấy vay tiền để xác định bà không có nghĩa vụ đối với khoản tiền
này. Tiền được chuyển vào tài khoản ông Q nhưng đã được sử dụng vào đúng
mục đích các bên thừa nhận thanh toán khoản nợ chung của ông Q
H1. Bản chất của giao dịch khoản nợ đối với Ngân hàng của hai người được
thanh toán bằng nguồn tiền do bà H cho vay; quyền lợi về việc chấm dứt khoản
nợ và giải chấp tài sản của bà H1 đã được bảo đảm từ chính ngun tiền vay này.
7
Mặt khác, H1 cho rằng đây nợ riêng của ông Q nhưng không đưa ra
được tài liệu, chứng cứ chứng minh sau khi khoản nợ tại Ngân hàng được thanh
toán, bà đã hoàn trả cho ông Q phần nghĩa vụ thuộc về mình; cũng không chứng
minh được giữa bà và ông Q có thỏa thuận xác định ông Q tự chịu toàn bộ nghĩa
vụ hoàn trả khoản tiền đã vay H. Việc ông Q tự nguyện nhận trả toàn bộ khoản
nợ cho H cũng chỉ sthừa nhận về phía ông Q, không làm thay đổi quyền
yêu cầu của bà H không giá trị loại trừ trách nhiệm ca H1 đối với khoản
tiền được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ chung trước đó.
Việc ông Q H1 đã ly hôn chỉ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa
hai người, không đương nhiên làm chấm dứt hoặc chuyển giao nghĩa vụ tài sản
đã phát sinh trước đó. Đối với bà H là người trực tiếp bỏ tiền cho vay, việc ông Q
và bà H1 sau đó ly hôn không thể làm thay đổi phạm vi trách nhiệm của người đã
có quyền, lợi ích gắn với khoản nghĩa vụ được thanh toán từ số tiền vay.
Từ những phân tích trên, đủ căn cứ xác định khoản tiền 990.000.000
đồng H cho ông Q vay đã được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản chung
của ông Q và bà H1 đối với Ngân hàng. Vì vậy, việc xác định bà H1 cùng ông Q
trách nhiệm hoàn trả khoản tiền này cho H n cứ. Trách nhiệm của
ông Q H1 đối với H trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 288
Bộ luật Dân sự.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Q và H1 về việc
xác định khoản nợ 990.000.000 đồng và tiền lãi là nghĩa vụ riêng của ông Q. Tuy
nhiên, cần sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm để xác định rõ ông Nguyễn Như Q
Lâm Lệ H1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Kim H số tiền
nợ theo quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm.
Bị đơn ông Q, bà H1 người cao tuổi, đơn xin miễn án phí thuộc trường
hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên miễn toàn
bộ án phí phúc thẩm cho các đương sự. Do bị đơn được miễn nộp tiền tạm ứng án
phí, án phí nên không phải hoàn tiền tạm ứng án phí cho đương sự.
[5] Các phần khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị đơn ông Nguyễn Như Q và bà
Lâm Lệ Hà
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh về cách tuyên án nghĩa vụ
liên đới.
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ
luật dân sự; Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị Quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chp nhn yêu cu khi kin ca Nguyễn Kim H đối với ông Nguyễn
Như Q với bà Lâm Lệ H1 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Nguyễn Như Q với Lâm Lệ H1 nghĩa vụ liên đới trả cho
Nguyễn Kim H số tiền gốc 990.000.000 đồng tiền lãi 76.012.000 đồng,
tổng cộng 1.066.012.000 đồng (một tỷ không trăm u mươi sáu triệu không
trăm mười hai nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
2. V án phí dân s sơ thẩm:
Ông Nguyễn Như Q, Lâm L H1 người cao tuổi nên được min tin
án phí.
Nguyễn Kim H không phải chịu án phí, hoàn lại cho H 20.850.000
đồng (hai mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0002585 ngày 03 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Như Q, bà Lâm Lệ H1 là người cao tuổi nên được miễn tiền
án phí.
4. Về quyền nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
9
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 10 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 10 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1044/2026/DS-PT Bản án số 1044/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1044/2026/DS-PT Bản án số 1044/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất