Bản án số 227/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 227/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 227/2026/DS-PT ngày 20/08/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 227/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn N - Phạm Ngọc T - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 227/2026/DS-PT Bản án số 227/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2026/DS-PT Bản án số 227/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 227/2026/DS -PT
Ngày 20 tháng 8 năm 2026
V/v Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế và
yêu cầu tháo dỡ tài sản gắn liền trên đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Ông Nguyễn Văn Thọ
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thu Trang - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Vin kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
ông Nguyễn Hữu Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ số: 93/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2026
về việc “Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế yêu cầu tháo dỡ tài sản gắn liền trên
đất’’.
Do Bản án thẩm s: 276/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 10- Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 190/2026/QĐ-PT ngày
29 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nha; sinh m 1943; căn cước công dân số:
************; địa chỉ: Tổ dân phố thôn Bắc Hà, phường Điện Bàn Bắc, thành phố
Đà Nẵng. (có mặt)
Người đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Toà án là: Ông Trần n
Công Bằng; sinh m 1988; địa chỉ: Tổ 23, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền công chứng ngày 13/11/2023. (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc Tuấn; sinh năm 1964; căn cước công dân số:
************; địa chỉ: Số 223/75 đường Phan Đình Phùng, khu phố Quang Vinh,
phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Công Dũng; sinh m 1964; địa chỉ: Tdân phố thôn Hà Tây,
phường Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
2
Người đại diện ông Dũng tham gia tố tụng tại Toà án là: ông Trần Văn Công
Bằng; sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 23, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (có
mặt)
- Nguyễn Thị Thanh; sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn Yến Nê, xã Hòa Tiến,
thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thanh Hùng; sinh năm 1971; địa chỉ: số 227/7/2A đường
Dầu, phường Phú Thọ Hòa, thành phố Hồ Chí Minh. ( mặt).
- Ủy ban nhân dân phường Điện Bàn Bắc; địa chỉ: Xóm Bùng, phường Điện
Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Thế Bình,
chức vụ Trưởng phòng Kinh tế hạ tậng và Đô thị phường. (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: ông Nguyn Ngọc Tuấn - Là bị đơn (có mt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Nguyên đơn ông Nguyễn Nhangười đại diện theo uỷ quyền thống nhất
trình bày như sau:
Cha, mcủa ông Nguyễn Nha ông Nguyễn Xuân Nguyện Nguyễn
Thị Nha sinh được một người con chung duy nhất là ông Nguyễn Nha. Năm 1949
ông Nguyện chết, Nguyễn Thị Nha kết hôn với ông Phạm Thừa sinh được một
người con nhưng đã chết lúc nhỏ. Do không con chung nên ông Phạm Thừa và
bà Nguyễn Thị Nha xin một người con về nuôi và đặt tên là Phạm Công Dũng; ông
Phạm Thừa chết năm 1989, bà Nguyễn Thị Nha chết năm 2018 không để lại di chúc.
Nguồn gốc thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2, tại thôn Đông, Điện Hòa
(cũ) đt của ông Phạm Thừa Nguyễn Thị Nha khai hoang tạo lập. Sau đó
làm nhà sinh sống cùng 2 anh em ông Nha, ông Dũng trên thửa đất này. Quá trình
sử dụng đất ông Phạm Thừa, Nguyễn Thị Nha khai, đăng theo Chỉ thị
299/TTg Nghị định 64/CP, đến ngày 10/7/2000 thì được Nhà nước cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất diện ch 1.262m
2
, loại đất + đất vườn cho hộ
Nguyễn Thị Nha. Năm 2009, do nhà hỏng nên mẹ ông Nha được Nhà nước
hỗ trợ làm nhà tình nghĩa trên thửa đt (do mẹ ông là người có công với cách mạng
nên được hưởng ưu đãi). Đến ngày 26/9/2021, ông Nha tiến hành đo đạt lại diện tích
đăng tăng biến động được công nhận diện tích 1.353,9m
2
, trong đó đất
1.262m
2
, đất cây lâu năm 91,9m
2
.
Năm 2018, sau khi mẹ ông Nha chết thì ông Nha và ông Dũng tiếp tục quản
trông nom đất đai nhà cửa và hương khói ông bà, cha mẹ. Tuy nhiên, do hai anh
em ông đều nhà riêng nên không thường xuyên sinh sống trên ngôi nhà chỉ
đến dọn dẹp hương khói. Thời gian sau khi mẹ ông Nha chết, ông Phạm Ngọc
Tuấn (cháu gọi ông Phạm Thừa bác) đến đặt vấn đđể cho ông Tuấn tạm
một thời gian ông Tuấn từ Đồng Nai về chưa chỗ ở. Do ông Tuấn anh em
trong nhà nên anh em ông Nguyễn Nha đồng ý. Quá trình sinh sống trên đất, ông
3
Tuấn tự ý xây dựng tường rào, làm thêm mái hiên nhỏ để xe. Khi xây dựng ban đầu
ông Nguyễn Nha không phát hiện, nhưng sau đó ông Nha biết và yêu cầu ông Tuấn
dừng việc xây dựng trái phép thì ông Tuấn không xây dựng nữa. Sau đó mâu thuẫn
xảy ra rồi ông Tuấn tự ý thay ổ khóa cửa, cổng nhà không cho anh em ông Nha vào
nhà thắp hương ông bà, cha mẹ và ngăn cản việc mthừa kế tài sản của anh em ông.
Tại đơn khởi kiện ngày 20/7/2023, ông Nguyễn Nha yêu cầu ông Phạm Ngọc
Tuấn phải có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản, cây cối trên đất trả lại di sản thừa kế cho anh
em ông Nguyễn Nha là 01 ngôi nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất diện tích 1.353,9m²
thửa đất số 617, tờ bản đồ số 02 tại Điện Hòa (cũ) cấp cho hộ Nguyễn Thị Nha;
Yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án,
ông Nguyễn Nha đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung yêu cầu chia
di sản thừa kế, ông Nguyễn Nha chỉ khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Phạm Ngọc Tuấn
phải tháo dỡ tài sản trên đất trả lại di sản thửa kế cho ông Nguyễn Nha và ông Phạm
Công Dũng là quyền sử dụng đất diện tích 1.353,9m² tại thửa số 617, tbản đs2
cấp cho hộ Nguyễn Thị Nha một ngôi nhà xây cấp 4 gắn liền trên đất. Đối với
diện tích tăng thêm 22,1m
2
theo đo đạc hiện trạng ông Nha không tranh chấp
không yêu cầu gì. Về kết quả định giá, nguyên đơn thống nhất và không có ý kiến
gì thêm.
[2] Bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn trình bày:
Về quan hệ gia đình: Ông, bà nội ông Phạm Ngọc Tuấn là Phạm Công Khiết
và bà Ngô ThĐẩu, ông nội sinh được 05 người con chung gồm: ông Phạm Thừa
(chết năm 1989 không có con); ông Phạm Trọng (đã chết, không có vợ, con, không
bia mộ); Phạm Thị Hậu (đã chết, không chồng con, chết lúc chiến tranh
không bia mộ), ông Phạm Bổ cha ông Phạm Ngọc Tuấn (ông Bổ chết năm
2007) và Phạm Thị Tri (đã chết, không có chồng và có 1 đứa con duy nhất là Phạm
Công Dũng).
Về nguồn gốc thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2 mà các bên đang tranh chấp là
đất của ông Phạm Công Khiết và bà Ngô Thị Đẩu khai hoang, lập vườn và làm nhà
sinh sống cùng các con trên thửa đất này từ rất lâu. Đến năm 1956, ông Phạm Bổ
(cha ông Phạm Ngọc Tuấn) vào Đồng Nai lập nghiệp và sinh sống, ông bà nội ông
Tuấn ông Phạm Thừa (bác ruột ông Tuấn) tiếp tục sinh sống trên thửa đất 617,
sau đó ông Thừa cưới vợ Nguyễn Thị Nha cùng về sinh sống với ông, nội
trên thửa đất này. Sau khi ông nội ông Tuấn chết thì vợ chồng ông Phạm Thừa,
Nguyễn Thị Nha tiếp tục sinh sống khai đăng ký, được nhà nước cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tên hộ Nguyễn Thị Nha đối với thửa đất ông bà
nội ông Tuấn đã để lại.
Theo ông Tuấn thì cha ông mặc dù vào sinh sống tại Biên Hòa, Đồng Nai từ
năm 1956 nhưng vẫn thường xuyên vthăm anh ruột ông Phạm Thừa giỗ chạp tổ
tiên, ông hàng năm. Năm 1989 ông Thừa chết, trước khi chết, ông Thừa nói
4
với cha con ông Tuấn về quê xây nhà để thờ cúng ông bà trên thửa đất số 617. Năm
1995, cha ông Tuấn về xây nhà cấp 4 để thờ ông tổ tiên được sự đồng ý của
bác gái Nguyễn Thị Nha. Đến năm 2005, ngôi nđược Nhà nước hỗ trợ
15.000.000 đồng để sửa nhà, ông Tuấn đưa tiền cho ông Phạm Bổ 18.000.000 đồng
phụ trả tiền cho thợ, ông Nguyễn Nha có nhận số tiền này. Đến m 2007, cha ông
Tuấn mất nhưng ông Tuấn vẫn thường xuyên về cúng giỗ ông, bà. Trong các ngày
giỗ chạp, bà Nha thường xuyên nói với bà con họ hàng, ông Nguyễn Nha, ông Phạm
Công Dũng, đất này của ông, ông Tuấn, khi Nha chết thì giao lại cho ông Tuấn
lo cúng giỗ ông bà, còn bà Nha cho ông Nha, ông Dũng my sào ruộng để canh tác.
Năm 2015, bà Nha nói ông Nguyễn Nha đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Tuấn đđi làm giấy tờ sang tên cho ông Tuấn ông Tuấn nhờ người
làm giấy tờ ông Tuấn nhiều việc không thời gian để làm. Khi ông Tuấn về Biên
Hòa, ông Nguyễn Nha đến lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đlàm, khi
đó ông Tuấn biết nhưng vẫn không tranh chấp vì ông nghĩ Nguyễn Thị Nha đã
nói như vậy nên ông rất yên m. Cuối năm 2017, được sự đồng ý của Nha và ông
Nguyễn Nha cũng như tộc họ, ông Tuấn tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố bao
bọc xung quanh khu vườn đ người khác không lấn chiếm đất, làm thêm mái che và
trồng một số cây như bưởi, chanh...trong vườn.
Nay ông Nguyễn Nha khởi kiện yêu cầu ông Phạm Ngọc Tuấn phải có nghĩa
vụ tháo dỡ tài sản, cây cối trả lại cho ông Nguyễn Nha tài sản thừa kế quyền sử
dụng đất thửa đất 617, tờ bản đồ số 2 tại thôn Đông, Điện Hòa (cũ) cấp cho
hộ Nguyễn Thị Nha một ngôi nhà cấp 4 gắn liền trên đất thì ông Tuấn không đồng
ý. Ông Tuấn cho rằng thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2 nguồn gốc đất của ông
bà, nội ông Phạm Ngọc Tuấn để lại, không phải đất của ông Phạm Thừa
Nguyễn Thị Nha. Do đó việc quan Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ Nguyễn Thị Nha không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
lợi của các con, cháu ông Phạm Công Khiết Ngô Thị Đẩu. Đồng thời, ông
Phạm Ngọc Tuấn yêu cầu Tòa án giải quyết Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp ngày 10/7/2000 cho hộ Nguyễn Thị Nha đối với thửa đất số 617, tờ bản đ
số 2, diện tích 1353,9m
2
.
Đối với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc ông Tuấn không có ý kiến
gì. Về kết quả định giá tài sản ông Tuấn cho rằng kết quả định giá đối tài sản trên
dất thấp. Tuy nhiên, ông Tuấn không yêu cầu định giá lại tài sn. Ngoài ra, ông
Tuấn không trình bày gì thêm.
[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày:
[3.1] Ông Phạm Công Dũng và đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất 617, tờ bản đồ số 2 tại thôn Đông, Điện Hòa
(cũ) do cha ông Dũng ông Phạm Thừa người đứng tên đăng ký khai theo Ch
thị 299/TTG, đến khi khai theo Nghị định 64/CP thì mẹ ông Dũng Nguyễn Thị
5
Nha người đăng khai. Trên sđó, Ủy Ban nhân dân huyện Điện Bàn (cũ)
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị Nha vào ngày
10/07/2000. Việc sử dụng đất của gia đình Nha công khai, liên tục, không
tranh chấp, hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm khai và
cấp giấy. Đối vi việc ông Phạm Ngọc Tuấn cho rằng thửa đất là di sản của ông bà
nội ông để lại nhưng ông Tuấn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ pháp
nào chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của ông nội ông đối với thửa đất này.
Trong khi đó, thửa đất đã được cha mông Dũng trực tiếp khai sử dụng ổn
định qua nhiều chính sách đất đai của Nhà nước. Ông Dũng và ông Nguyễn Nha là
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Thị Nha nên chỉ có gia
đình ông Dũng mới quyền đối với thửa đất 617, tờ bản đồ số 2 này. Ông Tuấn
không thuộc ng thừa kế, cũng không giấy tờ hợp pháp được nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên nên việc ông Tuấn chiếm giữ thửa
đất một hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp
pháp của gia đình ông.
Hiện nay, ông Nguyễn Nha khởi kiện buộc ông Phạm Ngọc Tuấn phải tháo
dỡ tài sản trên đất trả lại di sản thửa kế là quyền sử dụng đất thửa đất số 617, tờ bản
đồ số 2 và tài sản gắn liền trên đất một ngôi nxây cấp 4 ông Dũng hoàn toàn đồng
ý. Về yêu cầu của ông Phạm Ngọc Tuấn về việc đề nghị a án hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số N555153 cấp ngày 10/7/2000 cho hộ Nguyễn Thị Nha
đối với thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2, diện tích 1353,9 thì ông Dũng không đồng
ý. Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc hiện trạng tăng so với giấy chứng
nhận nhưng ông Dũng không tranh chấp phần tăng thêm y, kết quả định giá ông
Dũng thống nhất không có ý kiến . Ngoài ra ông Dũng kng trình bày thêm.
[3.2] Ông Nguyễn Thanh Hùng (con của ông Nguyễn Nha) trình bày:
Ông Hùng là con của ông Nguyễn Nha, từ nhỏ gia đình đông con, hoàn cảnh
khó khăn nên ông Hùng sống cùng với ông nội ông Phạm Thừa, Nguyễn
Thị Nha. Theo ông Hùng thì việc cha ông Nguyễn Nha khởi kiện yêu cầu ông
Tuấn trả lại tài sản quyền sử dụng đất thửa đất là đúng.
[3.3] Bà Nguyễn Thị Thanh trình bày:
Bà Thanh là cháu gọi bà Nguyễn Thị Nha là cô, tnhỏ do hoàn cảnh gia đình
khó khăn nên bà Thanh ở cùng cô Nguyễn Thị Nha và dượng Phạm Thừa. Theo
thì việc ông Nguyễn Nha khởi kiện yêu cầu trả lại tài sản quyền sử dụng đất thửa đất
số 617, tờ bản đồ số 2, tại thôn Hà Đông, Điện Hòa (cũ) đúng và đề nghị Tòa
án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[3.4] Ủy ban nhân dân phường Điện Bàn Bắc trình bày tại Văn bản số
521/UBND ngày 18/9/2025 như sau:
Về nội dung ông Phạm Ngọc Tuấn yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ Nguyễn Thị Nha đối với thửa đất số 617; diện
6
tích 1353,9m²; mục đích sdụng: đất ở; địa chỉ thửa đất tại khối phố Đông,
phường Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng (nay Tổ dân phố Hà Đông, phường Điện
Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng). UBND phường Điện Bàn Bắc có ý kiến như sau:
- Thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Phủ Thủ Tướng về Công
tác đo đạc, phân hạng đăng ruộng đất trong cả nước, ông Phạm Thừa (chồng
Nguyễn Thị Nha) đã khai, đăng ký quyền sử dụng đất, cụ thể như sau: Theo
sổ mục kê ruộng đất, hộ Phạm Thừa kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 55, tờ bản đồ số 01, diện tích 1300m², loại đất: thổ cư. Theo sổ đăng ruộng
đất, hộ Phạm Thừa kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất tại thửa đất số 56, tờ bản đ
số 01, diện tích 1500m², loại đất: thổ cư. Qua kiểm tra, đối soát số thửa đất thể hiện
tại sổ đăng ký ruộng đất có sự nhầm lẫn (thực tế hộ Phạm Thừa sử dụng đất tại thửa
đất số 55, tờ bản đồ số 01).
- Thực hiện Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành quy
định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, hộ Nguyễn Thị Nha đã kê khai, đăng ký quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 617, tờ bản đồ số 02, diện tích 1262m², loại đất: Đất ở +
vườn, địa chỉ thửa đất tại thôn Hà Đông, xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam (nay là tổ dân phố Đông, phường Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng) đã
được UBND huyện Điện Bàn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ số
0607/QI QSDĐ/423/QĐ-UB ngày 10/7/2000 gồm 05 thửa đất với tổng diện ch
2340m², trong đó thửa đất số 617, tờ bản đồ số 02, diện tích 1262m² là đảm bảo
theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, ông Phạm Ngọc Tuấn yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ số 0607/QI QSDĐ/423/QĐ-UB do UBND huyện Điện Bàn cấp ngày
10/7/2000 cho hộ Nguyễn Thị Nha đối với thửa đất số 617, tờ bản đồ số 02, địa chỉ
thửa đất tại tổ dân phố Đông, phường Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng không
cơ sở. Đối với những vấn đề khác, Ủy ban nhân dân phường Điện Bàn Bắc, đ
nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Ngoài ra, đại diện
Ủy ban nhân dân phường Điện Bàn Bắc không trình bày gì thêm.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án số 276/2026/DS-ST ngày 31/3/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147,
157, 165, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ Luật Dân sự; Điều khoản
2 Điều 17, khoản 5 Điều 26 Luật đất đai Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nha v
việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản gắn
liền trên đất” đối với bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn.
7
1. Buộc ông Phạm Ngọc Tuấn phải trả lại thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2, diện
tích 1.353,9m
2
tại Điện Hòa, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (nay phường
Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 555153
do Ủy ban nhân dân huyện Điện Bàn cấp ngày 10/7/2000 cho hộ Nguyễn Thị Nha,
cho ông Nguyễn Nha và ông Phạm Công Dũng. (có trích đo kèm theo).
2. Giao các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà cấp 4 (liền kề nhà thờ), mái lợp
tôn (bên cạnh nhà cấp 4), nhà vệ sinh (bên cạnh nhà cấp 4 phía sau nhà thờ), hàng
rào, cổng ngõ, 02 cây xoài lớn, 02 cây xoài nhỏ, 01 cây mít, 15 cây bưởi có trái cho
ông Nguyễn Nha và ông Phạm Công Dũng quản lý sử dụng.
Ông Nguyễn Nha ông Phạm Công ng phải nghĩa vụ thanh toán cho
ông Phạm Ngọc Tuấn số tiền 152.014.710 đồng. (Một trăm năm ơi hai triệu
không trăm mười bốn nghìn bảy trăm mười đồng).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự: Đình chỉ đối với yêu cầu
khởi kiện về Chia thừa kế tài sản theo pháp luật quyền sử dụng thửa đất số 617, tờ
bản đsố 2, tại Điện Hòa, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (nay phường Điện
Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 555153 do
Ủy ban nhân dân huyện Điện Bàn cấp ngày 10/7/2000 cho hộ Nguyễn Thị Nha.
4. Về án phí: Các đương sự là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự
thẩm.
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là
45.000.000 đồng, ông Nguyễn Nha đã nộp tạm ứng, ông Phạm Ngọc Tuấn phải có
nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Nha số tiền tạm ứng chi phí tố tụng 45.000.000
đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét x thẩm, ngày 14/4/2026, Toà án nhn được đơn kháng cáo của
ông Phm Ngc Tun kháng cáo toàn b bản án thẩm đề ngh không chp nhn
yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Ti phiên toà phúc thm, không có đương sự o cung cp b sung tài liu
chng c mi, các bên không tho thuận được vic gii quyết v án. Người kháng
cáo gi nguyên yêu cầu kháng cáo; nguyên đơn đ ngh Hội đồng xét x không chp
nhn kháng cáo ca ông Phm Ngc Tun, gi nguyên bn án dân s sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tn
theo pháp luật và nội dung giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục ttụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, thư phiên tòa của người tham gia tố tụng trong qtrình giải
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông
8
Phạm Ngọc Tuấn, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 276/2026/DS-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử thẩm, bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn
kháng cáo trong thời hạn luật định phù hợp với khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng
dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của hkhông làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ
án, trên sở ý kiến của các đương sự Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành xét xử vụ án theo thủ tục chung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn thì thấy:
[2.1] Thửa đất đang tranh chấp là thửa số 617, tờ bản đồ số 2, diện tích:1262m
2
tại thôn Hoà Đông, xã Điện Hoà, tỉnh Quảng Nam cũ có Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số N555153 được UBND huyện Điện Bàn cấp ngày 10/7/2000 đng tên hộ
Nguyễn Thị Nha. Nguồn gốc thửa đất, theo thông tin của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký Đất đai Điện Bàn cung cấp: Thửa đất số 617 do ông Phạm Thừa (chồng bà
Nguyễn Thị Nha) khai theo Chỉ thị 299/TTg, sau đó đăng ký kê khai qua các thời
kỳ đứng tên hộ Nguyễn Thị Nha. Năm 2021, ông Nguyễn Nha con bà Nguyễn
Thị Nha khai thay hộ bà Nguyễn Thị Nha (chết) để đăng ký chỉnh lý biến động trong
Giấy chứng nhận tăng diện tích thửa đất từ 1262m
2
thành 1353,9m
2
(tăng 91,9m
2
).
Không có tài liệu chứng cứ thể hiện thửa đất 617 là của ông Phạm Công Khiết và bà
Ngô Thị Đẩu là ông, bà nội của ông Phạm Ngọc Tuấn.
[2.2] Thông tin hồ sơ tàng thư từ Công an thị xã Điện Bàn (cũ) (bút lục số 72)
xác định hộ Phạm Thừa gồm có các nhân khẩu Phạm Thừa, Nguyễn Thị Nha, Phạm
Công Dũng, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thanh ng. Qua lời khai các đương sự
đều xác định ông Nguyễn Nha là con bà Nguyễn Thị Nha, ông Phạm Công Dũng
con nuôi ông Phạm Thừa Nguyễn Thị Nha, các thành viên còn lại bà Nguyễn
Thị Thanh ông Nguyễn Thanh Hùng là cháu ở ng nhà với ông Phạm Thừa nên
mới có tên trong hộ gia đình. Xét thấy, ông Phạm Ngọc Tuấn không phải thành viên
hộ gia đình Nguyễn Thị Nha, không thuộc hàng thừa kế của ông Phạm Thừa
Nguyễn Thị Nha n không quyền yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của hộ Phạm Thị Nga không quyền chiếm giữ đất của hộ Nguyễn
Thị Nga. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu của ông Phạm Ngọc Tuấn
về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà Phạm Thị Nga là phù hợp
9
với quy định của pháp luật. Đồng thời, buộc ông Tuấn phải trả lại quyền sử dụng đất
của thửa 617 cho hàng thừa kế của bà Nguyễn Thị Nga là có cơ sở.
[2.2] Về công trình xây dựng trên đất gồm nhà ở, nhà để thờ, công trình vệ sinh,
hàng rào cổng ngõ các cây trồng trên đất, giá trị tổng cộng 152.014.710 đồng
được xác định là của ông Phạm Ngọc Tuấn xây dựng tnăm 2018 sau khi Nguyễn
Thị Nha chết. Xét thấy, công trình tường rào cổng ngõ bao quanh thửa đất là cần
thiết, các cây trồng đang phát triển bình thường nên cần tiếp tục duy trì. Ông Nguyễn
Nha và ông Phạm Công Dũng cũng đồng ý giữ lại các tài sản này và thối trả tiền cho
ông Tuấn. Tại phiên toà phúc thẩm, ông Tuấn không có ý kiến về số tiền nhận thối
trả 152.014.710 đồng nên Toà án cấp thẩm tuyên giao các các ng trình xây
dựng trên đất và cây trồng cho ông Nha, ông Dũng sở hữu và có nghĩa vụ thối trả cho
ông Tuấn số tiền 152.014.710 đồng là phù hợp.
[2.3] Tại phiên toà phúc thẩm, không tình tiết mới làm thay đổi nội dung,
quyết định của bản án sơ thẩm nên kháng cáo của ông Phạm Ngọc Tuấn không có cơ
sở để chấp nhận.
[3] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phù
hợp với các tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án.
[4] Do kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn không được chấp nhận nên
phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, do ông Tuấn là người cao tuổi và có đơn xin
miễn án phí n ông Tuấn được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc Tuấn.
II. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 276/2024/DS-ST ngày 31 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng.
III. Án phí dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Ngọc Tuấn được miễn.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại điều 2 Lut thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc
b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các điều 6,7 và 9 Lut thi hành án dân s;
10
thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy đnh tại điu 30 Lut thi hành án dân
s.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND TP Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 10 - ĐN;
- TAND Khu vực 10 - Đà Nẵng;
- Phòng GĐKT - TANDTP ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 227/2026/DS-PT Bản án số 227/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 227/2026/DS-PT Bản án số 227/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất