Bản án số 131/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 131/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 131/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 131/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 131/2026/DS-PT Bản án số 131/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 131/2026/DS-PT Bản án số 131/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 131/2026/DS-PT
Ngày 21 - 8 - 2026
V/v tranh chấp quyền
sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho và bà Trịnh Thị Thu Lan.
- Thư phiên toà: Ông Tô Quang Đô - Thư Tán nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Lưu Thị -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 72/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6
năm 2026 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sthẩm số 01/2026/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 148/2026/QĐ-PT ngày
01 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn C, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn H, S,
tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số: ************ do Cục Cảnh sát quản
hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/4/2021.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan: Trương Thị V, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn D, xã S,
tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số: ************ do Cục Cảnh sát quản lý
hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/4/2021. Có mặt tại phiên toà.
2. Bị đơn: Lê Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn B, xã S, tỉnh Quảng
Ngãi; căn cước công dân số: ************ do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày 20/4/2021.
Người đại diện theo y quyền của bị đơn: Ông Đinh Văn H, sinh năm
1964; địa chỉ: E N, phường K, tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số:
2
************ do Cục Cảnh sát quản hành chính về trật tự xã hội cấp ngày
31/01/2024. Có mặt tại phiên toà.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Phi S, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn D, xã S, tỉnh Quảng Ngãi.
Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
+ Ông Tuấn H1, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn D, S, tỉnh Quảng
Ngãi. Vắng mặt tại phiên toà.
+ Ủy ban nhân dân S, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Thôn B, S, tỉnh
Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
+ Ông A H2, sinh năm 1936 Y P, sinh năm 1939; cùng địa chỉ: Thôn
D, xã S, tỉnh Quảng Ngãi. Đều vắng mặt tại phiên toà.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà
Trương Thị V và ông Trần Phi S trình bày:
Năm 1988, ông Trương Văn C đi bộ đội về đã làm “Đơn xin vườn” đề
ngày 16 - 7 - 1988 gửi Ủy ban nhân dân S (Sau này, Ủy ban nhân dân S
được chia tách thành Ủy ban nhân dân thị trấn Sa Thầy Ủy ban nhân dân
S, đến tháng 7 năm 2025 sáp nhập thành UBND xã S) để xin cấp một lô đất làm
nhà ở. Sau đó, ông C được cấp một lô đất tại đường H, thôn D, xã S, tỉnh Quảng
Ngãi (tỉnh Kon Tum cũ). Ông C sử dụng đất đến năm 1995 thì tặng cho vợ,
chồng Trương Thị V, ông Trần Phi S (việc tặng cho đất chỉ thoả thuận bằng
lời nói). Ông S, bà V tiếp tục canh tác đến năm 2010 thì được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với một phần lô đất mà ông C đã tặng cho. Phần đất
còn lại (gồm cả phần đất trong vụ án) chưa được cấp giấy chứng nhận do đang
xảy ra tranh chấp. Đến ngày 28/7/2022, Trương Thị V đi làm hồ đề nghị
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất còn lại thì được biết
Lê Thị N đã thực hiện việc kê khai tại Sổ mục kê UBND thị trấn S, đồng thời bà
Thị N làm đơn đề nghị ngăn chặn việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với V. Trương Thị V làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn S
hoà giải nhưng không thành, nên đã khởi kiện buộcLê Thị N phải trả lại phần
đất lấn chiếm diện tích 535,5m
2
. Sau khi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ
của Toà án thể hiện phần đất đang tranh chấp giữa ông C và N diện tích là
515,1m
2
. Do đó, phía nguyên đơn rút một phần đơn khởi kiện, chỉ yêu cầu bà
Thị N phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 515,1m
2
.
Bị đơn Thị N; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tuấn
H1; người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N ông Đinh Văn H trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do: Năm 1980 N
chuyển vào công tác sinh sống huyện S (cũ). Năm 1981, bà N phát dọn,
3
trồng hoa màu tại đường H, tại vị trí đất mà hiện tại bà Trương Thị V (là em ruột
của ông Trương Văn C) đang tranh chấp. Sau đó một thời gian thì N cho anh
trai ông Tuấn H1 phát dọn và làm nhà vào khoảng thời gian năm 1994,
đến năm 2000 thì xảy ra tranh chấp với Trương Thị V nên ông H1 không
nữa. Năm 2008, UBND huyện lấy một phần đất để làm sân bóng nên gia đình
chỉ trồng hoa màu (Mỳ sắn) để tăng thu nhập. Thời gian vừa qua, thửa đất nêu
trên là N ông H1 thay nhau quản lý, sử dụng. Ông Trương Văn C và
Trương Thị V không sử dụng diện tích đất này. Cách đây vài năm, ông H1 vẫn
trồng cây bời lời và cây ăn quả trên đất.
Sở trước đây N trình bày việc mua thửa đất đang tranh chấp t
Trương Thị X (Em của ông Trương Văn C) vì: Năm 1989 phía bị đơn đã mua lại
của Trương Thị X với số tiền coi như công phát dọn, khi mua giấy viết
tay, nhưng ông Tuấn H1 đã làm thất lạc giấy tờ mua bán đất. Sau khi mua
đất, theo chủ trương chung của Nhà nước thì năm 2002, Thị N đã đi
khai quyền sdụng đất tại quan thẩm quyền là UBND thị trấn S đã
tên tại sổ mục kê. Nội dung này đã được các cấp chính quyền địa phương xác
nhận. Việc N chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
Trương Thị V thường xuyên khiếu nại. Đối với tài liệu “Đơn xin vườn” của
ông Trương Văn C: Uỷ ban nhân dân thông qua ngày 27 - 8 - 1988 đã giải
quyết đất làm ncho ông Trương Văn C chứ không phải đất vườn theo đơn
của ông Trương Văn C, hiện tại V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tại phần đất được ông C tặng cho. Qua tiếp cận chứng cứ tại Toà án
cũng thể hiện, ông Trương Văn C viết giấy xác nhận không liên quan đất đai
đối với ông, bà N- Hạ (là vợ chồng Thị N ông Trương Quang H3).
Do vậy, đề nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Trương
Văn C vì không có căn cứ.
Tại biên bản làm việc với UBND thtrấn S (cũ) UBND S thhiện:
Vào năm 1988, Ủy ban nhân dân xã S (cũ) có xác nhận vào Đơn xin vườn” của
ông Trương Văn C đề ngày 16-7-1988. Còn việc cấp đất cho ông Trương Văn C
thì UBND S không rõ, UBND S không xác định được vị trí, diện tích của
lô đất mà ông C xin được cấp. Hiện nay, UBND xã S không lưu giữ tài liệu gì để
xác định được vị trí, diện tích của đất ông Trương Văn C được cấp theo
“Đơn xin vườn” của ông Trương Văn C đề ngày 16-7-1988, được Ủy ban nhân
dân S (cũ) xác nhận ngày 27-8-1988. Khi UBND huyện S tiến hành thu hồi
đất của công dân để làm sân bóng tại thôn D, S tkhông thu hồi đất tại
khu vực mà bà Lê Thị N và ông Trương Văn C đang tranh chấp.
Bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Quảng Ngãi đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 91, 144, 147, 157, 158, 165,
228, 229, 244, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự;
4
Áp dụng Điều 6, Điều 12, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Điều 5, Điều 11, Điều 26, Điều 138, Điều 236 Luật Đất đai 2024;
Căn cứ Điều 26 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện đã được
nguyên đơn ông Trương Văn C (qua người đại diện theo ủy quyền
Trương Thị V) rút yêu cầu.
2. Không chấp nhận toàn bộ phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn
C, về việc buộc bà Lê Thị N trả lại diện tích đất 515,1m
2
tại đường H, thôn D xã
S, tỉnh Quảng Ngãi (thôn D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum cũ).
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản: ông Trương
Văn C phải chịu 9.600.000đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Văn C phải chịu: 300.000đồng
Bản án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 15/5/2026, ông Trương Văn C đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Quảng Ngãi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Thị N phải trả cho ông diện
tích đất 515,1m
2
buộc bị đơn phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định
pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những
người tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập đúng quy định
pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hi đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về thời hạn kháng cáo, hình thức nội dung đơn kháng
cáo của nguyên đơn ông Trương Văn C đúng quy định tại Điều 272, Điều 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu
cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án. vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xem xét kháng cáo của nguyên đơn
ông Trương Văn C theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Văn C.
[2.1] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, ông Trương Văn C
cung cấp cho Tòa án “Đơn xin vườn” đề ngày 16- 7-1988 đứng tên ông Trương
Văn C, được Ủy ban nhân dân S xác nhận ngày 27-8-1988 cho rằng diện
tích đất tranh chấp một phần trong diện tích đất ông Trương Văn C được cấp
theo “Đơn xin vườn” này. Tuy nhiên, trong nội dung đơn này (kể cả phần xác
nhận của chính quyền địa phương) không thhiện vị trí, diện tích, giới cận
của đất ông Trương Văn C xin cấp được cấp. Vào năm 2010,
Trương Thị V ông Trần Phi S đã sử dụng Đơn xin vườn” này để làm hồ
đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân
huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BB 208566 ngày 05-5-2010 đối với thửa đất số 29, tờ
bản đồ số 75, diện tích 632m
2
. Từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, ông Trương Văn C cũng như Trương Thị V ông Trần Phi S không
khiếu nại gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 632m
2
.
[2.2] Về việc sử dụng diện tích đất tranh chấp:
Nguyên đơn không phải người sử dụng diện tích đất tranh chấp; trên đất
không tài sản của nguyên đơn có cây bời lời cây ăn quả do ông
Tuấn H1 (là anh ruột của bị đơn Thị N) trồng. Thị N khai người
sử dụng đất tên tại Sổ mục thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum (Nay là
xã S, tỉnh Quảng Ngãi).
[3] Nguyên đơn ông Trương Văn C yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình nhưng không giao nộp được cho Toà án tài liệu, chứng cứ để
chứng minh cho yêu cầu đó căn cứ hợp pháp. Do đó, Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đúng quy
định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn C không được
chấp nhận nên Toà án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố
tụng án phí dân sự thẩm phợp với quy định tại khoản 1 Điều 147,
khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung
kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Văn C, giữ nguyên bản án dân s
thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Trương Văn C không được
chấp nhận nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản
6
1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 1 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án plệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Văn C. Giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Quảng Ngãi.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trương Văn C phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm ông C đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002299 ngày 22 tháng 05 năm 2026. Ông
Trương Văn C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 8 – Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 8 – Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 8 – Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thị Mỹ Giang
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 131/2026/DS-PT Bản án số 131/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 131/2026/DS-PT Bản án số 131/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất