Bản án số 101/2026/HS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 101/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 101/2026/HS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 101/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 101/2026/HS-PT
Ngày 26/8/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn.
Các Thẩm phán: Bà Dương Thị Vân.
Ông Nguyễn Hành.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Huy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử
trực tuyến của Toà án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự phúc
thẩm thụ lý số 135/2026/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo A H
do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
7 - Quảng Ngãi.
- Bị cáo bị kháng nghị:
A H, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2009 tại tỉnh Quảng Ngãi (phạm tội lúc 16
tuổi 06 tháng 24 ngày); căn cước công dân số: ************; nơi trú: Thôn
Kon Tum K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
học vấn: 06/12; dân tộc: Ba na; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con
ông A H1, sinh năm 1989 Y H2, sinh năm 1994; Bị cáo chưa vợ con;
tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/5/2026 bị Công an phường K, tỉnh Quảng Ngãi xử
phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phét chất ma túy với số tiền 750.000 đồng
(bị cáo chưa chấp hành quyết định).
Bị cáo bị áp dng bin pháp ngăn chn cấm đi khi nơi trú từ ngày
20/02/2026 đến nay, có mt tại phiên toà.
2
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông A H1, sinh năm 1989 Y
H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi (là cha, mẹ
bị cáo). Ông A H1 vắng mt; bà Y H2 có mt.
- Người o chữa cho bị cáo: Nguyễn Thị Thúy H3 - Trợ giúp viên pháp
của Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước số 2 tỉnh Q; địa chỉ: Số B T, phường
K, tỉnh Quảng Ngãi (có mt).
- Người làm công tác xã hội:Nguyễn Thị Thùy D - Nhân viên Công tác
hội - Phòng Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng, Trung tâm C, tỉnh Quảng
Ngãi. Địa chỉ: Số A đường P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Có mt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2025 đến ngày 02/01/2026, A H cùng
A Ly T, Kha Văn Đ, A W thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản tại công trình kè chống
lũ, sạt lở các làng đồng bào dân tộc thiểu số dọc sông Đ thuộc thôn K, phường K,
tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/12/2025, A H đang ở nhà tại
thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi thì A L T, Kha Văn Đ đến nhà A H chơi. Tại
đây, cả ba nói chuyện về việc không tiền tiêu xài, A H rủ T Đ "Đi cắt
đồng kiếm tiền" (nghĩa đi cắt trộm dây cáp điện đốt lấy đồng đem bán), nghe
vậy tất cả đều đồng ý. A H đi vào trong nhà lấy 01 cái liềm và 01 lưỡi cưa sắt rồi
cùng T, Đ đi bộ đến công trình chống lũ, sạt lở thuộc thôn K, phường K, tỉnh
Quảng Ngãi. Tại đây, A H, T, Đ cùng chui xuống cống ngầm dưới vỉa hè thấy có
01 sợi dây cáp điện, cả 03 người thay nhau dùng liềm, cưa sắt cắt đứt một đầu sợi
dây cáp điện (còn một đầu đã đứt từ trước) rồi tiếp tục thay nhau dùng liềm, lưỡi
cưa cắt (rọc) lớp nhựa bọc bên ngoài. Cắt liên tục đến khoảng 02 giờ sáng ngày
26/12/2025 được 01 đoạn dây cáp điện dài 75m (Bảy mươi lăm mét) (bên trong
03 sợi dây đồng được bọc trong một lớp v nhựa). Sau đó, A H, T, Đ trèo ra
khi miệng cống, cùng kéo đoạn dây cáp điện lên vỉa hè, dùng cây và củi khô
đem đốt lửa để đốt cháy lớp v nhựa thì thu được 03 sợi dây lõi đồng. Đon mang
một sợi dây đồng về tự cất giấu. A H, T đem cất giấu hai sợi dây đồng ở bụi cây
gần nhà của A H. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, A H mượn xe (không
nhớ biển số) của Lê Quang Đ1 nói đi ăn sáng, uống cà phê thì Đ1 đồng ý. A
H sử dụng xe trên chở T cùng số dây đồng vừa trộm cắp được đến tiệm mua
bán sắt vụn tại E P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi bán cho Nguyễn Thị L1 (là
chủ tiệm) được số tiền 5.800.000đ (Năm triệu tám trăm ngàn) đồng. Số tiền bán
dây đồng được chia như sau: A H được chia số tiền 2.900.000 (Hai triệu chín trăm
nghìn) đồng, T được chia stiền 2.900.000 (Hai triệu chín trăm nghìn) đồng. Đối
với số tiền bán sợi dây đồng, A H, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định gtài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản - UBND phường K kết luận: 75 mét dây cáp điện ngầm trung
3
thế giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là: 100.688.325 (Một trăm triệu, sáu
trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi lăm) đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/12/2025, A H và A L T đang ở
nhà A H tại thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi chơi thì A H rủ T: “Đi cắt đồng
kiếm tiền xài” (nghĩa là tiếp tục đi trộm cắp dây cáp điện) thì T đồng ý. A H vào
trong nhà lấy 01 con dao 01 lưỡi cưa sắt rồi cùng T đi bộ đến công trình
chống lũ, sạt lở thuộc thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Đến nơi, A H, T chui
xuống cống ngầm dưới vỉa đến vị trí sợi dây p điện. Cả hai thay nhau
dùng liềm, cưa sắt cắt đứt một đầu sợi dây cáp điện (còn mt đầu đã đứt từ trước)
rồi tiếp tục thay nhau dùng liềm, lưỡi cưa cắt (rọc) lớp nhựa bọc bên ngoài. Cắt
liên tục đến khoảng 03 giờ ng ngày 27/12/2025 thì cắt được 01 đoạn dây cáp
điện dài 50m. A H, T trèo ra khi miệng cống, cùng kéo đoạn dây cáp điện lên vỉa
nhưng không kéo lên nổi nên đã về thôn K, phường K tìm rủ A W ra phụ
kéo dây cáp điện thì A W đồng ý. Sau khi quay lại vị trí đang cắt dây cáp điện, A
H, T, A W cùng nhau kéo đoạn dây cáp điện ra khi miệng cống, dùng lá cây và
củi khô đem đốt lửa để đốt cháy lớp v nhựa thì thu được 03 (Ba) sợi dây lõi đồng.
Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, A H mượn xe mô tô (không nhớ rõ biển
số) của Lê Quang Đ1 nói đi ăn sáng, uống cà phê thì Đ1 đồng ý. A H sử dụng xe
mô tô trên chở T cùng số dây đồng vừa trộm cắp được đến tiệm mua bán sắt vụn
bán cho bà Nguyễn Thị L1 được số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu) đồng. Số tiền bán
dây đồng được chia như sau: A H được chia số tiền 1.500.000 (Một triệu năm
trăm nghìn) đồng, A Ly T được chia số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn)
đồng, A W được chia số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng. Đối với số tiền bán sợi
dây đồng A H, A Ly T, A W đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản - UBND phường K kết luận: 50 mét dây cáp điện ngầm trung
thế có giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là: 67.125.550 (Sáu mươi bảy triệu,
một trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi) đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/12/2025, A H, A Ly T, A W
đang ở nhà A H tại thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi chơi thì A H rủ T, A W:
Đi cắt đồng kiếm tiền xài” (nghĩa là tiếp tục đi trộm cắp dây cáp điện) thì T, A
W đồng ý. Cả ba cùng đi bộ đến công trình chống , sạt lthuộc thôn K,
phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Đến nơi, A H lấy dao và cưa sắt đã giấu sẵn từ trước
ở gần đó rồi cùng T, A W chui xuống cống ngầm dưới vỉa hè đến vị trí có sợi dây
cáp điện. A H, T, A W thay nhau dùng liềm, cưa sắt cắt đứt một đầu sợi dây cáp
điện (còn một đầu đã đứt từ trước) rồi tiếp tục thay nhau dùng liềm, lưỡi cưa cắt
(rọc) lớp nhựa bọc bên ngoài thì cắt được một đoạn dây cáp diện dài 94,1m. Cả
ba cùng nhau kéo đoạn dây cáp điện ra khi miệng cống, dùng lá cây và củi khô
đem đốt lửa để đốt cháy lớp v nhựa thì thu được 03 sợi dây lõi đồng.
Đến sáng cùng ngày, A W ở lại trông giữ đoạn dây đồng, A H cùng T vnhà
mượn xe mô tô (không nhớ rõ biển số) của Lê Quang Đ1 nói đi ăn sáng, uống cà
4
phê thì Đ1 đồng ý. A H sử dụng xe mô tô trên chở T cùng số dây đồng vừa trộm
cắp được đến tiệm mua bán sắt vụn tại E P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi bán cho
Nguyễn Thị L1 được số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng. Số tiền bán dây đồng
được chia như sau: A H được chia số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn)
đồng, A Ly T được chia số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng, A W
được chia số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, cho A H4 (con trai của Quang
Đ1) số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, còn
lại T và A H đã tiêu xài chung hết số tiền này.
Đối với số tiền bán sợi dây đồng A H, A Ly T, A W, A H4 đã tiêu xài
nhân hết.
Tại kết luận định gtài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản - UBND phường K kết luận: 94,1 mét dây cáp điện ngầm
trung thế có giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là: 126.330.285 (Một trăm hai
mươi sáu triệu, ba trăm ba mươi nghìn, hai trăm tám mươi lăm) đồng.
Vụ thứ tư: Rạng sáng ngày 02/01/2026, A L T đến nhà A H tại thôn K,
phường K, tỉnh Quảng Ngãi chơi thì A H rủ A Ly T: “Đi cắt đồng kiếm tiền xài”
(nghĩa là tiếp tục đi trộm cắp dây cáp điện) thì T đồng ý. A H vào nhà lấy 01 con
dao rựa, T nht được 01 lưỡi cưa gần đó rồi cả hai cùng đi bộ đến công trình kè
chống lũ, sạt lở thuộc thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Đến nơi, A H, T chui
xuống cống ngầm dưới vỉa đến vị trí sợi dây p điện. A H, T thay nhau
dùng dao rựa, cưa sắt cắt đứt một đầu sợi dây cáp điện (còn một đầu đã đứt từ
trước) rồi tiếp tục thay nhau dùng dao rựa, lưỡi cưa cắt (rọc) lớp nhựa bọc bên
ngoài thì cắt được một đoạn dây cáp diện dài 23m. Cả hai ng nhau o đoạn
dây cáp điện ra khi miệng cống, dùng lá cây và củi khô đem đốt lửa để đốt cháy
lớp v nhựa thì thu được 03 sợi dây lõi đồng.
Đến sáng cùng ngày, A H cùng T về nhà mượn xe mô tô (không nhớ rõ biển
số) của Lê Quang Đ1 nói đi ăn sáng, uống cà phê thì Đ1 đồng ý. A H sử dụng xe
mô tô trên chở T cùng số dây đồng vừa trộm cắp được đến tiệm mua bán sắt vụn
tại E P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi bán cho Nguyễn Thị L1 (là chủ tiệm) được
số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Số tiền bán dây đồng được chia như sau: A H
được chia số tiền 1.500.000 (Một triệu, năm trăm nghìn) đồng, T được chia số
tiền 1.500.000 (Một triệu, năm trăm nghìn) đồng. Đối với số tiền bán sợi dây đồng
A H, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định gtài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2026 của Hội
đồng định giá tài sản - UBND phường K kết luận: 23 mét dây cáp điện ngầm trung
thế có giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt là: 30.877.753 (Ba mươi triệu, tám
trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi ba) đồng.
Bản án hình sthẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi quyết định như sau:
Tuyên bố bị cáo A H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
5
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58 Điều 38 của Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; khoản 1 Điều
119; khoản 2 Điều 179 Luật pháp người chưa thành niên, sửa đổi bổ sung năm
2025: Xử phạt bị cáo A H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày
bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Quyết định
kháng nghị phúc thẩm số 926/QĐ-VKSQNG với nội dung:
1. Kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15
tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi.
2. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm huỷ toàn bộ
Bản án hình sự thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Toà án
nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi để điều tra, xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị đối với bản án trên. Qua phân tích về hành
vi, tính chất mức độ phạm tội của bcáo A H, đại diện Viện kiểm sát cho rằng cấp
sơ thẩm xác định tổng số tiền bị cáo A H cùng các đồng phạm thực hiện trộm cắp
04 lần 325.021.913 đồng căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm lại xác
định riêng bị cáo A H chiếm đoạt số tiền 113.486.930 đồng của bị hại không
đúng, dẫn đến cấp sơ thẩm áp dụng về khung hình phạt và tiền bồi thường cho bị
hại cũng không đúng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 926/QĐ-VKSQNG
ngày 08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, huỷ Bản án hình sự
thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 -
Quảng Ngãi để điều tra, xét xử lại.
- Người bào chữa cho bcáo A H có ý kiến: Thống nhất với đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát, việc đánh giá áp dụng khung hình phạt, mức bồi thường
thiệt hại của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo A H chưa đúng. Đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 926/QĐ-VKSQNG ngày
08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, hủy bản án hình sự
thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15/6/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Quảng
Ngãi.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho b
cáo theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
6
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 926/QĐ-VKSQNG
ngày 08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi được ban hành đúng
thẩm quyền, đúng thời hạn trình tự, thtục quy định tại các Điều 336, Điều
337 Điều 338 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án
cũng như lời khai của bị cáo A H tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2025 đến ngày 02/01/2026, bị cáo A
H cùng với A Ly T, Kha Văn Đ, A W thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản (dây cáp
điện ngầm trung thế) tại công trình kè chống lũ, sạt lở các làng đồng bào dân tộc
thiểu số dọc sông Đ thuộc thôn K, phường K, tỉnh Quảng Ngãi do Công ty c
phần X thi công. Cụ thể:
Lần 1 (ngày 25/12/2025): A H cùng A Ly T, Kha Văn Đ trộm cắp 75m dây
cáp điện ngầm trung thế. Theo Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày
29/01/2026, giá trị tài sản bị chiếm đoạt 100.688.325 đồng (Một trăm triệu, sáu
trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi lăm đồng).
Lần 2 (ngày 26/12/2025): A H cùng A Ly T, A W trộm cắp 50m dây cáp
điện ngầm trung thế. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là
67.125.550 đồng (Sáu mươi bảy triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm
năm mươi đồng).
Lần 3 (ngày 30/12/2025): A H cùng A Ly T, A W trộm cắp 94,1m dây cáp
điện ngầm trung thế. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là
126.330.285 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu, ba trăm ba mươi nghìn, hai trăm
tám mươi lăm đồng).
Lần 4 (ngày 02/01/2026): A H cùng A Ly T trộm cắp 23m dây cáp điện
ngầm trung thế. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 30.877.753
đồng (Ba mươi triệu, tám trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
Tổng giá trị tài sản bị cáo A H và các đồng phạm A Ly T, A W, Kha Văn
Đ chiếm đoạt của bị hại 04 lần 325.021.913 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu,
không trăm hai mươi mốt nghìn, chín trăm mười ba đồng).
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản
đều có sự tham gia trực tiếp ca bị cáo A H với vai trò người khởi xướng, rủ rê,
chuẩn bị công cụ (dao, liềm, cưa sắt) cùng các đồng phạm thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất đồng phạm
giản đơn. Theo nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của đồng phạm được quy
định tại Điều 17 Điều 58 của Bộ luật Hình sự, trách nhiệm hình sự của từng
đồng phạm đối với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt phải được xác định dựa trên
toàn bgiá trị tài sản mà các đồng phạm đã cùng nhau thực hiện chiếm đoạt. Như
vậy, bị cáo A H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ tổng giá trị tài sản
7
bị chiếm đoạt là 325.021.913 đồng. Hành vi của bị cáo A H đủ yếu tố cấu thành
tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại căn cứ vào số tiền thiệt hại được phân chia để
xác định riêng bị cáo A H chỉ chiếm đoạt số tiền 113.486.930 đồng, từ đó truy tố
và xét xử bị cáo A H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2
Điều 173 Bộ luật Hình sự sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình
sự, không đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, số
tiền thiệt hại mà bị cáo đã gây ra dẫn đến việc áp dụng khung nh phạt đối với bị
cáo A H không đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Do xác định sai tổng giá trị tài sản bị cáo A H phải
chịu trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo A H (Cha mẹ đẻ
bồi thường thay do A H chưa tài sản riêng) bồi thường số tiền 113.486.930
đồng cho bị hại Công ty cổ phần X không đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ
luật Hình sự các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt
hại.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án
cấp thẩm đã vi phạm nghiêm trọng trong việc đánh giá áp dụng pháp luật
Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục tại phiên tòa phúc
thẩm được, bởi việc xét xử bị cáo A H theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173
Bộ luật Hình sáp dụng điều luật nng hơn, thuộc khung hình phạt khác cao
hơn khung hình phạt Viện kiểm sát cấp thẩm đã truy tố Tòa án cấp
thẩm đã xét xử. Do vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi, hủy toàn bộ Bản án hình sthẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - tỉnh Quảng Ngãi, chuyển hồ
sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - tỉnh Quảng Ngãi để điều tra lại
theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Về án pphúc thẩm: Do hủy bản án thẩm nên bị cáo A H không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng
hình sự. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị số 926/QĐ-VKSQNG ngày 08/7/2026 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
1. Hủy Bản án hình sự thẩm số 95/2026/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi. Chuyển hồ vụ án cho Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi để điều tra lại theo đúng quy định ca
pháp luật.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ
luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 21, điểm f khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
8
giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo A H không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/8/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- P.HSNV CA tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND, TAND khu vực 7 - Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 7 - Quảng Ngãi;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất