Bản án số 538/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 538/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 538/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 538/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N trả lại cho ông diện tích đất tranh chấp là 220,3m2 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 liên quan đến diện tích đất tranh chấp. Đối với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định và định giá tài sản tranh chấp ngày 21/3/2025, ông Đ thống nhất không yêu cầu đo đạc hay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 538/2026/DS-PT Bản án số 538/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 538/2026/DS-PT Bản án số 538/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 538/2026/DS-PT
Ngày: 14 - 8 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh;
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thúy;
Bà Tiêu Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 393/TB-TLVA ngày 20 tháng 7 năm 2026 về
tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 160/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 538/2026/QĐ-PT ngày 27
tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh ngày: 01/01/1952; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 30/01/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội (có mặt).
Cư trú tại: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Lê Tí N, sinh ngày: 01/01/1982; Căn cước công dân số:
************, cấp ngày: 14/08/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội (có mặt).
Cư trú tại: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Tăng Thị D, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
2. Bà Lê Ánh X, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã L, tỉnh Cà Mau.
2
3. Ông Lê Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
4. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
5. Ông Lê Tí L, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau.
6. Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã L, tỉnh Cà Mau
Người đại diện theo pháp luật:Nguyễn Hồng C; Chức vụ: Chủ tịch.
- Người kháng cáo:
Ông Lê Văn Đ là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024; Đơn khởi kiện bổ sung ngày
28/01/2026 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Văn Đ, trình
bày: Phần đất tranh chấp nguồn gốc của cụ Thị M mẹ ruột ông Đ. Vào
năm 2014, cụ M tặng cho ông Đ phần đất này. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của cụ M đã cập nhật chủ sở hữu sang hộ ông Đ. Đến năm 2023, ông Đ được Ủy
ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 330313, vào
sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH07558 ngày 20/11/2023, tại thửa số
362, tbản đồ số 10, diện tích 2830,4m
2
, đất tọa lạc tại ấp H, L, huyện Đ, tỉnh
Bạc Liêu. Kể từ khi được tặng cho đất, ông Đ sử dụng liên tục và ổn định đến nay.
Tuy nhiên, vào tháng 5/2024, ông Tí N thuê xe cải tạo phần đất tranh chấp nêu
trên nên hai bên phát sinh tranh chấp.
Qua đo đạc thực tế, ông Đ thống nhất phần đất tranh chấp diện tích
220,3m
2
, đất tọa lạc tại ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên kết quả đo đạc xác định
phần đất tranh chấp thuộc thửa 316, tờ bản đồ số 10 (theo hệ thống bản đồ chính quy
phê duyệt năm 2009) và việc Cơ quan chuyên môn xác định diện tích đất trên thuộc
một phần thửa 843, tờ bản đồ số 11 (theo bản đồ 299 cũ) đã được Ủy ban nhân dân
huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T2 theo quyết định
số 214/QĐ-UB ngày 14/6/1995 với tổng diện tích 2.300.0m
2
thì ông Đ không thống
nhất, ông Đ vẫn xác định diện tích đất trên thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 10 mà ông
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông Đ yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông N trả lại cho ông diện tích đất tranh chấp là 220,3m
2
yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 liên quan đến diện tích đất tranh
chấp.
Đối với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định định giá tài sản tranh chấp ngày
21/3/2025, ông Đ thống nhất không yêu cầu đo đạc hay định giá lại.
Theo bị đơn ông Tí N trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ
Thị M tặng cho cha ông là ông Văn T2. Từ khi được cho đất thì cha ông đã
thực tế sử dụng. Trước khi chết, cha của ông đã di chúc miệng để lại toàn bộ phần
3
đất của gia đình cho ông N. Sau khi cha ông chết, ông tiếp tục là người quản lý, sử
dụng đất đến khi xảy ra tranh chấp với ông Đ. Đối với phần đất tranh chấp, ông Đ
chưa từng canh tác. Trên phần đất tranh chấp hiện có một số cây do ông trồng, ông
thống nhất theo nội dung biên bản thẩm định tại chỗ mà Tòa án đã lập.
Qua đo đạc thực tế, ông Đ yêu cầu ông giao trả diện tích đất 220,3m
2
, đất tọa
lạc tại ấp T, L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay ấp T, L, tỉnh Mau) yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T2 liên quan đến phần
đất tranh chấp thì ông không đồng ý vì theo cơ quan chuyên môn xác định phần đất
trên thuộc một phần thửa 843, tbản đồ số 11 (theo bản đồ 299 cũ) đã được Ủy ban
nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha ông đúng theo
quy định của pháp luật.
Đối với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định định giá tài sản tranh chấp ngày
21/3/2025, ông N thống nhất không yêu cầu đo đạc hay định giá lại.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tăng Thị D, trình bày: mẹ
ruột của ông N vợ của ông Văn T2 (ông T2 đã chết vào ngày
25/10/2021). Bà và ông T2 chung sống với nhau tất cả 05 người con gồm ông
Văn T, ông Lê Văn T1, ông Lê Tí L, bà Ánh X, ông Lê Tí N. Ngoài ra, không có
con nuôi hay con riêng nào khác. Cha mẹ ruột của ông T2 cũng đã chết từ lâu. Khi
ông T2 còn sống đã được mẹ ruột là cM tặng cho đất và đã được Ủy ban nhân dân
huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất số E 946419, số vào sổ 09592
QSDD tại các thửa 0173; 0843, tbản đồ 11 với tổng diện tích 21.630m
2
; đất tọa lạc
tại ấp T, L, huyện G, tỉnh Minh Hải (cũ) ngày 10/10/1995. Trước khi chết, ông
T2 đã di chúc miệng cho lại ông N toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận nêu
trên. Được sự đồng thuận của gia đình, ông N đã khai được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất diện tích 19.330m
2
đất trồng lúa tại thửa 0173, tbản đồ số
11. Đối với diện tích 2.300m
2
tại thửa số 0843, tờ bản đồ số 11 do phát sinh tranh
chấp với ông Đ nên vẫn chưa hoàn tất thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Trong vụ án này, bà thống nhất với toàn bộ ý kiến và yêu cầu của ông
Lê Tí N. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Ánh X, ông Văn T, ông Lê Tí
L, trình bày: Các ông, con ruột của Tăng Thị D ông Văn T2. Trước
khi ông T2 chết đã di chúc miệng lại là để toàn bộ đất đai của gia đình cho ông
N. Sau khi ông T2 chết, do ông Đ phát sinh tranh chấp nên gia đình chưa hoàn
thành được hết thủ tục chuyển giao lại quyền sử dụng cho N đứng tên. Phần
đất tranh chấp với ông Đ thì ông Lê Văn T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nên các ông, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Trong vụ án này, các ông, thống nhất với toàn bộ ý kiến yêu cầu của ông
Tí N. Ngoài ra, các ông, bà không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn T1: Trong quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 đến Tòa án làm việc, tham gia
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải xét xử
nhưng ông T1 đều vắng mặt, không có lý do. Tòa án đã đến nơi cư trú tiến hành lấy
lời khai nhưng ông T1 không có mặt ở nhà nên không thể làm việc được.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã L, trình bày: Ủy
ban nhân dân L yêu cầu Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập
được trong vụ án để giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, Ủy ban
nhân dân không ý kiến. Tuy nhiên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Văn T2 về thủ tục đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Việc ông
Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 liên quan đến diện
tích đất tranh chấp đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được
trong vụ án để xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2026/DS-ST ngày 10/6/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 8 - Mau quyết định (tóm tắt):
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ đối với ông
Lê Tí N:
1.1. Yêu cầu ông N giao trả phần đất diện tích 220,3m
2
, thuộc một
phần thửa 316, tờ bản đồ số 10 theo hệ thống bản đồ chính quy được phê duyệt năm
2009; đất tọa lạc tại ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí và số đo như sau:
- H: Giáp đất ông Lê Văn T đang sử dụng có số đo 56,31m;
- Hướng Tây: Giáp đất ông Lê Tí N đang sử dụng có số đo 55,80m;
- H: Giáp đất ông Nguyễn Văn N1 đang sử dụng có số đo 04m;
- H: Giáp đường bê tông có số đo 04m.
1.2. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Văn T2 do
Ủy ban nhân dân huyện G (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 946419,
số o sổ 09592 QSDD ngày 10/10/1995 đối với phần đất diện tích 220,3m
2
thuộc
một phần thửa 316, tờ bản đồ số 10.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của đương sự theo luật định.
Ngày 23/6/2026 ông Lê Văn Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Lê Văn Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Lê Tí N yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo
pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Đ, giữ nguyên bản án dân
sự thẩm số: 160/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 8 - Cà Mau.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Văn Đ nguyên đơn nộp trong thời hạn
quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm
quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định thực hiện đúng theo quy định
pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy:
Các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ Lê Thị M,
nhưng không thống nhất việc cụ M giao đất cho ông Đ hay ông Lê Văn T2 quản lý,
sử dụng. Theo Bản vmặt bằng hiện trạng sử dụng đất lập ngày 28/4/2025, phần đất
tranh chấp có diện tích 220,3m², thuộc một phần thửa 316, tờ bản đồ số 10 theo hệ
thống bản đồ chính quy được phê duyệt năm 2009. Ông Đ và ông Lê Tí N đều thống
nhất kết quả đo đạc.
[3] Tại Công văn số 156/CNVPĐKĐĐ ngày 24/3/2026, Chi nhánh Văn phòng
Đ1 xác định phần đất tranh chấp diện tích 220,3m² thuộc một phần thửa 316, tờ bản
đồ số 10 theo bản đồ chính quy; đối chiếu bản đồ 299 thì thuộc một phần thửa
843, tờ bản đồ số 11, diện tích 2.300m², đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T2 theo Quyết định số 214/QĐ-UB
ngày 14/6/1995.
Nội dung này phù hợp với đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của ông T2, trong đó kê khai thửa 843, tờ bản đồ số 11, diện tích 2.300m²; đồng thời
phù hợp với dữ liệu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 946419 được
cơ quan đăng ký đất đai lưu trữ.
[4] Mặc dù ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
362, tờ bản đ số 10, diện tích 2.830,4m² vào năm 2023, nhưng tài liệu của cơ quan
chuyên môn không xác định diện tích 220,3m² tranh chấp thuộc thửa đất này. Ông
Đ cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp
nằm trong phạm vi giấy chứng nhận đã cấp cho ông hoặc chứng minh ông trực tiếp
quản lý, sử dụng đất từ năm 2014 như trình bày.
[5] Mặt khác, lời khai của những người làm chứng những người sinh sống
lâu năm tại địa phương đều xác định gia đình ông T2 đã quản lý, sử dụng phần đất
tranh chấp ổn định khoảng 40 đến 50 năm; sau khi ông T2 chết thì ông N tiếp tục
quản lý, sử dụng. Hiện trạng trên đất nhiều cây trồng do ông N trồng. Những
người làm chứng không mâu thuẫn với ông Đ; lời khai của hthống nhất với
nhau, phợp với hiện trạng sử dụng đất hồ địa chính nên căn cứ chấp
nhận.
[6] Như vậy, đủ sở xác định diện tích 220,3m² tranh chấp thuộc một
phần thửa 843, tờ bản đồ số 11 cũ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Văn T2 từ năm 1995, không thuộc thửa đất được cấp giấy chứng nhận
cho ông Đ. Việc ông N tiếp tục quản lý, sử dụng đất sau khi ông T2 chết phù hợp
với quá trình sử dụng thực tế của gia đình ông T2. Ông Đ không có chứng cứ chứng
6
minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình nên không căn
cứ buộc ông N giao trả đất.
[7] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông
Văn T2, hcấp giấy thể hiện ông T2 đã khai thửa 843, diện tích 2.300m²
và được cấp giấy chứng nhận theo Quyết định số 214/QĐ-UB ngày 14/6/1995. Quá
trình sdụng đất của gia đình ông T2 phù hợp với việc khai, đăng hồ
địa chính. Ông Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc cấp giấy chứng
nhận cho ông T2 trái pháp luật hoặc xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của ông.
Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là có căn cứ.
[8] Tại cấp phúc thẩm, ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới
làm thay đổi nội dung vụ án. vậy, Hội đồng xét xử không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Đ; cần ginguyên bản án thẩm theo khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[9] Chi phí tố tụng giữ nguyên theo Bản án sơ thẩm.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ là người cao tuổi đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[11] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bkháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn Đ.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 160/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ đối với ông
Lê Tí N:
1.1. Yêu cầu ông N giao trả phần đất diện tích 220,3m
2
, thuộc một
phần thửa 316, tờ bản đồ số 10 theo hệ thống bản đồ chính quy được phê duyệt năm
2009; đất tọa lạc tại ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí và số đo như sau:
- H: Giáp đất ông Lê Văn T đang sử dụng có số đo 56,31m;
- Hướng Tây: Giáp đất ông Lê Tí N đang sử dụng có số đo 55,80m;
- H: Giáp đất ông Nguyễn Văn N1 đang sử dụng có số đo 04m;
- H: Giáp đường bê tông có số đo 04m.
7
1.2. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Văn T2 do
Ủy ban nhân dân huyện G (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 946419,
số vào sổ 09592 QSDD ngày 10/10/1995 đối với phần đất diện tích 220,3m
2
thuộc
một phần thửa 316, tờ bản đồ số 10.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định gtài sản tranh chấp chi p
sao lục hồ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất tổng cộng 3.182.522 đồng,
ông Lê Văn Đ phải chịu toàn bộ. Ông Đ đã nộp xong và chi hết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Lê Văn Đ đơn xin miễn án
phí và thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp.
Các quyết định khác của Bản án dân sthẩm số 160/2026/DS-ST ngày
10/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Mau không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các
điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 8 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Giang Thị Cẩm Thúy Tiêu Hồng Phượng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 538/2026/DS-PT Bản án số 538/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 538/2026/DS-PT Bản án số 538/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất