Bản án số 102/2026/HS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 102/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 102/2026/HS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 102/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: "Tổ chức đánh bạc" "Đánh bạc"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 102/2026/HS-PT
Ngày: 27-8-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thu và bà Trịnh Thị Thu Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Hiền Thương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 118/2026/TLPT-
HS ngày 11 tháng 7 năm 2026 đối với các bị cáo Nguyễn Hùng K Nguyễn
Văn Q, do kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số:
51/2026/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Quảng Ngãi.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Hùng K, sinh ngày 01/8/1987 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi trú:
Thôn C, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Ngư nghiệp; trình độ học vấn:
05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn P Nguyễn Thị M; vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm
1990; 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; căn
cước công dân s************, cấp ngày 14/8/2021; tiền án, tiền sự: Không;
bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 đến ngày 08/01/2022; hiện nay đang bị
áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 06/6/1978 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi trú:
Thôn C, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Ngư nghiệp; trình độ học vấn:
09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn G Thị Đ (đã chết); vợ Phạm Thị D, sinh năm 1987;
02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; căn cước
2
công dân số 051078011175, cấp ngày 28/9/2021; tiền án: Không; tiền sự: Ngày
08/10/2021 bị Công an xã B xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái
phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC; bị tạm giữ,
tạm giam từ ngày 15/12/2021 đến ngày 08/01/2022; hiện nay đang bị áp dụng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/12/2021, bị cáo Văn L đang cùng bị
cáo Phạm Tấn T ngồi uống nước tại quán cà phê thì L nghe tin tại nhà cVõ B
xóm G, thôn C, Đ, tỉnh Quảng Ngãi đang nhiều người tụ tập nên L nảy
sinh ý định tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc bầu cua thng thua
bằng tiền. L rủ T xuống nhà cụ B để thực hiện hành vi t chức đánh bc thì T
đồng ý tham gia.
Khi đến nhà cụ B, L chuẩn bị công cụ là mua 05 (năm) bộ hột xúc xắc (loại
in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai), đồng thời sdụng 01 (một) thau nhôm 01
(một) đĩa nhôm của gia đình cụ B làm dụng cụ xóc. L gọi điện thoại rủ thêm b
cáo Nguyễn Hùng K đến n c B để hỗ trợ việc thu, chi tiền thắng thua với
những người tham gia đánh bc, L giao s tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)
cho K, T để làm nhiệm vụ thu chi tiền đánh bạc (tức thu tiền của người đặt
cược thua trả tiền cho người đặt cược thắng). Sau đó, L người trực tiếp
cầm cái xóc bầu cua, trong khi đó T và K ngồi hai bên cạnh chiếu bạc phụ trách
việc thu chi tiền; hình thức đánh bạc được các đối tượng quy ước như sau:
Người tham gia đánh bạc trực tiếp đặt cược số tiền tùy ý vào các ô in hình (bầu,
cua, tôm, cá, gà, nai) trên tờ giấy bầu cua. Sau khi Lâm xóc, mở thau nhôm ra,
nếu 03 (ba) con xúc xắc hiện ra hình trùng khớp với cửa đã đặt cược thì ngưi
tham gia đánh bạc thắng với tỷ lệ 1:1 (nếu hiện ra 02 hoặc 03 hình trùng thì số
tiền thắng cược được nhân đôi, nhân ba tương ứng). Trường hợp kết quả xúc xắc
không ra hình người tham gia đánh bạc đã đặt tngười tham gia đánh bc
thua toàn bộ số tiền cược.
Trong khoảng thời gian t13 giờ 30 phút đến 16 giờ 20 phút cùng ngày,
những người trực tiếp tham gia cược bằng tiền bao gồm các b cáo Trương
T1, Võ Văn P1, Nguyễn Văn Q, Phạm Thị Đ1 và các ông bà Võ Thị L1, Trương
Quang M1, Bùi Xuân T2, Bùi Thị H1, Văn T3, Trần Thị C, Phù Văn M2
Trương Thị Đ2. Trong đó, L1, M1, T2, H1, T3, C, M2, Đ2 chỉ tham gia cược
với số tiền nhỏ (từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng) các ván đầu, sau đó đã tự
3
động dừng chơi, chuyển sang đứng xem nhng người khác đánh bc; riêng các
bị cáo T1, P1, Q, Đ1 tiếp tục đánh bạc cho đến khi bị bắt quả tang.
Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi L đang c bầu cua các b cáo
T1, P1, Q, Đ1 đang đặt cược thì bị Tổ công tác của Công an huyện B phối hợp
với Phòng C1 Công an tỉnh Q tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt người phạm
tội quả tang.
Tại chiếu bạc, lực lượng chức năng đã thu giữ số tiền là 19.850.000 đồng
(mười chín triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) cùng toàn bộ công cụ dùng để
đánh bạc gồm: 01 (một) chiếc chiếu nhựa, 26 (hai mươi sáu) con xúc xắc (gồm
06 con đã qua sử dụng 20 con chưa sử dụng), 01 (một) thau nhôm, 01 (một)
đĩa nhôm, 08 (tám) tờ giấy in hình bầu cua. Đồng thời, đã thu giữ trên người các
bị cáo số tiền đang được sử dụng vào mục đích đánh bạc tại thời điểm bắt quả
tang gồm: Tràng 22.100.000 đồng (hai mươi hai triệu một trăm nghìn đồng), P1
13.140.000 đồng (mười ba triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng), Q 7.200.000
đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng), đúng 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm
nghìn đồng). Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc trong cùng một lần tại
thời điểm bị bắt quả tang là 65.490.000 đồng (sáu mươi lăm triệu bốn trăm chín
mươi nghìn đồng).
Bản án hình sự thẩm số 51/2026/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi:
Tuyên bố các bị cáo Văn L, Nguyễn Hùng K, Phạm Tấn T phạm tội
“Tổ chức đánh bạc”; các bcáo Trương T1, Văn P1, Nguyễn Văn Q, Phạm
Thị Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2024 2025, xử phạt bị cáo Văn L mc hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu)
tháng , thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án,
được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam t ngày 15/12/2021 đến ngày
25/01/2022.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2024 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng K mc hình phạt 02 (hai) năm ,
thời hạn chấp hành hình phạt tính tngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ
đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 đến ngày 08/01/2022.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2024 và 2025, xử phạt bị cáo Phạm Tấn T mc hình phạt 02 (hai) năm nhưng
4
cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ
thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, 38 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024 2025, xử phạt bị cáo Trương Tràng M3 hình phạt 03 (ba) năm
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính t ngày
tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, 38 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024 2025, xử phạt bị cáo Võ Văn P1 mc hình phạt 03 (ba) năm
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính t ngày
tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2024 và 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mc hình phạt 03 (ba) năm tù; thời
hạn chấp hành hình phạt tính tngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi
thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 đến ngày 08/01/2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, 38 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024 và 2025 xử phạt bị cáo Phạm Thị Đúng M4 hình phạt 03 (ba) năm tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính t ngày
tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Phạm Tấn T, Trương T1, Võ Văn P1, Phạm Thị Đ1 cho Ủy
ban nhân dân Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử
thách. Trường hợp b cáo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định của
pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, b cáo cố ý vi phạm
nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc b cáo phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên xử vật chứng, về án phình sự
thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/5/2026, bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin được hưởng án treo.
Bị cáo cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, chấp hành tốt chính sách, pháp luật; bản thân lao động chính trong
gia đình và mong được cải tạo tại địa phương.
5
Ngày 26/5/2026, bị cáo Nguyễn Hùng K kháng cáo xin được hưởng án treo
hoặc giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo trình bày gia đình khó khăn, bản thân lao
động chính, phải chăm sóc cha mẹ già yếu và nuôi 03 con đang đi học.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hùng K vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q thay đổi kháng cáo bị cáo xin được
giảm nhẹ hình phạt xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tiền đối
với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm:
Đánh giá về tính hợp pháp của đơn kháng cáo, nội dung đơn kháng cáo của
các bcáo, đánh giá, phân tích về hành vi, tính chất mức độ phạm tội, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm
sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, 38 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024 và 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng K mc hình phạt 02 (hai) năm
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) m, kể từ ngày
tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, khoản 1 Điều 54 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017, 2024 2025. Xphạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 70.000.000
đồng đến 90.000.000 đồng.
Các bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chấp nhận kháng cáo để cho các bị cáo
hội về làm ăn, chăm sóc cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 13/5/2026 Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi
xét xvụ án nêu trên; bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Hùng K mặt tại
phiên tòa. Do đó, ngày 14/5/2026, bị cáo Nguyễn Văn Q đơn kháng cáo;
Ngày 26/5/2026, bị cáo Nguyễn Hùng K có đơn kháng cáo còn trong thời hạn
6
theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được Hội đồng
xét xử được xem xét, giải quyết.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Hùng K Nguyễn Văn
Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận về tội danh như án thẩm
đã tuyên đối với các bị cáo đúng pháp luật, về phần hình phạt, các bị cáo cho
rằng cấp sơ thẩm xử phạt áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là nặng xin Hội
đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ, phù hợp với hành vi
phạm tội các bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai nhận hành
vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, xét xử
thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Chiều
ngày 15/12/2021, tại nhà cụ B xóm G, thôn C, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi,
Văn L tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc bầu cua thắng thua bằng
tiền. Nguyễn Hùng K được L gọi đến đhỗ trợ việc thu, chi tiền thắng thua; L
giao 6.000.000 đồng cho Nguyễn Hùng K Phạm Tấn T để thực hiện việc thu,
chi tiền đánh bạc. Nguyễn Văn Q người trực tiếp tham gia đặt cược. Tổng số
tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc trong cùng một lần là 65.490.000
đồng trong đó (số tiền thu giữ tại chiếu bạc 19.850.000 đồng. Số tiền thu giữ
trên người các con bạc 45.640.000 đồng), riêng bị cáo Q bị thu giữ stiền
7.200.000 đồng. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội vậy, Tòa án
cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hùng K về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm
c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc”
theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng người, đúng
pháp luật, không oan.
[2.2] Xét kháng cáo của các bị cáo về việc xin hưởng án treo hoặc giảm nhẹ
hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Hùng K: Khi quyết định hình phạt, Tòa án
cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của
bị cáo trong vụ án, bị cáo người được Văn L gọi đến, trực tiếp hỗ trợ việc
thu, chi tiền thắng thua cùng Phạm Tấn T được giao số tiền 6.000.000 đồng
để phục vụ việc tổ chức đánh bạc. Hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án
đồng phạm giản đơn, bị cáo K với vai trò người giúp sức cho L, chỉ làm
nhiệm vchung chi tiền thắng thua theo ý kiến của L. Án thẩm đã áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, ông bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bác
ruột là liệt sĩ là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, mức hình phạt 02 năm tù mà
7
Tòa án cấp thẩm đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội
và vai trò của bị cáo.
[2.2.2] Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hùng K trình bày gia
đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính, phải chăm sóc cha mẹ
già yếu nuôi 03 con đang đi học. Xét thấy, đối với tình tiết bị cáo 3 con
nhỏ dưới 15 tuổi, chưa được cấp thẩm đánh giá xem xét cho bcáo. Đây
tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng
xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo được hưởng. Đồng thời xét thấy bị cáo K
bị cáo T vai trò như nhau. Bị cáo nhân thân tốt, thấy không cần bắt bị
cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng đảm bảo việc giáo dục bị cáo trở thành người
công dân tốt, sống có ích cho gia đình hội, thấy không cần thiết cách ly bị
cáo ra khỏi đời sống hội cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình
phạt 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo thấy được s
khoan hồng của pháp luật, tích cực học tập, cải tạo thành công dân tốt, sống
có ích cho gia đình và xã hội.
[2.2.3] Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp
thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức đhành vi phạm tội; áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
người khuyết tật nặng, cha mẹ được Nhà ớc tặng thưởng Huân chương
kháng chiến, hoàn thành nghĩa v quân s là những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng, số tiền bị cáo Q tham gia đánh bạc ít hơn các bị cáo
khác cùng tham gia đánh bạc. Ngoài ra, bị cáo Q nhiều tình tiết giảm nhẹ
nhưng cấp sơ thẩm vẫn đánh giá và xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 (ba) năm
so với các bị cáo khác là có phần nghiêm khắc.
[2.2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bcáo Nguyễn Văn Q thay đổi kháng cáo
xin được giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng hình phạt tiền với do đã
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chấp hành tốt chính sách, pháp luật và là lao
động chính trong gia đình. Bản thân bị cáo người khuyết tật nặng, nếu phải đi
chấp hành án phạt sảnh hưởng lớn tới sức khỏe của bị cáo, chưa phù hợp
với chính sách nhân đạo của pháp luật hội chủ nghĩa. Bị cáo Q cũng xuất
trình cho Hội đồng xét xử phim chụp khám bệnh thể hiện bản thân bị cáo
người khuyết tật, khuyết tật nặng khớp háng đi lại khó khăn. Do đó, Hội đồng
xét xử xét thấy cần đánh giá đúng vai trò, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm
nhẹ mà bị cáo Q được hưởng và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị
cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt xử phạt tiền đối với bị cáo
phù hợp.
8
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có sở chấp nhận
kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hùng K Nguyễn Văn Q; theo hướng sửa
Bản án hình sự thẩm số 51/2026/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị
cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025; điểm h khoản 2
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hùng KNguyễn Văn Q;
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2026/HS-ST ngày 13/5/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo
Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
2024 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng K 02 (hai) năm tù, nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, ktừ ngày tuyên án phúc
thẩm.
Giao bị cáo K cho UBND Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục bị cáo
trong thời gian thử thách. Trường hợp bcáo thay đổi nơi tthì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị
cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc bị
cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 17, 58, khoản 1 Điều 54 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017, 2024 và 2025.
9
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
2. Ván phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự thẩm số 51/2026/HS-ST
ngày 13/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi không kháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND, TAND khu vực 2 - Quảng
Ngãi;
- CQCSĐT, THAHS, HSNV Công an
tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 2 - Quảng
Ngãi;
- UBND xã, Công an xã Đông Sơn;
- Các bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 102/2026/HS-PT Bản án số 102/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất