Bản án số 499/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 499/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 499/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 499/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần P và ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N; không chấp nhận kháng cáo chị Lâm Kim Thị Thủy T2. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 499/2026/DS-PT Bản án số 499/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 499/2026/DS-PT Bản án số 499/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 499/2026/DS-PT
Ngày: 25-8-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất
yêu cầu huỷ Quyết định cá biệt của
quan, tổ chức”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thanh
Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 333/2026/TLPT-DS ngày 29/5/2026 về tranh
chấp: “Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu hủy Quyết định biệt của cơ quan,
tổ chức”.
Do Bn án Dân s thẩm s 35/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 ca
Toà án nhân dân khu vc 3 Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 444/2026/QĐ-PT ngày 09
tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 543/2026/QĐ-PT ngày
28/7/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P (OCB); địa chỉ: số D (tầng
trệt, lửng A, 2 của tòa nhà) và số D, đường L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
+ Ông Trịnh Văn T, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Hội đồng quản
trị).
2
+ Chị Phạm Hoàng Y, người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền số
03/2025/UQ-CT.HĐQT ngày 04/4/2025).
+ Anh Triệu Quang T1, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền
số 16/2023/UQ-CT-HĐQT ngày 14/3/2023).
+ Chị Đặng Thị Phương A; địa chỉ: số B, đường H, Phường C - Đ, tỉnh Lâm
Đồng, người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền số 141/2026/UQ-OCB
ngày 21/5/2026).
+ Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Kră Jăn S, anh Dương Đinh V, anh Lương Việt
D, sinh năm: 2000; địa chỉ: số B, đường H, Phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng,
người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản u quyền số 141/2026/UQ-OCB ngày
21/5/2026), anh D có mặt; chị Y, anh T1, chị Phương A, chị H, anh S, anh V vắng
mặt.
Bị đơn: Chị Lâm Kim Thị Thủy T2, sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn Q, N,
tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà K, sinh năm: 1972; địa chỉ: thôn Q, xã N, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
2/ Bà K1, sinh năm: 1978; địa chỉ: thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
3/ Vợ chồng ông K’Đăn, sinh năm: 1968, K3, sinh năm: 1969; địa chỉ:
thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
4/ Anh K4, sinh năm: 2000;
5/ Anh Ka G, sinh năm: 2003;
6/ Chị K5, sinh năm: 2003;
7/ Anh K’Đ, sinh năm: 1995.
Cùng cư trú tại thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
8/ n phòng C; địa chỉ: số E, đường P, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Thùy T3, người đại diện theo pháp
luật (Trưởng Văn phòng), vắng mặt.
9/ n phòng C1; địa chỉ: đường H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Văn T4, người đại diện theo pháp luật
(Trưởng Văn phòng), vắng mặt.
10/ Ông Hồ Đ1, sinh năm: 1972; địa chỉ: số E, đường P, Phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng, vắng mặt.
11/ Đặng Thị N, sinh năm: 1977; địa chỉ: số G, đường T, Phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
3
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Đ1, N: Luật Nguyễn
Phạm Thanh T5, sinh năm: 1997. Luật của Công ty L1 - Đoàn Luật tỉnh L;
địa chỉ: số A, đường T, Phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần P (O) Nguyên đơn; chị
Lâm Kim Thị Thủy T2 Bị đơn; ông Hồ Đ1, Đặng Thị N Người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
NI DUNG V ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 27/02/2024 của Ngân hàng thương
mại cổ phần P (sau đây gọi tắt O), lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá
trình tham gia tố tụng tại giai đoạn thẩm của người đại diện theo ủy quyền của
OCB, thì: Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh Đ2 chị Lâm Kim Thị
Thủy T2 thỏa thuận kết Hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-OCB-CN
ngày 11/5/2022 và khế ước nhận nợ số 0064 01/2022/KUNN-OCB-CN ngày
12/5/2022 để vay vốn tại Ngân hàng; cụ thể như sau: số tiền vay 5.500.000.000đ,
mục đích vay để bù đắp tiền mua bất động sản, thời hạn vay 240 tháng, lãi suất vay
8,49%/năm cố định trong 24 tháng đầu được áp dụng theo Quyết định số
723/2021/QĐ - TGĐ ngày 06/10/2021. Từ tháng thứ 25 trở đi áp dụng lãi suất cho
vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, k điều chỉnh lãi đầu tiên vào ngày
12/5/2024; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên quyền sử dụng diện tích đất 2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ 08 tọa lạc tại khu phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay là
Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy
ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007, việc thế chấp đã được
công chứng theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 tại
Văn phòng C, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó Ngân
hàng thương mại cổ phần P đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị
Lâm Kim Thị Thủy T2 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 5.300.023.889đ,
tiền lãi tính đến ngày 27/02/2024 146.391.686đ, tổng cộng 5.446.415.575đ,
yêu cầu chị T2 tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã với ngân
hàng tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 giữa
chị T2 với Ngân hàng để đảm bảo thi hành án.
Đồng thời, OCB không đồng ý với yêu cầu độc lập của vợ chồng ông K’Đăn,
K3 của K1 về việc đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất ngày 28/10/2020, được công chứng số 4482, quyển
số 03TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 giữa bên chuyển nhượng bà K1 và bên
nhận chuyển nhượng ch Lâm Kim Thị Thủy T2 đối với diện tích đất 2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ 08, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay
thôn K, Đ H) tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
4
083959 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007, hy
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số 0064/2022/BĐ
ngày 11/5/2022 được công chứng số 4659, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD
tại Văn phòng công chứng Phạm Thị Thùy T3 giữa bên thế chấp chị Lâm Kim
Thị Thủy T2 bên nhận thế chấp là OCB đối với tài sản nói trên.
- Theo lời trình bày của chị Lâm Kim Thị Thủy T2 thì: Ngày 11/5/2022 chị có
Hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-OCB-CN với Ngân hàng thương mại
cổ phần P, Chi nhánh Đ2 để vay số tiền 5.500.000.000đ, lãi suất 8,49%/năm, cố
định trong 24 tháng lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên, thời hạn
vay 240 tháng. Khi vay chị T2 có thế chấp diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ
08, toạ lạc tại thị trấn Đ, huyện L (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng cho Ngân hàng
theo Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất tài sản gắn liền với đất số
0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022. Nguồn gốc của diện tích đất này của ông,
ngoại chị T2. Do ông, bà ngoại đã chết từ lâu nên chị không nhớ họ tên, sau đó
ông, ngoại cho mẹ chị K thửa đất trên nhưng khi làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất thì K nhờ bà K1 (em gái của mẹ chị) đứng tên
giúp, trong diện tích đất này K đã cho vợ chồng ông K’Đăn, K3 10m chiều
ngang, chiều dài hết đất, ông K’Đăn quản diện tích đất này mấy chục năm nay,
phần đất còn lại bà K quản lý sử dụng.
Do cần tiền làm ăn nên chị mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
K để đi vay vốn, vậy K1 sang tên cho chị thông qua hợp đồng chuyển
nhượng ngày 06/11/2020. Sau khi đứng tên chị đã thế chấp tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Q, Chi nhánh Đ2 để vay 1.500.000.000đ. Sau đó chị trả nợ và tiếp tục
thế chấp để vay tại E, Chi nhánh Đ2 số tiền 2.500.000.000đ. Thời gian sau, chị vay
của ông Hồ Đ1, Đặng Thị N 1.000.000.000đ để trả một phần nợ gốc cho E, Chi
nhánh Đ2 nhằm vay nâng hạn. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của ông Đ1, bà N thì
chị không trả cho Ngân hàng mà sử dụng vào mục đích trả nợ, mua thiết bị xây nhà
Đ. Khi ông Đ1, N biết nên đã bắt chị viết giấy cam kết nội dung sau khi chị
trả 1.000.000.000đ cho ông Đ1, N thì sẽ hủy giấy viết tay giữa chị T2 ông
Đ1, bà N.
Sau đó, chị vay một khoản tiền khác để trả vào cho E, Chi nhánh Đ2 để lấy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ
phần P để vay số tiền 5.500.000.000đ. Ông Đ1, bà N biết chị thế chấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để vay tại OCB nên đã tố cáo chị đến quan Công an
nên chị bị bắt tạm giam và kê biên tài sản nêu trên. Số tiền 5.500.000.000đ chị vay
về trả số tiền vay đáo hạn 2.500.000.000đ, trả cho ông Đ1, N 100.000.000đ,
số tiền còn lại chị đầu tư kinh doanh và trả nợ khác.
Sau khi vay vốn tchị trả được cho OCB tiền gốc 199.976.111đ trả
lãi đến khi bị bắt ngày 30/11/2023. Nay Ngân hàng khởi kiện thì chị đồng ý trả
nợ theo hợp đồng tín dụng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định, đề nghị
5
Ngân hàng tạo điều kiện ngưng tính lãi hoặc giảm đến mức thấp nhất vì chị đang bị
giam, kinh tế khó khăn không khả năng trả, khi ra trại chị sẽ trả ngốc lãi
theo quy định. Đối với tài sản thế chấp thì chị xác định không phải tài sản của chị
của K, chị chỉ mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn
Ngân hàng nên yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Theo lời trình bày của K thì: là mẹ của chị Lâm Kim Thị Thủy T2.
Việc Ngân hàng thương mại cổ phần P khởi kiện yêu cầu chị T2 phải trả cho Ngân
hàng số tiền nợ gốc 5.300.023.889đ, tiền lãi theo hợp đồng n dụng tính đến
ngày 27/02/2024 146.391.686đ, tổng cộng 5.446.415.575đ tkhông biết,
không liên quan nên không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế
chấp số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 giữa chị T2 và Ngân hàng đối với diện tích
đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08, tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện L (nay Đ),
tỉnh Lâm Đồng thì thực tế diện tích đất trên là của bà, nguồn gốc đất là của cha, mẹ
là cụ ông K6, cụ bà K7 (hiện nay đã chết) cho từ năm 1989 cho anh
trai bà là vợ chồng ông K’Đăn, bà K3 07m chiều ngang, chiều dài hết lô đất từ năm
1989 đến nay, vợ chồng ông K’Đăn, K3 làm nhà vợ và các con cùng ở,
không ai tranh chấp, toàn bộ diện tích đất này nhờ K1 (em gái) đứng tên
giúp.
Đến năm 2020 con gái bà là chị T2 cần vốn làm ăn nên thống nhất làm thủ tục
cho chị T2 đứng tên đvay vốn Ngân hàng, do không hiểu biết nên chuyển
nhượng luôn cả phần đất vợ chồng ông K’Đăn, bà K3 đang cho chị T2. Nay
chị T2 không trả được nợ, Ngân hàng khởi kiện thì yêu cầu hủy một phần hợp
đồng thế chấp đối với phần đất của vợ chồng ông K’Đăn, K3 đang ở, phần còn
lại bà đồng ý để Ngân hàng xử lý trả nợ cho chị T2. Bà không yêu cầu quyền lợi gì
trong vụ án này.
- Theo lời trình bày của K1 thì: Cha, mẹ bà cụ ông K6, cụ K7 (hiện
nay đã chết) là chủ sử dụng diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08, tọa lạc tại
thị trấn Đ, huyện L (nay xã Đ), tỉnh Lâm Đồng; cách đây khoảng 30 năm cha,
mẹ chị gái là K vợ chồng anh trai là ông K’Đăn, K3 diện tích đất
trên nhưng nhờ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sdụng đất; trong đó v
chồng ông K’Đăn, K3 được cho 07m đến 08m chiều ngang kéo dài hết đất,
đã sinh sống ổn định từ 30 đến 40 năm nay, sau đó vợ chồng ông K’Đăn, bà K3
cho các con anh K4, anh Ka G, chị K5, anh K’Đăng làm nsinh sống ổn
định cùng với vợ chồng ông K’Đăn, bà K3 trên diện tích đất này. Năm 2020 chị T2
mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm ăn, do không hiểu biết nên
đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vừa nêu cho chị T2 mượn, không biết
hợp đồng chuyển nhượng cho chị T2 chỉ nghĩ cho chị T2 vay vốn.
Vợ chồng ông K’Đăn, K3 các con không biết việc chuyển nhượng, không
biết việc chT2 thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn Ngân hàng.
6
vậy, nay đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tán giải quyết: Tuyên hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
28/10/2020 giữa chT2 đối với diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08,
tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện L (nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng; hủy việc đăng ký biến
động sang tên cho chị T2 tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
083959 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007; hủy
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số 0064/2022/BĐ
ngày 11/5/2022 giữa chị T2 và OCB đối với diện tích đất nói trên.
- Theo lời trình bày của vợ chồng ông K’Đăn, K3 thì: Ngân hàng thương
mại cphần P khởi kiện yêu cầu chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải trả cho Ngân
hàng số tiền 5.446.415.575đ thì vợ chồng ông, bà không có ý kiến gì.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông, bà có yêu cầu
cụ thể như sau: Cha, mẹ ông K’Đăn là cụ ông K6 và cụ bà K7 chủ sử dụng diện
tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08 tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện L (nay xã Đ
H), tỉnh Lâm Đồng, cách đây khoảng 30 năm em gái bà K đất này nhưng
nhờ bà K1 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, bà K cho vợ
chồng ông, bà 07m đến 08m chiều ngang, chiều dài 100m để gia đình ông, sinh
sống hơn 30 năm nay. Năm 2020 chị T2 mượn Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất để làm ăn, K1 hợp đồng chuyển nhượng cho chị T2 cả phần đất của vợ
chồng ông, bà. Sau đó chị T2 thế chấp toàn bộ lô đất này để vay vốn làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông, ngoài diện tích đất này thì vợ chồng
ông, bà không còn đất nào để ở.
Do đó vợ chồng ông, bà có yêu cầu độc lập đề nghị Toà án hủy một phần hợp
đồng thế chấp quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất ngày 11/5/2022 giữa
chị T2 Ngân hàng đối với tài sản thế chấp diện tích đất chiều ngang
khoảng 07m, chiều dài khoảng 100m thuộc một phần thửa 85, tờ bản đồ 08 thị trấn
Đ, huyện L (nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng.
- Theo lời trình bày của anh K4, anh Ka G, chị K5, anh K’Đăng thì: Cha, mẹ
của các anh, chị ông K'Đan K3 đang sinh sống tại K, thị trấn Đ, huyện L
(nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng, có diện tích đất 2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ số
8. Hiện nay các anh, chị đã lớn nên cha mẹ cho các anh chị một phần thửa đất
85 chiều ngang 06m đến 07m, chiều dài 100m; trên đất căn nhà gỗ gia
đình các anh, chị đang sinh sống, nay chị T2 thế chấp diện tích đất thửa đất 85, tờ
bản đồ số 08 nói trên đvay vốn ngân hàng ảnh hưởng quyền lợi của các anh,
chị nên các anh, chị đồng ý với ý kiến của cha, mẹ; ngoài ra không trình bày
thêm.
- Văn phòng C không có văn bản trình bày ý kiến.
- Theo lời trình bày của ông Hồ Đ1, Đặng Thị N của ông Thanh T6,
người đại diện theo ủy quyền tại giai đoạn thẩm, thì: Ông Hồ Đ1 Đặng
7
Thị N không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc
lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào ngày 04/12/2023 tài sản
tranh chấp trong vụ án trên quyền sử dụng đất thuộc thửa 85, tờ bản đồ số 08,
tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện L (nay xã Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày
29/5/2007 đã được Công an tỉnh L biên theo Lệnh biên tài sản số 01/LKB-
VPCQCSDT ngày 04/12/2023 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên
tiếp tục duy tLệnh biên tài sản nêu trên để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho
ông Đ1 và bà N bị hại trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do hành vi của
chị Lâm Kim Thị Thủy T2 thực hiện. Việc này được ghi nhận tại nội dung của Bản
án Hình sự thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng, sau khi Bản án hiệu lực pháp luật, ông Đ1 N đã hyêu
cầu thi hành án đã được Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng tiếp nhận, thụ
theo Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 124/QĐ-THADS đề ngày 24/07/2025,
qua đó buộc chị T2 nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Đ1, N stiền
393.000.000đ. Như vậy, tài sản trên hiện đang tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ thi
hành án của chị T2 theo Bản án Hình sự thẩm nêu trên. Đề nghị Tòa án tiếp tục
giữ nguyên Lệnh biên và Quyết định thi hành án theo yêu cầu để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ1, bà N.
- Văn phòng C1 do ông Ngô Văn T4 người đại diện theo pháp luật trình
bày như sau: Vào ngày 28/10/2020 K1 và chị Lâm Kim Thị Thủy T2 đến
Văn phòng yêu cầu công chứng đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Ông đã tiếp nhận hồ yêu cầu hai bên xuất trình bản gốc giấy tờ cần thiết
để làm thủ tục. Khi kiểm tra xong thông tin các giấy tờ liên quan, ông thấy đầy
đủ, hợp lệ đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ông đã
kiểm tra các điều kiện khác như các bên giao kết năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp
đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức hội nên ông đã giao cho
chuyên viên văn phòng soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Sau đó, ông đã cho hai bên đọc lại dự thảo hợp đồng, đã nghe giải thích đồng ý
toàn bộ nội dung trong hợp đồng thì K1 chị T2 ký và điểm chỉ vào hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó Văn phòng công chứng đã chứng nhận
vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất việc phát hành hợp đồng theo
đúng quy định của pháp luật. Nay K1 yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất tài sản gắn liền scông chứng 4482, quyền
số 03TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng ngày 28/10/2020 không căn cứ
bởi trình tự thủ tục giải quyết hồ trên Văn phòng làm đúng theo quy định của
pháp luật và ý chí của các bên giao dịch.
Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành.
8
Tại Bản án số 35/2026/DS-ST ngày 31/3/2026; Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần
P về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với chị Lâm Kim Thị Thủy T2.
Buộc chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần
P số tiền nợ gc là 5.113.922.626đ nợ lãi tính đến ngày 31/3/2026
1.186.465.944đ, gồm lãi trong hạn 1.033.213.425đ, lãi quá hạn 71.762.852đ,
lãi phạt chậm trả lãi là 81.489.667đ. Cộng chung là 6.300.388.570đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm chị Lâm Kim Thị Thủy T2 còn
phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo theo hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-
OCB-CN ngày 11/5/2022 đã giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh
Đ2 đối với chị Lâm Kim Thị Thủy T2 cho đến khi chị Lâm Kim Thị Thủy T2 trả
nợ dứt điểm cho Ngân hàng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P
về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 được công chứng s4659, quyển số
05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Phạm Thị Thùy T3 giữa
bên thế chấp chLâm Kim Thị Thủy T2 bên nhận thế chấp Ngân hàng thương
mại cổ phần P đối với tài sản thế chấp diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ
08 thị trấn Đ, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay là thôn K, Đ),
tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban
nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà K1 và vợ chồng ông K’Đăn, K3.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 28/10/2020, được công chứng số 4482, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ti
Văn phòng C1 giữa bên chuyển nhượng K1 bên nhận chuyển nhượng chị
Lâm Kim Thị Thủy T2 đối với diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08 thị trấn
Đ, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L, (nay thôn K, Đ), tỉnh Lâm
Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân
huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007.
Đương sự được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để đăng
kê khai, điều chỉnh biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản
trên đất theo quy định của pháp luật phù hợp với hiện trạng thực tế đang sử
dụng.
Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số
0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 được công chứng số 4659, quyển số 05/2022
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Phạm Thị Thùy T3 giữa bên thế
chấp chị Lâm Kim Thị Thủy T2 bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ
phần P đối với tài sản thế chấp diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tbản đồ 08 thị
9
trấn Đ, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay là thôn K, xã Đ), tỉnh Lâm
Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân
huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007.
4. Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần P phải trả lại bản chính Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm
Đồng cấp ngày 29/5/2007 cho bà K1.
5. Chi nhánh Văn phòng Đ3 căn cứ vào Bản án của Tòa án để giải quyết xóa
điều chỉnh các đăng biến động (phần sang tên cho chị Lâm Kim Thị Thủy T2
ngày 06/11/2020, đăng thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Ngân hàng thương
mại cổ phần P ngày 11/5/2022) đã đăng ký tại trang IV Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
29/5/2007 cho bà K1 đối với diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08 thị trấn Đ,
tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay là thôn K, xã Đ), tỉnh Lâm Đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và
trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 06/4/2026 Ngân hàng thương mại cổ phần P kháng cáo đề nghị cấp
phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc
đề nghị tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 giữa
OCB chị Thủy T2 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Không chấp nhận yêu cầu
độc lập của K1 về việc yêu cầu tuyên hủy hợp đồng thế chấp số 0064/2022/BĐ
ngày 11/5/2022 giữa OCB chị Thủy T2, không buộc Ngân hàng phải chịu chi
phí tố tụng.
Ngày 29/4/2026 ông Hồ Đ1, Đặng Thị N kháng cáo một phần Bản án
thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu độc lập của K1 và vợ chồng ông K’Đăn, bà K3. Xác định hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất ngày 28/10/2020 hiệu
lực pháp luật, xác định việc đăng ký biến động sang tên cho bà Thủy T2 tại trang 4
của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân huyện
L, tỉnh Lâm Đồng (cũ) cấp ngày 29/5/2007 cho K1 đối với diện tích đất
2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại Đ, tỉnh Lâm Đồng theo quy
định của pháp luật.
Ngày 05/6/2026 chị L Kim Thị Thủy T2 kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm,
đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa phần tính lãi suất đến ngày
31/3/2026 là 1.186.465.944đ, trong đó gồm tiền lãi trong hạn 1.033.213.425đ,
lãi quá hạn là 71.762.852đ, lãi chậm trả là 81.489.667đ và không đồng ý trả tiền lãi
cho Ngân hàng, đồng thời đề nghị tạm dừng tính lãi suất kể từ ngày chị đi chấp
hành án phạt tù.
Tại phiên tòa,
10
Anh Lương Việt D, người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng thương mại
cổ phần P, vẫn giữ nguyên kháng cáo; luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
ông Hồ Đ1 Đặng Thị N đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Đ1 N.
K đồng ý duy trì hợp đồng thế chấp sau khi trừ phần diện tích đất vợ chồng
ông K’Đăn, bà K3 và các con đang sử dụng để đảm bảo cho việc trả nợ của chị T2
đối với Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề chấp nhận một phần
kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần P ông Hồ Đ1, Đặng Thị N;
không chấp nhận kháng cáo của chị Lâm Kim Thị Thủy T2, sửa Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ
phần P; chị Thủy Tiên ông Hồ Đ1, Đặng Thị N; thủ tục kháng cáo được thực
hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đủ
điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của chị Lâm Kim Thị Thủy T2 thì thấy rằng:
[2.1] Ngày 11/5/2022 chị L Kim Thị Thủy T2 Hợp đồng tín dụng số
0064/2022/HĐTD-OCB-CN với Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh Đ2
để vay stiền 5.500.000.000đ, lãi suất 8,49%/năm, cố định trong 24 tháng lãi
suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng, thời hạn vay 240 tháng; từ tháng 25 trở đi
áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, kỳ điều chỉnh lãi đầu tiên
ngày 12/5/2024; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn; lãi chậm trả
10%/năm hoặc theo mức lãi lãi khác do Ngân hàng xác định nhưng không vượt
quá mức lãi suất tối đa do pháp luật quy định. Để đảm bảo cho khoản vay này, chị
T2 đã hợp đồng thế chấp số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 với Ngân hàng đối
với diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ 08, tọa lạc tại Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng thương mại cổ phần P xác định chị T2 đã trả
được một phần nợ gốc là 386.077.374đ; bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và
lãi từ ngày 10/9/2024.
[2.2] Qua xem xét thì thấy rằng, Hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-
OCB-CN ngày 11/5/2022 khế ước nhận nợ số 0064.01/2022/KUNN-OCB-CN
ngày 12/5/2022 giữa chị Lâm Kim Thị Thủy T2Ngân hàng thương mại cổ phần
P, Chi nhánh Đ2 được xác lập trên sở hoàn toàn tự nguyện, hình thức nội
dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
hội. Đồng thời, tại đơn kháng cáo của chị Lâm Kim Thị Thủy T2 trình bày: “Sau
khi hợp đồng tín dụng nêu trên tôi vẫn duy trì hợp đồng trả nợ gốc lãi đúng
11
hạn và tôi đã trả được một phần nợ gốc là 386.077.374đ. Nhưng đến ngày
30/11/2023 tôi bị quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh L bắt tạm giam về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 20/02/2023 tôi bị Toà án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng xử phạt 08 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Kể từ ngày tôi đi
chấp hành án gia đình tôi lâm vào hoàn cảnh khó khăn...bản thân tôi đã ly hôn,
các con còn nhỏ, bố mẹ tuổi cao, sức yếu, thường xuyên đau ốm bệnh tật còn phải
thăm nuôi tôi hàng tháng, em trai tôi gia đình riêng con còn nhỏ không
nghề nghiệp ổn định...Tôi đề nghị Toà án xem xét cho tôi được tạm dừng phát sinh
hợp đồng số 0064/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 11/5/2022, kể từ ngày tôi đi chấp
hành án ngày 20/02/2025. Tôi chấp nhận trả số nợ gốc là 5.113.922.626đ và lãi t
ngày tôi bị bắt giam ngày 30/11/2023 đến ngày tôi đi chấp hành án ngày
20/02/2025 khi tôi thực hiện xong án phạt tù...”.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản
3 Điều 98; Điều 117, Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ
chức tín dụng năm 2010, Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2024 hướng dẫn tại Điều 7 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất,
phạt vi phạm thì Hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-OCB-CN ngày
11/5/2022 Khế ước nhận nợ số 0064.01/2022/KUNN-OCB-CN ngày 12/5/2022
giữa chị Lâm Kim Thị Thủy T2 Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh
Đ2 hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.
Việc chị T2 cho rằng đang chấp hành án nên không điều kiện trả nợ; xét do
này không thuộc trường hợp được hoãn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng,
nguyên đơn cũng không đồng ý nên không căn cứ xem xét. Vấn đề này sẽ được
các bên thoả thuận tại giai đoạn thi hành án theo quy định của pháp luật và trên cơ
sở tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn. Do đó Toà án cấp sơ thẩm buộc chị T2
trách nhiệm trả cho O tổng số tiền 6.300.388.570đ, trong đó n gốc là
5.113.922.62nợ lãi tính đến ngày 31/3/2026 1.186.465.944đ căn cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[3] Đối với kháng cáo của O và ông Đ1, bà N thì thấy rằng:
[3.1] đất diện tích 2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ 08, tọa lạc tại tổ
dân phố K, thị trấn Đ, huyện L, (nay là thôn K, Đ H), tỉnh Lâm Đồng nguồn
gốc của cha, mẹ của K sau đó thì cho K sử dụng; sau khi K cho vợ chồng
ông K’Đăn, K3 một phần đất để làm nhà thì các bên để K1 đứng tên giúp;
việc này cũng được chính K1 thừa nhận các bên không stranh chấp về
nguồn gốc đất cũng như quyền sdụng đất thuộc về ai. Năm 2020 K1 hợp
đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất cho chị Thủy
T2, được Văn phòng C1 chứng nhận số 4482, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 28/10/2020 theo quy định của pháp luật. Ngày 06/11/2020 chị T2 đã được
đăng biến động sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện
12
tích đất này; sau đó mang thế chấp cho nhiều Ngân hàng khác nhau để vay tiền.
Tại giai đoạn sơ thẩm, bà K đồng ý duy trì hợp đồng thế chấp sau khi trừ phần diện
tích đất vợ chồng ông K’Đăn, K3 các con đang sử dụng để đảm bảo cho
việc trả nợ của chị T2 đối với Ngân hàng nhưng Toà án cấp thẩm lại chấp nhận
toàn bộ yêu cầu độc lập của K1 vợ chồng ông K’Đăn, bà K3 để hủy toàn bộ
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
28/10/2020, được công chứng số 4482, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn
phòng C1 giữa K1 và chị Thủy T2 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất số 0064/2022/BĐ ngày 11/5/2022 được công chứng số
4659, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Phạm Thị
Thùy T3 giữa bên thế chấp chị Lâm Kim Thị Thủy T2 bên nhận thế chấp
Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với diện tích đất 2.639m
2
thửa 85, tờ bản đồ
08, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là không chưa
đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng cũng như sự tự nguyện quyền tự định đoạt
của bà K.
[3.2] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc ngày 23/4/2025 sự
chứng kiến của đại diện Ngân hàng thì thửa đất số 85 đang do vợ chồng ông
K’Đăn, K3 cùng các con là anh K4, anh Ka G, chị K5, anh K’Đăng và K
sinh sống, canh tác, trồng cà phê. Trong đó, trên phần đất có chiều ngang 07m, kéo
dài đến hết đất được gia đình ông K’Đăn, bà K3 xây dựng 03 căn nhà gồm căn nhà
đầu tiên do vợ chồng ông K’Đăn, bà K3 đang ở, nối liền phía sau là 02 căn nhà xây
cấp 4 được vợ chồng ông K’Đăn, K3 xây dựng cho anh K4, anh Ka G, chị K5,
anh K’Đăng các đương sự này đang ổn định, phần đất còn lại được sử dụng
trồng phê do K quản , sử dụng. Quá trình thẩm định tài sản để cho vay
Ngân hàng cũng không làm xác minh nội dung này, tại sao đất đứng tên chị
T2 gia đình ông K8 lại làm nhà sinh sống trên đất đồng thời Ngân hàng
cũng không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh gia đình ông K8 biết việc thế
chấp này nên Ngân hàng không phải người thứ ba ngay tình theo quy định tại
khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với diện tích đất gia đình ông
K8 đang sinh sống, quản lý và sử dụng, do vậy hợp đồng thế chấp đối với diện tích
đất này vô hiệu.
[3.3] Theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng sdụng đất do Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai khu vực L thực hiện ngày 23/5/2025 thì tổng diện tích đất theo đo
đạc thực tế 2.813m
2
, trong đó diện tích đất K đang sử dụng 2.165m
2
thuộc
một phần thửa 85; vợ chồng ông K’Đăn, K3 đang sử dụng 648m
2
(trong đó
393m
2
thuộc một phần thửa 85 và 255m
2
thuộc một phần thửa 86), tờ bản đồ số
08, toạ lạc tại xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Do đó cần tuyên vô hiệu một phần hợp chuyển
nhượng thế chấp quyền sử dụng đối với phần diện tích đất 393m
2
thuộc một
phần thửa 85, tờ bản đồ số 08 vợ chồng ông K’Đăn, K3 cùng các con đang
quản lý, sử dụng là có căn cứ. Cấp sơ thẩm tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng và
13
thế chấp diện tích đất nói trên chưa chính xác nên cần sửa lại cách tuyên phù
hợp.
Ngoài ra, trên diện tích đất thuộc một phần thửa 85 thuộc quyền sử dụng của
K hiện một phần căn nhà do ông K’Đăn làm lấn sang đang quản lý, sử
dụng. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương skhông tranh chấp vphần diện
tích đất này nên tại giai đoạn thi hành án các bên quyền thoả thuận thương
lượng với nhau. Trong trường hợp Ngân hàng phát mãi tài sản thì ông K’Đăn được
quyền ưu tiên mua lại đối với phần diện tích đất này.
[4] Đối với yêu cầu hủy đăng biến động tại trang 4 của Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AK 083959 thì thấy rằng: như trên đã phân tích, do phần lớn
diện tích đất thuộc thửa 85 thuộc quyền sử dụng của K; đồng thời hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp chỉ vô hiệu một phần nên
không căn cứ để chấp nhận yêu cầu huỷ đăng biến động nói trên dành
quyền cho các đương sliên hvới quan nhà nước thẩm quyền để làm thủ
tục đăng khai, biến động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
[5] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân
hàng thương mại cổ phần P; chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Đ1, Đặng Thị N;
không chấp nhận kháng cáo của chị Lâm Kim Thị Thủy T2, sửa Bản án thẩm
theo hướng đã nhận định.
[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ
4.000.000đ; Ngân hàng đã tạm nộp được cấp thẩm quyết toán xong. Do yêu
cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận một phần nên cần buộc Ngân hàng
và chị Lâm Kim Thị Thủy T2 mỗi bên phải chịu ½ chi phí nói trên; chị T2 có trách
nhiệm trả lại toàn bcho Ngân hàng số tiền 2.000.000đ tương ứng với tỷ lệ phải
chịu.
[7] Ván phí: Do sửa án liên quan đến kháng cáo của mình nên Ngân hàng
thương mại cổ phần P ông Hồ Đ1, Đặng Thị N không phải chịu án phí Dân
sự phúc thẩm. Chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm do
kháng cáo không được chấp nhận.
Các đương sự phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 116, 122, 123, 130, 317, 500, 503 Bộ luật Dân sự năm
2015;
- Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
14
- Căn cứ các Điều 100, 103 và 210 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
- Căn cứ các khoản 2, 6 Điều 26, các khoản 1, 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần P ông
Hồ Đ1, Đặng Thị N; không chấp nhận kháng cáo chị Lâm Kim Thị Thủy T2.
Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 ca Toà
án nhân dân khu vc 3 Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P về việc:
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với chị Lâm Kim Thị Thủy T2.
Buộc chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần
P stiền 6.300.388.570đ (sáu tỷ ba trăm triệu ba trăm tám mươi tám nghìn năm
trăm bảy mươi đồng) trong đó nợ gc là 5.113.922.626đ (năm tỷ một trăm mười ba
triệu chín trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng) nợ lãi tính đến
ngày 31/3/2026 1.186.465.944đ (một tỷ một trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm
sáu mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng).
Kể từ ngày 01/4/2026, chị Lâm Kim Thị Thủy T2 còn phải tiếp tục chịu lãi
phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0064/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 11/5/2022
giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P, Chi nhánh Đ2 chị Lâm Kim Thị Thủy
T2 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc còn thiếu. Trường hợp trong hợp
đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng
thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất chị T2 phải tiếp tục thanh toán cho
Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù
hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần
P về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất;
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của K1 về việc: “Yêu cầu huỷ hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất”;
Chấp nhận yêu cầu độc lập vợ chồng ông K’Đăn, K3 về việc: “Yêu cầu
hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
2.1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất giữa K1 chị Lâm Kim Thị Thủy T2 được Văn phòng C1, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/10/2020 đối với đất diện tích 2.639m
2
thuộc
thửa 85, tờ bản đồ 08 thị trấn Đ, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay
thôn K, Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
15
083959 do Ủy ban nhân dân huyện L (cũ), tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007
hiệu một phần đối với diện tích đất 393m
2
.
2.2. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất số 0064/2022/BĐ giữa chị Lâm Kim Thị Thủy T2Ngân hàng thương mại cổ
phần P được Văn phòng C, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/5/2022
đối với đất diện tích 2.639m
2
thuộc thửa 85, tờ bản đồ 08 thị trấn Đ, tọa lạc
tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay thôn K, Đ), tỉnh Lâm Đồng theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 083959 do Ủy ban nhân dân huyện L
(cũ), tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007 hiệu một phần đối với diện tích đất
393m
2
.
Các đương sự được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để
làm thủ tục đăng khai, điều chỉnh biến động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật phù hợp với
hiện trạng thực tế đang sử dụng.
(Có hoạ đồ đo đạc thửa đất theo hiện trạng sử dụng do Chi nhánh Văn phòng
Đ3 thực hiện ngày 23/5/2025 kèm theo).
2.3. Tiếp tục duy trì một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất số 0064/2022/BĐ giữa chị Lâm Kim Thị Thủy T2 Ngân
hàng thương mại cổ phần P được Văn phòng C, quyển số 05/2022 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 11/5/2022 đối với diện tích đất 2.165m
2
thuộc một phần thửa
85, tờ bản đồ 08 thị trấn Đ, tọa lạc tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L (nay
thôn K, Đ), tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
083959 do Ủy ban nhân dân huyện L (cũ), tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 29/5/2007.
Trong trường hợp chị Thủy T2 chưa thanh toán xong khoản tiền nói trên thì
OCB được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền tiến hành kê
biên để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc OCB chị Lâm Kim Thị Thủy T2 mỗi bên phải
chịu 2.000.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đo vẽ. Chị T2 trách
nhiệm trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần P stiền 2.000.000đ (hai triệu
đồng).
4. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần P phải chịu 300.000đ án phí Dân sự
thẩm, được trừ vào số tiền 56.723.000đ tạm ứng án phí Dân sự thẩm đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004522 ngày 13/3/2024 của Chi
cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án
Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng). Ngân hàng được nhận lại số tiền 56.423.000đ tạm
ứng án phí Dân sự sơ thẩm còn thừa.
16
Chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
K1 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, K1 được nhận lại số tiền
600.000đ đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005559
ngày 26/6/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
(nay Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 Lâm Đồng) số 0002573 ngày
21/8/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Vợ chồng ông K’Đăn, K3 không phải chịu án phí Dân sự thẩm, vợ
chồng ông K’Đăn, K3 được nhận lại số tiền 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005356 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực
3 Lâm Đồng).
- Án phí phúc thẩm:
Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải phải chịu án phí Dân sphúc
thẩm; Ngân hàng được nhận lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006462 ngày 13/4/2026
của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N không phải phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm;
ông Đ1, bà N được nhận lại số tiền 600.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã
nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008411 và số 0008410,
cùng ngày 08/5/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Chị Lâm Kim Thị Thủy T2 phải chịu 300.000đ án phí Dân sự phúc thẩm,
được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên
lai thu số 0011623 ngày 19/6/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. ChT2
đã nộp đủ án phí Dân sự phúc thẩm.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và Điều 72
Luật Thi hành án Dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
17
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 3 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 3 - Lâm Đồng
(01);
- Các đương sự (13);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 499/2026/DS-PT Bản án số 499/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 499/2026/DS-PT Bản án số 499/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất