Bản án số 1076/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1076/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1076/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1076/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Tân T - Phan Văn M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1076/2026/DS-PT Bản án số 1076/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1076/2026/DS-PT Bản án số 1076/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1076/2026/DS-PT
Ngày: 21-8-2026
V/v Tranh chấp vô hiệu hợp đồng ủy quyền,
vô hiệu di chúc, hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Võ Thị Hồng Mai
ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Hữu Thái Dương Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 633/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 8
năm 2026 về việc “Tranh chấp vô hiệu hợp đồng ủy quyền, vô hiệu di chúc, hợp
đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 151/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 418/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Tấn T, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, C, tỉnh Tây
Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tấn T: ông Phương Quốc D, sinh
năm 1985; địa chỉ: ấp B, C, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 04/12/2025).
- B đơn: ông Phan Văn M, sinh năm 1974; địa chỉ: số A tổ A, ấp T, T,
tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C; địa chỉ: ấp H, xã C, tỉnh Tây Ninh.
2. Ông Huỳnh Quang H, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp N, xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: nguyên đơn, ông Lê Tn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2025, 23/4/2026 trong quá trình giải quyết
vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn ông Lê Tn T do ông Phương Quốc D ngưi
đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Huỳnh Quang H cháu ruột của ông Lê Tấn T cho ông Phan Văn
M vay số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 28/11/2022, lãi suất 3%/tháng. Khi vay
tiền, ông M và ông H có lập hợp đồng vay tiền, đồng thời lập hợp đồng ủy quyền
và di chúc đối với thửa đất s 1548, tờ bản đồ số 7, diện tích 620m², loại đất ở tại
nông thôn, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây
Ninh). Việc lập hợp đồng ủy quyền và di chúc nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của
ông M đối với ông H.
Ngày 06/7/2023, ông M vay thêm ông H 200.000.000 đồng. Tổng số tiền
ông M vay 600.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, không thỏa thuận thời hạn
vay.
Do ông M không trả lãi nên ngày 05/8/2024 hai bên chốt lại số tiền vay
752.000.000 đồng, gồm 600.000.000 đồng tiền gốc và 152.000.000 đồng tiền lãi.
Sau đó, ông H chuyển giao quyền đòi nợ cho ông Lê Tấn T, giữa ông T và ông M
lập “Giấy mượn tiền” ghi ngày 05/8/2024.
Đến ngày 06/6/2025, ông T và ông M tiếp tục chốt lại số nợ907.000.000
đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 02 tháng, việc chốt lại số n được thực hiện
bằng “Giấy mượn tiền” lập cùng ngày. Ông M đã giao bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng thửa đất 1548, tờ bản đồ số 7 cho ông H giữ, hiện nay ông T
giữ. Sau thời hạn trả vốn và lãi, ông M không thực hiện.
Tại đơn khởi kiện, ông T yêu cầu: vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số công chứng
36272, quyển số 37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày 28/11/2022 gia ông Phan Văn M
ông Huỳnh Quang H đối với thửa đất số 1548, tờ bản đồ số 7, diện tích 620m²;
hiệu Di chúc số công chứng 36273, quyển số 37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày
28/11/2022; buc ông Phan Văn M trả số tiền vay 907.000.000 đồng tiền lãi
theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác định yêu cầu ông M trả tiền gốc
907.000.000 đồng và tiền lãi 02 tháng với mức lãi suất 1,67%/tháng, tính từ ngày
06/6/2025 đến ngày 06/8/2025 là 30.112.400 đồng, lãi quá hạn và lãi của lãi quá
hạn tính từ ngày 07/8/2025 đến ngày xét xử thẩm. Tổng cộng ông T yêu cầu
ông M thanh toán 1.186.211.192 đồng.
Bị đơn ông Phan Văn M trình bày:
Ngày 28/11/2022 ông vay của ông Huỳnh Quang H số tiền 400.000.000
đồng; ngày 06/7/2023 vay thêm 200.000.000 đồng, tổng cng 600.000.000 đồng,
lãi suất 3%/tháng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông có lp Di chúc, Hợp đồng y
quyền ghi ngày 28/11/2022 để li tài sn thửa đất 1548, t bản đồ s 7, đất ti p
T, xã T, diện tích 620m
2
cho ông Huỳnh Quang H.
Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 06/7/2023, ông đóng lãi cho ông H là
87.522.581 đồng; từ ngày 06/7/2023 đến ngày 06/8/2024 tiền lãi 234.000.000
đồng, nhưng ông chỉ đóng được 82.000.000 đồng, nên ngày 05/8/2024 nên hai
bên chốt nợ 752.000.000 đồng, gồm nợ gốc 600.000.000 đồng nợ lãi
152.000.000 đồng và ông H chuyển cho ông T đứng tên giấy nợ mới.
Từ ngày 06/8/2024 đến ngày 06/6/2025, tiền lãi là 198.000.000 đồng, nhưng
ông ch đóng được 43.000.000 đồng, còn nợ lãi 155.000.000 đồng, nên ngày
06/6/2025 hai bên chốt nợ 907.000.000 đồng, gồm ngốc 600.000.000 đồng
và nợ lãi cũ, mới là 307.000.000 đồng và ghi giấy nợ mới.
Tổng cộng tiền lãi ông đã trả cho ông T ông H 212.522.581 đồng, nhưng
không có giấy tờ chứng minh.
Nay, ông chỉ đồng ý trả cho ông T số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi
150.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng và yêu cầu nhận lại bản chính Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất; ông không đồng ý yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng
ủy quyền và di chúc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Huỳnh Quang H trình bày: ông xác nhận cho ông M vay tổng cộng
600.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, việc lập Hợp đồng ủy quyền Di chúc
nhằm bảo đảm khoản vay. Ngày 05/8/2024, ông M chốt nợ 752.000.000 đồng,
ông đã chuyển giao quyền đòi ncho ông T, nên giữa ông và ông M không còn
liên quan vkhoản tiền vay. Ông đồng ý yêu cầu tuyên hiệu Hợp đồng ủy
quyền và Di chúc.
Văn phòng C trình bày: việc công chứng Hợp đồng y quyn s công chng
36272, quyn s 37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày 28/11/2022 giữa ông Phan Văn M
vi ông Hunh Quang H; Di chúc s công chng 36273, quyn s
37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày 28/11/2022 gia ông Phan Văn M vi ông Hunh
Quang H đối vi cùng một thửa đất s 1548, t bản đ s 7, ti p T, xã T, huyn
C, tnh Long An (nay là xã T, tnh Tây Ninh) được thực hiện theo đúng trình tự,
hồ đầy đủ.
Tại Bản án dân sự thẩm số 151/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026,
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh đã tuyên (tóm tắt):
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tấn T đối với ông Phan
Văn M về tranh chấp hiệu hợp đồng ủy quyền, vô hiệu di chúc, hợp đồng vay
tài sản.
1.1. hiệu hợp đồng ủy quyền số công chứng 36272, quyển số
37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày 28/11/2022, giữa bên ủy quyền là ông Phan Văn M
với bên được ủy quyền là Huỳnh Quang H, đối với thửa đất số 1548, tờ bn đồ số
7, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An, nay là xã T, tnh Tây Ninh;
1.2. Vô hiệu di chúc s công chứng 36273, quyển số 37/2022/TP/CC-HNGĐ
ngày 28/11/2022, giữa người lập di chúc ông Phan Văn M với người được đ
lại di sản Huỳnh Quang H, đối với thửa đất số 1548, tờ bản đồ số 7, tại ấp T,
xã T, huyện C, tnh Long An, nay là xã T, tỉnh Tây Ninh
1.3. Buộc ông Phan Văn M trả cho ông Tấn T số tiền nợ gốc lãi tổng
cộng là: 600.000.000 đồng + 30.060.000 đồng + 997.992 đồng + 45.000.000
đồng = 676.057.992 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu không trăm năm mươi
bảy nghìn chín trăm chín mươi hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, khoản tiền trên hàng tháng bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
1.4. Ngay sau khi ông Phan Văn M thanh toán stiền nêu mục 1.3 của
Quyết định, buộc ông Lê Tấn T trả cho ông M bản chính Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa đất 1548, tờ bản đồ s7, diện tích 620m
2
, đất tại ấp T, T, tỉnh
Tây Ninh; số 439245, svào sổ CS 01951 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh L cấp ngày 12/6/2016 cho ông Phan Văn M.
Trường hợp đương sự không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì quan nhà nước thẩm quyền, quan cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thẩm quyền thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng cho
các bên đương sự phù hợp với nội dung giải quyết tại Bản án ca Tòa án
2. Về án phí: Ông Phan Văn M chịu 31.642.319 đồng án phí. Ông Lê Tấn T
chịu 24.406.128 đồng án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Tạm ng án phí ông T đã nộp 21.726.000 đồng theo biên lai thu số 0004814 ngày
12/3/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, chuyển sang án phí. Ông T còn
phải nộp thêm 2.680.128 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên quyền thời hạn kháng cáo của các
đương sự, việc thi hành án theo quy định ca pháp lut.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, nguyên đơn ông Lê Tn T kháng cáo một phn
bản án sơ thẩm v s tin lãi vay.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Phương Quốc D trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản
án sơ thẩm về phần lãi vay, buộc ông Phan Văn M phải trả cho ông Lê Tấn T tiền
lãi vay trên số tiền ngốc 600.000.000 đồng, tính từ ngày 06/7/2023 đến ngày xét
xử sơ thẩm (ngày 11/6/2026) theo mức lãi suất 1,67%/tháng.
Ông Phan Văn M trình bày: chỉ đồng ý như bản án thẩm đã xử, không
chấp nhận kháng cáo của ông T.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của ông Lê Tấn T đ điu kiện đ xem xét
theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: theo các giấy vay tiền, đủ căn cứ xác định ông M có
vay của ông H tổng số tiền 600.000.000 đồng, gồm ngày 28/11/2022 vay
400.000.000 đồng ngày 06/7/2023 vay 200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng.
Sau đó, ông H đã chuyển giao quyền đòi nợ cho ông T. Tòa án cấp sơ thẩm buộc
ông M trả ông T nợ gốc 600.000.000 đồng, là có căn cứ. Đối với tiền lãi, Tòa án
cấp thẩm điều tiết mức lãi suất còn 20%/năm đúng quy định tại Điều 468
của Bộ luật dân sự năm 2015. Ông M không chứng minh được đã trả lãi, nên nay
ông T kháng cáo yêu cầu ông M trả lãi, tính từ ngày 06/7/2023 đến ngày xét x
thẩm, là đã lợi cho ông M. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của ông T, sửa một phần bản án sơ thẩm về tiền lãi.
Ngoài ra, ông T phải nghĩa vụ trả lại bản chính GCNQSDĐ cho ông M,
không phụ thuộc vào vic ông M trả tiền cho ông T xong hay không, nên đề nghị
sửa cách tuyên án về phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo nguyên đơn ông Tấn T thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân s. Nguyên đơn
ginguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa
thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. V án được xét xử theo thủ tục phúc
thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: ông Lê Tấn T vắng mặt, nhưng có người
đại diện theo y quyền có mặt; Văn phòng C văn bản đề nghị xét xử vắng mặt;
Tòa án không triệu tập ông Huỳnh Quang H tham gia phiên tòa phúc thẩm. Căn
c Điều 296 của Bộ luật T tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: ông Lê Tấn T kháng cáo một phần bản án
sơ thẩm về tiền lãi. Căn cứ Điều 293 ca Bộ luật T tụng dân sự, Tòa án cấp phúc
thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm của Tòa án cấp thẩm kháng
cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng
nghị.
[4] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: các giao dịch đang có tranh chấp
được xác lập năm 2022, do đó áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản
ớng dẫn thi hành luật có liên quan để giải quyết vụ án.
[5] Hồ vụ án thể hiện các tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh
theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự: ông Phan Văn M
vay của ông Huỳnh Quang H 02 lần, tổng cộng 600.000.000 đồng, lãi suất thỏa
thuận 3%/tháng không xác định thời hạn vay, gồm: ngày 28/11/2022 vay số
tiền 400.000.000 đồng ngày 06/7/2023 vay 200.000.000 đồng (bút lục 60); việc
vay mượn tiền được đảm bảo bằng Hợp đồng ủy quyền, Di chúc lập và được công
chứng ngày 28/11/2022 giữa ông M với ông H đối với thửa đất số 1548, tờ bản
đồ số 7, diện tích 620m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại T, tỉnh Tây Ninh
(các bút lục số 54-59); ngày 05/8/2024, ông H đã chuyển giao quyền đòi nợ cho
ông Tấn T, giữa ông T và ông M chốt lại số tiền nợ 752.000.000 đồng, gồm
600.000.000 đồng tiền gốc 152.000.000 đồng tiền lãi, hẹn trong thời gian 02
tháng ông M không trả vốn, lãi thì ông T sẽ nhận chuyển quyền sử dụng đất (các
bút lục 61, 77, 78); ngày 06/6/2025, giữa ông T và ông M đã chốt số tiền nợ
907.000.000 đồng, trong đó ngốc 600.000.000 đồng và nợ lãi 307.000.000
đồng, lãi suất 3%/tháng, hẹn trong thời gian 02 tháng ông M không trả vốn, lãi t
ông T sẽ nhận chuyển quyền sử dụng đất (bút lục 63); ông T đang giữ bản chính
của GCNQSDĐ thửa 1548.
Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tn T về tiền lãi:
[6] Theo “Hợp đồng cho cá nhân vay tiền” do ông T cung cấp, đủ căn cứ để
xác định vào ngày 28/11/2022 ngày 06/7/2023, giữa ông H ông M đã xác
lập hợp đồng vay không kỳ hạn nhưng có thỏa thuận mức lãi suất 3%/tháng.
[7] Đến ngày 05/8/2024, ông H chuyển giao quyền cho ông T, giữa ông T
ông M đã lập “Giấy mượn tiền” chốt lại số tiền nợ 752.000.000 đồng, gm
600.000.000 đồng tiền gốc 152.000.000 đồng tiền lãi, hẹn trong thời gian 02
tháng ông M không trả vốn, lãi thì ông T sẽ nhận chuyển quyền sử dụng đất (các
bút lục 61, 77, 78). Như vậy, đến thời điểm này, các bên đã có thỏa thuận về mốc
thời gian trả nợ 02 tháng kể tngày 05/8/2024, nên khoản vay đã được xác định
là vay kỳ hạn và có lãi. Từ ngày 06/10/2024 (ngày bt đầu hết thời hạn vay 02
tháng) cho đến ngày 06/6/2025 (ngày hai bên xác lập thời hạn vay mới), khoản
vay sẽ có tính lãi quá hạn.
[8] Ngày 06/6/2025, ông T ông M đã “Giấy mượn tiền” xác lập thỏa
thuận mới, xác định thời hạn vay 02 tháng. Như vậy, từ ngày 06/8/2025 (ngày hết
thời hạn vay 02 tháng) cho đến ngày 11/6/2026 (ngày xét xử sơ thẩm), khoản vay
sẽ có tính lãi quá hạn.
[9] Tòa án cấp thẩm đã hiệu toàn bộ 02 giao dịch vay tiền, theo 02
“Giấy mượn tiền” ghi ngày 05/8/2024 và ngày 06/6/2025, là vi phạm nguyên tắc
bản của pháp luật dân sự về quyền tự thỏa thuận của đương sự theo quy định
tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bởi lẽ, trong 02 giao dịch này, giữa ông
T ông M vẫn trình bày thống nhất số tiền vay gốc 600.000.000 đồng
đã xác lập một thỏa thuận mới về thời hạn trả nợ; phần nội dung thỏa thuận về
thời hạn trả nợ hoàn toàn không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức
xã hội, thì không bị vô hiệu.
[10] Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên quyền
thỏa thuận về lãi suất, nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay,
mức lãi suất thỏa thuận ợt quá không hiệu lực. Giữa ông H, ông T, ông M
đã thỏa thuận mức lãi suất 3%/tháng tương đương 36%/năm, nên Tòa án cấp
thẩm điều chỉnh giảm mức lãi suất còn 20%/năm, là đúng quy định của pháp luật.
[11] Ông M không chứng minh được trả lãi, nên ngoài khoản lãi trên nợ
gốc trong hạn chưa trả (= 20%/năm), ông M n phải trả lãi trên nợ lãi theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (10%/năm)
tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc và trả lãi
trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo mức lãi suất bằng 150% mức lãi suất vay trong
hạn (= 30%/năm) tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, theo quy định tại
khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5 của Nghị quyết số
01/2019/NQ-TP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm. Tiền lãi ông M phải trả đưc tính như sau:
[11.1] Khoản vay 400.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 28/11/2022 đến ngày
05/8/2024 là 135.013.699 đồng (= 400.000.000đ x 20%/năm x 616 ngày)
[11.2] Khoản vay 200.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 06/7/2023 đến ngày
05/8/2024 là 43.397.260 đồng (= 200.000.000đ x 20%/năm x 396 ngày)
[11.3] Từ ngày 05/8/2024, tổng tiền vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay
02 tháng, tiền lãi được tính như sau:
[11.3.1] Lãi trên ngốc trong hạn (đến ngày 05/10/2024) 20.000.000 đồng
(= 600.000.000đ x 20%/năm x 02 tháng)
[11.3.2] Lãi trên nợ gốc quá hạn (từ ngày 06/10/2024 đến ngày 06/6/2025)
là 120.328.767 đồng (= 600.000.000đ x 30%/năm x 244 ngày)
[11.3.3] Lãi chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn từ ngày 06/10/2024 đến ngày
xét xử sơ thẩm (ngày 11/6/2026) là 3.364.383 đồng (= 20.000.000đ x 10%/năm x
614 ngày).
[11.4] Từ ngày 06/6/2025, tổng tiền vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay
02 tháng, tiền lãi được tính như sau:
[11.4.1] Lãi trên nợ gốc trong hạn (đến ngày 06/8/2025) là 20.000.000 đồng
(= 600.000.000đ x 20%/năm x 02 tháng)
[11.4.2] Lãi trên nợ gốc quá hạn (từ ngày 07/8/2025 đến ngày 11/6/2026
ngày xét xử sơ thẩm) 152.383.561 đồng (= 600.000.000đ x 30%/năm x 309
ngày)
[11.4.3] Lãi chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn từ ngày 07/8/2025 đến ngày
xét xử sơ thẩm (ngày 11/6/2026) là 1.693.150 đồng (= 20.000.000đ x 10%/năm x
309 ngày).
[12] Tổng cộng tiền lãi ông M cần phải trả là 496.180.820 đồng, nhưng ông
T kháng cáo chyêu cầu ông M trả lãi 352.109.589 đồng (= 600.000.000đ x
20%/năm x 1.071 ngày (từ ngày 06/7/2023 đến ngày 11/6/2026)), quy tròn tiền
lãi là 352.110.000 đồng, đã lợi cho ông M, n kháng cáo của ông T
căn cứ để được chấp nhận.
[13] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được chấp nhận toàn bộ.
[14] Về án phí dân sự thẩm: do chấp nhận kháng cáo của ông T về tiền lãi
Tòa án cấp thẩm tuyên khấu trừ thiếu các khoản tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
ông T đã nộp, nên sửa phần án phí sơ thẩm. Ông M phải chịu án phí không có giá
ngạch đối với yêu cầu hiệu hợp đồng ủy quyền, hiệu di chúc của ông T được
chấp nhận án phí giá ngạch tương ứng tổng số tiền gốc lãi phải trả cho
ông T; ông T được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp.
[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên ông
Tấn T không phải chịu và được hoàn trả tạm ứng.
[16] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã hiệu Hợp đồng ủy quyền Di chúc,
nhưng lại tuyên buộc ông Tấn T trả cho ông Phan Văn M bản chính Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1548 chỉ sau khi ông M thanh toán nợ cho ông
T, không đúng quy định tại Điều 6, 7, 8 và Điều 36 Luật thi hành án dân sự, bởi
lẽ quyền yêu cầu và thỏa thuận thi hành án là của các đương sự. Mặc dù phần này
của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng
do không đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xphúc thẩm sửa lại
cách tuyên án về nội dung này.
[17] Những phần còn lại của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cĐiều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 282, khoản 2 Điều 308, khoản
1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 124, Điều 365, Điu 463,
Điều 466, Điều 468, Điều 469 Điu 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
5, Điều 9 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
2. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tn T về tiền lãi.
3. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 151/2026/DS-ST ngày 11 tháng
6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh vtiền lãi nghĩa vụ
giao trả bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
3.1. Buộc ông Phan Văn M trả cho ông Lê Tấn T số tiền nợ lãi tổng cộng là
352.110.000đ (ba trăm năm mươi hai triệu một trăm mười ngàn đồng).
3.2. Buộc ông Lê Tấn T trả cho ông Phan Văn M bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số phát hành 439245, số vào sổ CS 01951 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp ngày 12/6/2016 cho ông Phan Văn M đối với thửa đất
số 1548 tờ bản đồ s 7, diện tích 620m
2
, tọa lạc tại ấp T, xã T, tỉnhy Ninh.
3.3. Trường hợp đương sự không giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì quan nhà nước thẩm quyền, quan cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thẩm quyền thu hồi hoặc hủy Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất, chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho
đương sự phù hợp với bản án, quyết định ca Tòa án.
4. Các phần sau đây của Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2026/DS-ST ngày 11
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị:
4.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tấn T đối vi ông Phan Văn
M về tranh chấp hiệu hợp đồng ủy quyền, hiệu di chúc, hợp đồng vay tài
sản.
4.2. hiệu Hợp đồng y quyền số ng chứng 36272, quyển số
37/2022/TP/CC-HNGĐ ngày 28/11/2022, giữa bên ủy quyền là ông Phan Văn M
với bên được ủy quyền là ông Huỳnh Quang H, đối với thửa đất số 1548, tờ bản
đồ số 7, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An, nay là xã T, tỉnh Tây Ninh.
4.3. hiệu Di chúc số công chứng 36273, quyển số 37/2022/TP/CC-HNGĐ
ngày 28/11/2022, giữa người lập di chúc ông Phan Văn M với người được đ
lại di sản là ông Huỳnh Quang H, đối với thửa đất số 1548, tờ bản đồ số 7, tại ấp
T, xã T, huyện C, tỉnh Long An, nay là xã T, tnh Tây Ninh.
4.4. Buộc ông Phan Văn M trả cho ông Tấn T số tiền vay nợ gc
600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng)
5. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử
thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân s năm 2015.
6. Án phí dân sự sơ thẩm:
6.1. Buộc ông Phan Văn M phải chịu tổng cộng 41.163.000đ (bốn mươi mốt
triệu một trăm sáuơi ba ngàn đồng) án phí.
6.2. Ông Lê Tấn T không phải chịu và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí
ông T đã nộp tổng cộng 22.026.000đ (hai mươi hai triệu không trăm hai mươi sáu
ngàn đồng) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí s 0004814 ngày 12/3/2026
và số 0008939 ngày 28/4/2026 của Thi hành án dân sự tnh Tây Ninh
7. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Tấn T không phải chịu và được hoàn trả
số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông T đã nộp theo Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0014319 ngày 23/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh.
8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
9. Về ớng dẫn thi nh án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 8 và Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 7-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1076/2026/DS-PT Bản án số 1076/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1076/2026/DS-PT Bản án số 1076/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất