Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST ngày 11/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 87/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST ngày 11/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 87/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG
Bản án số: 87/2026/HN-ST
Ngày: 11 - 8 - 2026
V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San
- Thư phiên tòa: Duy Minh Thư viên Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang tham gia
phiên tòa: Ông Ma Công Đằng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Tuyên
Quang xét xử thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án dân sự thụ số
77/2026/TLST-HNGĐ, ngày 04/8/2026 về việc: Không công nhận quan hệ vợ
chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐST - HNGĐ, ngày
05/8/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971.
Số căn cước: ************ cấp ngày 26/8/2025.
Địa chỉ: Thôn G, xã N, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1975.
Số CCCD: ************ cấp ngày 24/6/2021.
Địa chỉ: Thôn G, xã N, tỉnh Tuyên Quang.
(Các đương sự đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, B tự khai Đơn xin giải quyết, xét xử
vắng mặt, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị D1 tự do tìm hiểu, tự nguyện
chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng do nhận thức pháp luật hạn chế nên
không làm thủ tục đăng kết hôn. Quá trình chung sống ông D1 chung
sống tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay thôn G,
N, tỉnh Tuyên Quang). Cuộc sống chung của ông D1 ban đầu bình thường.
Đến khoảng năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm
sống, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển
kinh tế gia đình. Ông bà D1 đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017
cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm với Nguyễn Thị D1 đã hết nên không
2
thể tiếp tục chung sống được nữa. Đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng giữa ông và bà Nguyễn Thị D1.
Về con chung: Quá trình chung sống ông Nguyễn Thị D1 01 con
chung là Nguyễn Văn D2, sinh ngày 08/3/1993. Hiện tại con chung của ông và bà
D1 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển đầy đủ vtâm thần, thể chất khả
năng tự lao động để nuôi sống bản thân nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống ông bà Nguyễn
Thị D1 không tài sản, đất đai, vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
* Tại Bản t khai; Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, b đơn
Nguyễn Thị D1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn D tự do tìm hiểu, tự nguyện
chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng do nhận thức pháp luật hạn chế nên
không làm thtục đăng kết hôn. Quá trình chung sống và ông D chung
sống tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay thôn G,
N, tỉnh Tuyên Quang). Cuộc sống chung của ông D ban đầu bình thường.
Đến khoảng năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm
sống, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển
kinh tế gia đình. ông D không còn chung sống với nhau từ năm 2017 cho
đến nay. Nay bà xác định tình cảm với ông D đã hết nên không thể tiếp tục chung
sống được nữa. Đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa bà và ông Nguyễn Văn D.
Về con chung: Quá trình chung sống ông Nguyễn Văn D 01 con
chung là Nguyễn Văn D2, sinh ngày 08/3/1993. Hiện tại con chung của bà và ông
D đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển đầy đủ về tâm thần, thể chất và có khả năng
tự lao động để nuôi sống bản thân nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống và ông Nguyễn
Văn D không tài sản, đất đai, vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Tuyên Quang tham gia phiên
tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định
của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp,
cách của người tham gia tố tụng; việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án
đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi
hồ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Tại phiên tòa, Thẩm phán; Tthực
hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XVIII của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền,
nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 320, 321, 322 Bộ
luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 35/2000/NQ QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội vthi hành
Luật hôn nhân Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
3
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D:
+ Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị D1.
+ Về con chung: Quá trình chung sống ông Nguyễn Văn D và
Nguyễn Thị D1 01 con chung Nguyễn Văn D2, sinh ngày 08/3/1993.
Hiện tại con chung của ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị D1 đã đ tuổi
trưởng thành, phát triển đầy đủ về tâm thần, thchất có khả năng tự lao động
để nuôi sống bản thân nên đề nghị không xem xét.
+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự đều xác định không có,
không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự
thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn Nguyễn Thị D1 không phải nộp tiền
án phí.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Thẩm phán tuyên quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án các chứng cứ đã được xem
xét tại phiên toà, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
[1] Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và xác định thẩm quyền giải
quyết vụ án:
Ông Nguyễn Văn D khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ
chồng với Nguyễn Thị D1, không yêu cầu giải quyết về con chung tài sản,
đất đai, vay nợ chung. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định
Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng”, các tranh chấp khác về hôn
nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản
8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thị D1 hộ khẩu thường
trú tại thôn G, xã N, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Tuyên Quang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản
1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do các đương sự đều địa chỉ nơi trú ràng; nội dung vụ án tình
tiết đơn giản, quan hệ pháp luật ràng; các đương sự đều đã thừa nhận nghĩa vụ
của mình; các chứng cứ, tài liệu do các đương sự giao nộp đã đầy đủ, đảm bảo đủ
căn cứ đgiải quyết vụ án, Tòa án không phải thực hiện việc thu thập tài liệu,
chứng cứ nên vụ án được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn phù hợp với
quy định tại Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương
sự:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thực hiện đúng quyền, nghĩa
vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án:
* Vquan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị D1 chung
sống như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không thực hiện việc đăng kết hôn tại
4
quan nhà nước thẩm quyền. Quá trình chung sống tình cảm giữa ông D
D1 ban đầu bình thường, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan
điểm sống, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn phát
triển kinh tế gia đình nên đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 cho
đến nay. Ông D xác định không còn tình cảm với D1 nên khởi kiện yêu cầu
Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vchồng giữa hai người. Xét thấy
rằng mặc ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị D1 chung sống với nhau như
vợ chồng từ năm 1992 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà
nước thẩm quyền nên không làm phát sinh quyền nghĩa v giữa vợ và
chồng, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị D1 là phù hợp
với quy định tại Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình Nghị
quyết số 35/2000/NQ QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật
hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Ông Nguyễn Văn D bà Nguyễn ThD1 đều xác định
quá trình chung sống 01 con chung Nguyễn Văn D2, sinh ngày 08/3/1993.
Cả hai đương sự cũng đều xác định con chung đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển
đầy đủ về tâm thần, thể chất và có đủ khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không xem xét.
* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự đều xác định quá trình
chung sống không tài sản, đất đai, vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết, do đó không xem xét.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D phải nộp án phí dân sự thẩm theo quy
định của pháp luật. Bị đơn Nguyễn Thị D1 không phải nộp án phí. Các đương
sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 8 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các
Điều 147, 320, 321, 322 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, khoản 2 Điều 53
Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết s35/2000/NQ QH10, ngày 09/6/2000
của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân Gia đình; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
D.
1. Về quan hhôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị D1.
2. Về án phí:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D phải nộp 150.00(Một trăn năm mươi
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí
5
Tòa án số 0000299, ngày 04/8/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang
(nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 Tuyên Quang). Trả lại cho ông
Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 150.000đ (Một trăm năm mươi
nghìn đồng).
Bị đơn Nguyễn Thị D1 không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D bị đơn
Nguyễn Thị D1 được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 07 (Bảy) ngày, kể
từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của
pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND khu vực 3 – Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- UBND xã Nà Hang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Hữu San
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST Bản án số 87/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất