Bản án số 385/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 385/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 385/2026/DS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 385/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 385/2026/DS-PT Bản án số 385/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 385/2026/DS-PT Bản án số 385/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia, bà Lê Thị Thái Lan
Thư phiên tòa: Trương Cẩm Nhung, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ số: 161/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 6 năm 2026 về
“Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất liền kề yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự thẩm s 20/2026/DS-ST ngày 30 tháng
3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2026/QĐXXDS-PT ngày 14/7/2026
giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Văn D, sinh năm 1965 và Nguyễn Thị N, sinh năm
1962; Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Văn D, bà Nguyễn Thị N
ông Ngô Minh T, sinh năm 1975; Địa chỉ trú: B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk
Có măt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh H, sinh năm 1944; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ,
tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
- Huỳnh Thị Thu T1, sinh năm 1968; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ,
tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Ông Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1971; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ,
tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Huỳnh Thị Ni N1, sinh năm 1973; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ,
tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 385/2026/DS-PT
Ngày: 13/8/2026
“V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
giữa các bất động sản liền kề yêu cầu chấm
dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Huỳnh Thị Kim E, sinh năm 1984; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ,
tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Ông Huỳnh T2, sinh năm 1977; Địa chỉ trú: Thôn P, H, tỉnh Đắk Lắk
Vắng mặt.
- Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1979; Địa chỉ trú: Thôn H, T, tỉnh Đắk
Lắk Vắng mặt.
- Huỳnh Thị Việt T3, sinh năm 1981; Địa chỉ trú: Khu phố P, phường P,
tỉnh Đắk Lắk– Vắng mặt.
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị C (chết).
+ Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ, tỉnh
Đắk Lắk– Vắng mặt.
+ Nguyễn Thị K, sinh năm 1969; Địa chỉ trú: Khu phố C, phường Đ, tỉnh
Đắk Lắk– Vắng mặt.
Người kháng cáo: nguyên đơn ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày:
Nguồn gốc thửa đất vchồng ông D, N đang sdụng do ông để lại
cho Nguyễn Thị C, sinh năm 1948 (là m của N) từ trước năm 1975. Năm
1975, C xây dựng một căn nhà cấp 4 trên thửa đất này. Sau đó, N kết hôn với
ông D và về sinh sống cùng bà C trên thửa đất nêu trên. Đến năm 1989, vợ chồng ông
D, bà N tiến hành sửa chữa lại căn nhà trên nền đất cũ.
Thửa đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay là thị Đ) cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 494139, số vào sổ cấp giấy chứng nhận:
CH00603, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 14D, diện tích 538m², tọa lạc tại thôn
C, H, thị Đ, tỉnh Phú Yên cho Nguyễn Thị C. Đến năm 2020, C đã tặng
cho thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông D, bà N.
Tháng 02/2020, khi ông D, bà N tiến hành xây dựng hàng rào trên diện tích đất
thì ông Huỳnh H hành vi cản trở, không cho xây dựng. Trên diện tích đất đang
tranh chấp có một hàng rào cây xanh kéo dài từ trước ra sau thửa đất. Sự việc đã được
Ủy ban nhân dân xã H tổ chức hòa giải giữa các bên nhưng không thành.
Theo đơn khởi kiện, ban đầu nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất
27,4m² (chiều rộng 1.96m x chiều dài 14m). Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ
án, sau khi tiến hành đo đạc hiện trạng thực tế, nguyên đơn xác định phần diện tích
đất còn thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 3,7m
2
theo chiều ngang,
thuộc phần ranh giới tiếp giáp với thửa đất của bị đơn, hiện trạng là hàng rào cây
xanh kéo dài. Nguyên đơn xác định chỉ tranh chấp phần diện tích đất theo bản vẽ hiện
trạng từ điểm 11 đến điểm 6 và giữ nguyên yêu cầu đối với phần diện tích này.
Nguyên đơn cho rằng, hành vi của ông Huỳnh H cản trở quyền sử dụng đất của
gia đình ông D, N là trái quy định của pháp luật. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa
án giải quyết buộc ông Huỳnh H trả lại phần diện tích đất nêu trên theo đúng Giấy
3
chứng nhận quyền sử dụng đất chấm dứt hành vi cản trở việc vợ chồng ông D,
N xây dựng hàng rào trên phần diện tích đất đã được Nnước công nhận quyền sử
dụng đất.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh H ý kiến trình bày: Nguồn
gốc thửa đất hiện nay ông H đang sử dụng do cha mẹ ông Huỳnh H2 Phù
Thị L1 tặng cho từ trước năm 1975. Đến năm 1981, ông H xây dựng nhà trên diện
tích đất này và sử dụng ổn định cho đến nay. Theo ông H, hiện trạng thửa đất từ trước
đến nay không có sự thay đổi, ranh giới giữa hai thửa đất đã được các bên sử dụng ổn
định từ lâu. Đến năm 2015, thửa đất nêu trên đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ (nay
thị Đ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 396551, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận: CH02512, đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 14D, diện tích
934,6m², tọa lạc tại thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (cũ) cho ông Huỳnh Hái .
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D, N về việc buộc ông H
trả lại phần diện tích đất còn thiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với chiều
ngang 3,7 m
2
, ông H không đồng ý không lấn chiếm đất của nguyên đơn, ranh giới
giữa hai thửa đất đã được xác lập và sử dụng ổn định từ trước đến nay. Bị đơn đề nghị
Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh
Thị Thu T1; ông Huỳnh Thanh H1; Huỳnh Thị Ni N1; ông Huỳnh T2; Huỳnh
Thị Kim L; bà Huỳnh Thị Việt T3; Huỳnh Thị Kim E tại bản tự khai thống nhất
ý kiến trình bày: Chúng tôi con của ông Huỳnh H Trần Thị Y (đã chết), đối
với việc tranh chấp giữa vợ chồng ông Văn D Nguyễn Thị N cha chúng
tôi ông Huỳnh H, ý kiến như sau: Nguồn gốc thửa đất do ông nội tặng cho
ông Huỳnh H ttrước năm 1975. Sau đó, vào năm 1975, ông Huỳnh H Trần
Thị Y xây dựng nhà trên thửa đất này. Đến năm 2015, thửa đất được cấp Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất. Trong suốt quá trình sử dụng đất, kể cả sau khi được
cấp Giấy chứng nhận, giữa các bên không phát sinh tranh chấp. Đến khi N, ông D
phá dỡ hàng rào cây xanh giữa hai nhà để xây dựng tường rào lấn qua phần đất của
cha tôi nên mới xảy ra tranh chấp. Do đó không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
N ông D. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết xác định ranh giới hàng rào giữa hai
bên theo như hiện trạng hàng rào cây xanh hiện nay phù hợp với Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của các bên.
Tại Bản án thẩm số 20/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn D, bà
Nguyễn Thị N vviệc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh H trả lại diện tích đất tranh chấp
3,7m² tại khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk không căn cứ. Ghi nhận sự t
nguyên của bị đơn điều chỉnh ranh giới, dịch chuyển vào phần đất của mình diện tích
khoảng 2m² theo các điểm mốc đã xác định trên bản vẽ hiện trạng ngày 17/12/2025.
Ranh giới giữa thửa đất số 166 thửa đất số 167, tờ bản đ14-D tại Khu phố C,
phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, được xác định như sau: Ranh giới tại cạnh phía Nam của
thửa đất 166 với cạnh phía Bắc của thửa đất 167 được xác định đường thẳng tiếp
giáp nhau xác định bởi các điểm 18-17-16-15-14-13-12-11; các điểm 8-9-10-11-a-8
và các điểm 8-7-6-a-6 theo bản vẽ hiện trạng (có sơ đồ bản vẽ hiện trạng kèm theo).
4
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn chấm dứt hành
vi cản trở quyền sdụng đất, không căn cứ xác định bị đơn hành vi cản trở
quyền sử dụng đất.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 14/4/2026 nguyên đơn ông Văn D và bà Nguyễn Thị N kháng cáo đề
nghị Tòa án buộc bị đơn ông Huỳnh H phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất lấn
chiếm 3,7m
2
.
* Tại phiên tòa phc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án sơ thẩm.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, T
những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định hợp lệ, được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án
thẩm số 20/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ,
lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo nộp tạm ứng án phí trong
thời hạn luật định là hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng
mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bluật Tố
tụng dân sự, quyết định tiếp tục xét xử.
Tại phiên tòa Phúc thẩm, ông NMinh T cung cấp Giấy ủy quyền của nguyên
đơn ông Văn D, Nguyễn Thị N xác định tại cấp thẩm tham gia tố tụng
với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nguyên đơn. Nhưng tại
phiên tòa phúc thẩm ông T xác định chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện
theo ủy quyền của các nguyên đơn. Do đó cần ghi nhận cách tham gia tố tụng theo
giấy ủy quyền.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp:
[2.1.1] Thửa đất số 166, tờ bản đồ 14-D, diện tích 538 m
2
tọa lạc tại thôn C,
H, thị Đ, tỉnh Ph Yên (cũ) hiện được ông D, N quản lý, sử dụng nguồn gốc
ông để lại cho Nguyễn Thị C (mẹ N) từ trước năm 1975, C đã xây nhà
cấp 4 trên thửa đất quản sử dụng ổn định đến năm 2020 làm thủ tục tặng cho
lại vợ chồng ông D, bà N.
5
Thửa đất nêu trên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 494139,
được UBND huyện Đ (cũ) cấp ngày 15/7/2013, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH
00603, với diện ch 538m
2
(gồm 200m
2
đất 338m
2
đất trồng cây hàng năm
khác), thửa đất số 166, tờ bản đồ 14-D tọa lạc tại thôn C, H, thị Đ, tứ cận:
Đông giáp thửa 165 của Nguyễn Thị T4; Tây giáp thửa 168 của ông Huỳnh H3;
Nam giáp đất ông Huỳnh H; Bắc giáp đường tông. Nguyễn Thị C đã tặng cho
ông Văn D Nguyễn Thị N được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện Đ (cũ) xác nhận theo hồ số 000775.TA.002 o ngày 17/4/2020 đối với
thửa đất trên.
Theo bản đồ đo đạc năm 1985, diện tích đất của bà Nguyễn Thị C thuộc thửa số
462, tờ bản đ7-A, diện tích 505m². Theo bản đồ đo đạc năm 1995, thửa đất
Nguyễn Thị C thuộc tờ bản đồ số 14-D giáp biên tờ 15-C, thửa số 166A, diện tích
561m² (trong đó cân đối theo nghị định 64/NĐ-CP có 200m
2
đất ở, 200m
2
đất quy
hoạch thổ 161m
2
đất hàng năm khác). Theo hồ sơ địa chính năm 1998, diện tích
đất của bà Nguyễn Thị C được cấp cho hộ Nguyễn Thị C có diện tích 361m
2
(gồm
200m
2
đất ở và 161m
2
đất vườn) thuộc quyển số 14- trang 159.
[2.1.2] Thửa đất số 167, tờ bản đồ 14-D, diện tích 934,6m
2
tọa lạc tại thôn C, xã
H, thị xã Đ, tỉnh Ph Yên (cũ) hiện được ông H quản lý, sử dụng nguồn gốc cha,
mẹ để lại từ trước năm 1975, đến năm 1981 đã xây nhà cấp 4 trên thửa đất quản
lý, sử dụng ổn định đến nay.
Thửa đất nêu trên được cấp Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB
396551, được UBND huyện Đ (cũ) cấp ngày 22/12/2015, svào sổ cấp giấy chứng
nhận CH 02512, với diện tích 934,6m
2
(gồm 200m
2
đất 734,6m
2
đất trồng cây
hàng năm khác), thửa đất số 167, tờ bản đồ 14-D tọa lạc tại thôn C, xã H, thị xã Đ,
tứ cận: Đông giáp đất Ủy ban quản lý; Tây giáp thửa 168 của ông Huỳnh H3 thửa
201 của ông ng C1; Nam giáp đất Ủy ban quản lý; Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị C.
Theo bản đồ đo đạc năm 1985, diện tích đất của ông Huỳnh H thuộc các thửa
494, tờ bản đồ 7-A, diện tích 280m², thửa 495 diện tích 290m², thửa 496
diện tích 250m². Tổng diện tích 820m². Theo bản đồ đo đạc năm 1995, thửa đất
ông Huỳnh H thuộc tờ bản đồ 14-D giáp biên tờ 15-C, thửa số 167A, diện tích
862m
2
(trong đó cân đối theo nghị định 64/NĐ-CP có 200m
2
đất ở, 200m
2
đất quy
hoạch thổ 462m
2
đất hàng năm khác), (sổ mục quyển số 1- trang 17). Theo hồ
sơ địa chính năm 1998, diện tích đất của ông Huỳnh H được cấp cho hộ ông Huỳnh H
diện tích 662m
2
(gồm 200m
2
đất 161m
2
đất vườn) thuộc quyển số 16- trang
43.
Diện tích thửa đất của Nguyễn Thị C ông Huỳnh H chênh lệch về diện
tích qua từng thời kỳ do quá trình đo đạc lập bản đồ có sai số, hiện trạng sử dụng
đất không thay đổi. Hai thửa đất của Nguyễn Thị C ông Huỳnh Hái H4 sử
dụng ở ổn định và không nằm trong quy hoạch (biên bản xác minh tại UBND xã H tại
các bút lục số 125, 126). Cả hai thửa đất đều được nhà nước cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp đều lời khai, chứng cứ về nguồn gốc, thể hiện
quyền sử dụng ổn định của từng hộ. Do vậy, ranh giới giữa hai thửa đất phải được
xác định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kết hợp với thực tế ranh giới s
dụng ổn định.
6
[2.2]. Về quá trình quản lý, sử dụng đất và hiện trạng ranh giới thực tế:
Các đương sự đều ý kiến xác nhận ranh giới giữa hai thửa đất được xác lập
bằng hàng rào cây xanh kéo dài từ trước ra sau, cả hai gia đình đều sử dụng ổn định,
liên tục không phát sinh tranh chấp cho đến trước năm 2020. Biên bản kiểm tra
ranh giới năm 2013 do quan đo đạc lập, đồ chữ xác nhận của các bên,
ghi nhận ranh giới giữa thửa 166 (ông D, N) thửa 167 (ông H). Ngoài ra, trong
quá trình lập hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân H
(cũ) cũng xác nhận ranh giới các thửa đất “sử dụng ổn định, không thay đổi”. Điều
này thể hiện giữa hai thửa đất đã tồn tại ranh giới thực tế ổn định (hàng rào cây xanh)
được các bên thừa nhận.
Theo trích đo hiện trạng địa chính khu đất ngày 25/3/2022, thửa đất 166 có diện
tích theo giấy chứng nhận 538m², đo đạc thực tế 535,7m² (giảm 2,3m²) thửa 167 có
diện tích theo giấy chứng nhận 934,6m², đo đạc thực tế 948,9m² (tăng 14,3m²). Tuy
nhiên, theo biên bản xác minh tại UBND H (cũ) xác nhận: hiện trạng sdụng đất
không thay đổi. Hai thửa đất của Nguyễn Thị C ông Huỳnh Hái H4 sử dụng
ổn định, sự chênh lệch diện tích do sai số trong quá trình đo đạc qua các thời kỳ,
không phải do việc thay đổi ranh giới sử dụng đất.
Xét yêu cầu của nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn sang phần diện tích 3,7m
2
thuộc quyền sử dụng của mình, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo kết quả đo đạc hiện
trạng, thửa đất số 166 thiếu 2,3m² và thửa đất số 167 thừa 14,3m². Tuy nhiên, UBND
xã H đã xác nhận sự chênh lệch này chỉ là sai số đo đạc kỹ thuật, chỉnh lý bản đồ qua
các thời kỳ, không phải là sự dịch chuyển ranh giới sử dụng đất.
Đối chiếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với kết quả đo đạc thực tế cho
thấy có sự sai lệch về kích thước và hình thể thửa đất, như cạnh phía Tây của thửa đất
số 166 tiếp giáp đường tông theo Giấy chứng nhận dài 37m nhưng thực tế chỉ còn
khoảng 36,76m; cạnh tiếp giáp thửa đất số 165 theo Giấy chứng nhận là đường xiên
dài 12,24m nhưng thực tế chỉ còn 10,38m dạng đường thẳng. Tuy nhiên,
nguyên đơn không yêu cầu tranh chấp đối với các ranh giới này; đồng thời, sự sai
lệch không chxảy ra tại một cạnh mà xuất hiện nhiều cạnh của thửa đất. Kết quả
xác minh của quan chuyên môn chính quyền địa phương đều xác định hiện
trạng sử dụng đất của các bên ổn định, không có sự thay đổi ranh giới thực tế. Đặc
biệt, ranh giới tiếp giáp trực tiếp giữa thửa đất số 166 và thửa đất số 167 là phần đang
tranh chấp không có biến động trong suốt quá trình sử dụng đất.
Mặt khác, theo bản vẽ hiện trạng, các bên đều thống nhất ranh giới sử dụng đất
từ điểm 18 đến điểm 10; phần phát sinh tranh chấp chỉ giới hạn từ điểm 11 đến điểm
6. Hội đồng xét xử thấy rằng ranh giới đã được các bên xác lập xác nhận tại
thời điểm đo đạc năm 2013, đầy đủ chữ của các hộ giáp ranh, phù hợp với tài
liệu địa chính được chính quyền địa phương xác nhận sử dụng ổn định, không
phát sinh tranh chấp trong thời gian dài. Đây ranh giới khách quan, giá trị pháp
lý và thực tế cao để làm căn cứ xác định ranh giới sử dụng đất giữa các bên.
Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bị đơn có hành
vi làm thay đổi ranh giới đã được xác lập, như việc dịch chuyển mốc ranh, thay đổi
hàng rào cây xanh hoặc xây dựng công trình vượt ranh. Do đó, không n c xác
định bị đơn đã lấn chiếm diện tích 3,7m² như nguyên đơn trình bày.
7
Từ những phân tích trên, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu
cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất có diện tích 3,7m² vì không có căn cứ, không phù
hợp với quá trình sử dụng đất của các bên. Xét thấy, đây tranh chấp ranh giới giữa
các bất động sản liền kề nên trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, cần phải xác định ranh giới, mốc giới giữa các thửa đất theo quy định tại
các Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự.
[2.3]. Về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất: Do không có
căn cứ xác định bị đơn có hành vi lấn chiếm đất, đồng thời ranh giới giữa hai thửa đất
đang tranh chấp chưa được xác định lại một cách chính thức tại thời điểm phát
sinh tranh chấp. Hai bên đều thừa nhận giữa hai thửa đất hàng rào cây xanh do
nguyên đơn trồng hàng rào này được sử dụng ổn định làm ranh giới cho đến khi
phát sinh tranh chấp năm 2020. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng đất không được chấp nhận.
[3]. Về án phí n sự phúc thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị N, ông Văn
D là người cao tuổi, ngày 14/4/2026 có đơn xin miễn chịu án phí nên không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 15.000.000
đồng, nguyên đơn phải chịu số tiền này theo quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ luật
tố tụng dân sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Văn D Nguyễn Thị
N.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm 20/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
[2] Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều
165; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175 và Điều 176 Bộ luật Dân
sự năm 2015; khoản 1 Điều 12; Điều 100; Điều 166, Điều 170 khoản 1 Điều 203
Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí toà án;
Tuyên xử:
[2.1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn D,
Nguyễn Thị N vviệc yêu cầu bị đơn ông Huỳnh H trả lại diện tích đất tranh chấp
3,7m² tại khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk không căn cứ. Ghi nhận sự tự
nguyên của bị đơn điều chỉnh ranh giới, dịch chuyển vào phần đất của mình diện tích
khoảng 2m² theo các điểm mốc đã xác định trên bản vẽ hiện trạng ngày 17/12/2025.
Ranh giới giữa thửa đất số 166 thửa đất số 167, tờ bản đ14-D tại Khu phố C,
phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, được xác định như sau: Ranh giới tại cạnh phía Nam của
thửa đất 166 với cạnh phía Bắc của thửa đất 167 được xác định đường thẳng tiếp
8
giáp nhau xác định bởi các điểm 18-17-16-15-14-13-12-11; các điểm 8-9-10-11-a-8
và các điểm 8-7-6-a-6 theo bản vẽ hiện trạng (có sơ đồ bản vẽ hiện trạng kèm theo).
[2.2] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng đất. không căn cứ xác định bị đơn hành vi
cản trở quyền sử dụng đất.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm, được khấu trừ vào stiền 300.000 đồng tạm ứng án pđã nộp tại biên lai
thu tiền số số 0003697 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị Đông
Hòa (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực A - Đắk Lắk).
[3.2] Về án phí dân sphúc thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị N, ông Văn D
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá i sản: Nguyên đơn phải
chịu chi phí đo đạc hiện trạng, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản
15.000.000 đồng (đã nộp đủ).
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- TAND khu vực 12 - Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 12 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 385/2026/DS-PT Bản án số 385/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 385/2026/DS-PT Bản án số 385/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất