Bản án số 926/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 926/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 926/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 926/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án 926-DSPT-20-7-2026- H -Th- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 926/2026/DS-PT Bản án số 926/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 926/2026/DS-PT Bản án số 926/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 926/2026/DS-PT
Ngày: 20-7-2026
V/v Tranh chp hợp đồng chuyn
nhượng quyn s dụng đất và
hp đồng tín dng
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyn Quc Tun.
Các Thm phán:
1. Ông Nguyễn Phước Thanh;
2. Ông Nguyễn Văn Phương.
Thư phiên tòa: Ông Ngô Tn i, Thư Tòa án nhân dân tnh Tây
Ninh.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Thu Tiên, Kim sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 442/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 6 năm 2026, về "Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu
tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Do Bản án dân sự thẩm số 93/2026/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 348/2026/QĐ-PT ngày
30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp K, C, tỉnh
Tây Ninh; có mặt.
Bị đơn: Trần Thị Phương T, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Ấp N, B,
Huyện D (nay là phường N), tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Thạch Huỳnh N, sinh năm 1992;
trú tại: Ấp Đ, S, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện theo ủỷ quyền của bị đơn
(Văn bản uỷ quyền ngày 02-3-2026); có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Xuân C, sinh năm: 1977; địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt;
2
2. Huỳnh Thị L, sinh năm: 1976; địa chỉ: Ấp D, xã T, tinh T; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của L: Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1996;
địa chỉ: Thôn L, X, tỉnh Đắk Lắk (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 02-3-2026);
mặt.
3. Văn phòng C2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Duy L1 Trưởng văn phòng. Địa
chỉ: Số B đường C, phường T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
4. Ngân hàng TMCP Á (A). Địa chỉ: Số D N, Phường E, Quận C, Thành
Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uquyền của Ngân hàng: Ông Nguyễn Tạ Trung H2
(Theo Giấy ủy quyền số: 2747/UQ-QLN ngày 24-11-2025); có mặt;
Người kháng cáo: Bà Trần Thị Phương T, ông Trần Xuân C, bà Huỳnh Thị
L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02-6-2024, quá trình giải quyết vụ án tại
phiên toà, nguyên đơn Nguyễn ThH trình bày: Bà cho Trần Thị
Phương T vay số tiền 600.000.000 đồng tham gia dây hụi do T làm chủ.
Đến hạn T không trả nợ vay đóng hụi với số tiền 65.000.000 đồng, nên
tháng 11/2023, bà khởi kiện bà T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Tại Quyết định số 17/2024/QĐST-DS ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân
dân huyện Dương Minh Châu, buộc bà T trả cho tổng số tiền 665.000.000
đồng. yêu cầu thi hành án thì T đã chuyển nhượng toàn bộ các quyền sử
dụng đất (Viết tắt QSDĐ) của T cho người khác nhằm mục đích tẩu tán tài
sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà. Cụ thể:
Ngày 15-11-2022, Trần Thị Phương T hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ cho ông Trần Xuân C Huỳnh Thị L đối với thửa đất số 218, tbản
đồ số 17, diện tích 1.473,5 m
2
, tọa lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Hợp
đồng số 9892.
Cùng ngày, T và ông Nguyễn Thành N1 hợp đồng chuyển nhượng
thửa đất số 241, tờ bản đồ số 38, diện tích 891,7 m
2
cho ông Huỳnh Huệ Â theo
Hợp đồng số 9893; sau đó được chuyển nhượng qua nhiều người khác.
Ngoài ra, cung cấp cho Tòa án nội dung ghi âm cuộc đối thoại ngày 15-
10-2023 giữa T, thhiện việc T nhờ người khác đứng tên QSDĐ
nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, để đảm bảo
nghĩa vụ thi hành án, khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy Hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ số 9892, quyển số 20/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15-11-
2022 lập tại Văn phòng C2 giữa Trần Thị Phương T ông Trần Xuân C,
Huỳnh Thị L. không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp của hợp
đồng.
3
Đối với thửa đất số 241, tờ bản đồ s38, trước đây yêu cầu hủy các
hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện
rút yêu cầu khởi kiện đối với phần này.
Bị đơn Trần Thị Phương T người đại diện cho T ông Thạch
Huỳnh N trình bày:
Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự s
17/2024/QĐST-DS ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh
Châu thì bà T phải trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 665.000.000 đồng.
Do T không khả năng trả nợ nên xin H cho trả góp hằng tháng
10.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ, nhưng H không đồng ý.
Nay bà H khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 9892,
bà T không đồng ý; vì các lý do sau:
Thứ nhất, các Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ trên đều đảm bảo tuân thủ
đúng quy định pháp luật về hình thức, nội dung không vi phạm pháp luật, không
trái đạo đức hội không nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa
vụ. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân
sự, hoàn toàn tự nguyện và không bị lừa dối hay cưỡng ép.
Đến nay, việc chuyển nhượng đã hoàn tất, ông C, L ông  đều đã trở
thành chủ sử dụng hợp pháp đã được chỉnh sang tên trên các Giấy chứng
nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BU764768,
số vào số cấp GCN: CH00450 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 18-7-2014
Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản kc gắn liền với đất
số CN266598, số vào sổ cấp GCN: CS05643 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh T cấp ngày 04-6-2018.
Thứ hai, việc T chuyển nhượng các QSDĐ trên cho ông C, L và ông
 được tiến hành vào ngày 15-11-2022 là trước ngày bà H khởi kiện T yêu
cầu thanh toán số tiền 665.000.000 đồng cũng trước thời điểm H yêu cầu
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu cho thi hành Quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 17/2024/QĐST-DS ngày 19-01-
2024.
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Huỳnh Thị L là ông Nguyễn Xuân H1 trình bày:
Ngày 15-11-2022, Huỳnh Thị L cùng ông Trần Xuân C nhận chuyển
nhượng QSDĐ của bà Trần Thị Phương T theo Hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ số 9892. Theo nội dung hợp đồng, bà T chuyển nhượng cho L và ông
C quyền sử dụng thửa đất số 218, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.473,5 m
2
, tọa lạc
tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
4
Sau khi nhận chuyển nhượng QSDĐ và được cấp giấy chứng nhận đứng tên
hợp pháp, L ông C đã sử dụng QSDĐ này để thế chấp tại Ngân hàng
TMCP Á (A) nhằm vay vốn theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
Đến cuối năm 2025, bà L được biết bà Nguyễn Thị H khởi kiện cho rằng bà
T chuyển nhượng QSDĐ cho L, ông C nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh
nghĩa vụ trả nợ yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số
9892. Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H, vì những lý do sau:
Thứ nhất, việc chuyển nhượng QSDĐ giữa T với L ông C hoàn
toàn hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản, công chứng hợp pháp theo
quy định của pháp luật về đất đai dân sự. Các bên tham gia giao dịch đều tự
nguyện, minh bạch, không sự lừa dối hay ép buộc. Nội dung hợp đồng không
vi phạm điều cấm của pháp luật không trái đạo đức xã hội nên giao dịch này
có giá trị pháp lý.
Thứ hai, thời điểm giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vào ngày 15-
11-2022, là trước thời điểm phát sinh tranh chấp trước khi H yêu cầu thi
hành nghĩa vụ đối với T; nên không việc chuyển nhượng đất này nhằm
mục đích tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ.
Thứ ba, tại thời điểm nhận chuyển nhượng QSDĐ, bà L không biết và cũng
không có nghĩa vụ phải biết về quan hệ nợ giữa bà Nguyễn Thị H và bà Trần Thị
Phương T. Thửa đất chuyển nhượng Giấy chứng nhận QSDĐ hợp pháp,
không có tranh chấp, không bị kê biên, không bị ngăn chặn giao dch. Vì vậy, bà
L người nhận chuyển nhượng ngay tình, giao dịch được xác lập hợp pháp
đã được đăng ký sang tên theo đúng quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP Á đã đơn khởi kiện yêu
cầu L ông C thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã kết,
trong đó khoản vay được bảo đảm bằng chính QSDĐ mà bà L ông C đã nhận
chuyển nhượng hợp pháp từ T. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP Á, L không ý kiến tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ. xác định rằng
việc vay vốn nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là nghĩa vụ dân sự phát sinh
từ hợp đồng tín dụng giữa L, ông Trần Xuân C với Ngân hàng TMCP Á. Do
đó, bà L đồng ý thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Bà L không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân C trình bày:
Ông thống nhất ý kiến của vợ ông là bà Huỳnh Thị L.
Đại diện hợp pháp Văn phòng C2 trình bày:
Việc chuyển nhượng QSDĐ nêu trên do ý chí tự nguyện của các bên,
cả hai bên cùng trực tiếp đến tại Văn phòng công chứng để yêu cầu Công chứng
viên thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ, cụ thể các bên còn trực tiếp viết
vào phiếu yêu cầu công chứng. Hợp đồng chuyển nhượng đất cả 02 bên đều
ghi là: "Tôi đã đọc đồng ý", cho thấy sự chuẩn bị trước về thời gian
5
đều thể hiện ý muốn cuối cùng để đạt mục đích chuyển nhượng đất nêu trên,
các bên đã giao dịch ngay tình bên cạnh đó không sự can thiệp hoặc
các văn bản ngăn chặn của quan có thẩm quyền nên việc chứng nhận hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ số: 9892, quyền số 20/2022 TP/CC-SCC/HDGD
ngày 15-11-2022 giữa bà Trần Thị Phương T với ông Trần Xuân C và bà Huỳnh
Thị L đối với QSDĐ diện tích 1.473.5 m
2
, thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 17
tọa lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh Công chứng viên đã thực hiện đúng quy
trình thủ tục theo Luật định.
Ông Nguyễn Tạ Trung H2 là người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của
Ngân hàng A trình bày:
Ngân hàng A cấp tín dụng cho bà Huỳnh Thị L ông Trần Xuân C căn cứ
theo: Thoả thuận về các điều khoản điều kiện tín dụng chung số
TNI.CN.5422.210624 ngày 25-6-2024 Hợp đồng cấp tín dụng
TNI.CN.5423.210624 ngày 25-6-2024 với số tiền 3. 000.000.000 đồng để bổ
sung vốn kinh doanh, lãi suất trong hạn: 7.20%/năm, cố định trong thời hạn 09
tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất
(%/năm) = LSCS + 3.00%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi
suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Ngày 18-11-2024 ngân hàng chuyển tiền o
khoản thanh toán số 29058537 của Huỳnh Thị L tại A số tiền 3.000.000.000
đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng A n cấp tín dụng cho L, ông C hạn mức thẻ tín
dụng 50.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 30%/năm, lãi suất quá hạn 150% của
lãi suất trong hạn.
Ngày 18-8-2025, khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 01-TK: 461232299
đáo hạn (kết thúc thời hạn cho vay) nhưng L ông C vẫn không trả nợ vay
cho Ngân hàng A. Do đó, tính kể từ ngày 19-8-2025, A chuyển toàn bộ khoản
vay chưa thanh toán của Khế ước nhận nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 17-4-
2026, bà L và ông C còn nợ A các khoản sau:
+ Hợp đồng cấp tín dụng: Nợ số tiền gốc 2.997.785.000 đồng; lãi trong
hạn 16.184.920 đồng; lãi quá hạn 214.683.460 đồng; phạt 1.073.082 đồng.
+ Đối với thẻ tín dụng: tiền gốc 39.996.659 đồng; lãi quá hạn 3.474.634
đồng.
Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau: Thế
chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 17, địa chỉ:
B, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay N, tỉnh Tây Ninh) thuộc quyền sở hữu,
sử dụng của bà Huỳnh Thị L ông Trần Xuân C theo Giấy chứng nhận QSDĐ,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 764768, số vào số cấp
GCN: CH 00450 do UBND huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 18-07-2014, cập
nhật chuyển nhượng theo h02962.CN ngày 25-11-2022. Tài sản thế chấp
cho Ngân hàng A theo:
6
- Hợp đồng thế chấp tài sản số TNI.BĐCN.368.100323 ngày 11-3-2023
được công chứng tại Văn phòng C3 số vào sổ công chứng: 1352, quyền số:
03/2023. TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 11-3-2023.
- Phiếu yêu cầu đăng thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất tại Văn
phòng Đăng ký Đất đai tỉnh T - Chi nhánh D ngày 13-3-2023.
Nay Ngân hàng A yêu cầu:
+ Buộc bà Huỳnh Thị L và ông Trần Xuân C trả cho A tổng số nợ còn thiếu
tính đến ngày 17-4-2026 3.273.197.755 đồng trong đó gốc: 3.037.781.659
đồng, lãi trong hạn: 16.184.920 đồng, lãi quá hạn: 218.158.094 đồng, phạt:
1.073.082 đồng.
+ Buộc bà Huỳnh Thị L và ông Trần Xuân C tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm
trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản
điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, Bản các
điều khoản điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A kể tngày 18-4-2026 đến
khi trả hết nợ.
+ Nếu bà Huỳnh Thị L và ông Trần Xuân C không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trả nthì ngân hàng đề nghị quan thẩm quyền xử
tài sản là QSDĐ, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 17, địa
chỉ: B, huyện D, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Huỳnh
Thị L và ông Trần Xuân C để thu hồi nợ.
Tại Bản án Dân sự thẩm số 93/2026/DS-ST ngày 17-4-2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H đối với Trần Thị
Phương T về việc "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất vô hiệu".
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất số 9892 quyền số
20/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15-11-2022 lập tại Văn phòng C2 giữa
Trần Thị Phương T với ông Trần Xuân C và bà Huỳnh Thị L đối với thừa đất số
218, tờ bản đồ số 17, toạ lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vô hiệu.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Trần
Xuân C và bà Huỳnh Thị L về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Buộc ông Trần Xuân C Huỳnh Thị L nghĩa vụ liên đới trả cho
Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm tính đến ngày 17-4-2026 tổng số tiền:
3.273.197.755 đồng; trong đó gốc: 3.037.781.659 đồng, lãi trong hạn:
16.184.920 đồng, lãi quá hạn: 218.158.094 đồng, phạt: 1.073.082 đồng tiền
lãi phát sinh từ ngày 18-4-2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định
tại Thỏa thuận các điều khoản điều kiện tín dụng chung số
TNI.CN.5422.210624 ngày 25-6-2024; Hợp đồng cấp tín dụng số
TNI.CN.5423.210624 ngày 25-6-2024; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử
7
dụng thẻ tín dụng cho khách hàng ngày 15-3-2023 và các đề nghị giải ngân kiêm
chứng từ nhận nợ.
Trường hợp ông C, L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm thửa đất số 218,
tờ bản đồ số 17, toạ lạc tại B, huyện D, tỉnh Tây Ninh để thu hồi số ntheo
thoả thuận v các điều khoản điều kiện tín dụng chung số
TNI.CN.5422.210624 ngày 25-6-2024: Hợp đồng cấp tín dụng số
TNI.CN.5423.210624 ngày 25-6-2024; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành sử
dụng thẻ tín dụng cho khách hàng ngày 15-3-2023 và các đề nghị giải ngân kiêm
chứng từ nhận nợ và Hợp đồng thế chấp tài sản số TNI.BĐCN.368.100323 ngày
11-3-2023.
3. Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số
TNI.BĐCN.368.100323 ngày 11-3-2023 đã được thực hiện xong còn thì
số tiền còn lại trả cho T để thi hành án. quan thi hành án tạm giữ để thanh
toán tiền án phí, lệ phí để thi hành án cho người T nghĩa vụ phải thi
hành án theo Điều 47 Luật Thi hành án dân sự.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H đối với yêu
cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất thuộc thửa đất số 241,
tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 24-4-2026, bà Trần Thị Phương T có đơn kháng cáo: yêu cầu sửa Bản
án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 24-4-2026, ông Trần Xuân C Huỳnh Thị L đơn kháng cáo;
yêu cầu sửa Bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Thạch Huỳnh N người đại diện theo uỷ quyền của Trần Thị
Phương T trình bày: Bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Nguyễn Xuân H1 là người đại diện theo uỷ quyền của Huỳnh Thị L
trình bày: Bà Huỳnh Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Trần Xuân C trình bày: Ông C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa ktkhi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
8
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Trần Thị Phương T, bà Huỳnh Thị L và ông Trần Xuân C: giữ nguyên Bản án
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét kháng
cáo của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Phương T, bà Huỳnh Thị L và ông Trần Xuân C
kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
2.1. Xét yêu cầu kháng cáo của Trần Thị Phương T, Huỳnh Thị L
ông Trần Xuân C, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, nhận thấy:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 9892, quyển s 20/2022.TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 15-11-2022 giữa bà Trần Thị Phương T với ông Trần Xuân C
Huỳnh Thị L hiệu. Bị đơn Trần Thị Phương T trình bày cho rằng
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này trước Quyết định số
17/2024/QĐST-DS ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh
Châu, buộc T trả cho bà H tổng số tiền 665.000.000 đồng, nên việc chuyển
nhượng đất này là đúng với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trước thời điểmT chuyển nhượng đất này cho ông C, bà L vào ngày 15-
11-2022, thì bà T đã phát sinh nghĩa vụ nợ tiền vay tiền hụi của H (Theo
Biên bản lấy lời khai ngày 17-7-2025 T xác nhận vay tiền của H trước khi
chuyển nhượng đất các giấy vay tiền giữa T với H thể hiện T vay
tiền của H ngày 23-01-2022. T tham gia góp hụi với H vào tháng 5
năm 2021). Đồng thời, Hoàng cung C1 file ghi âm cho rằng T xác nhận
việc nhờ người đứng tên giùm nđất này (Bút lục 248). Ngoài ra, T vẫn
đang quản sử dụng nhà đất này. Do đó, cấpthẩm căn cứ khoản 2 Điều 124
Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị H là phù hợp.
Ngoài ra, tại thời điểm xác lập giao dịch thế chấp, quyền sử dụng đất đã
được đăng ký đứng tên L và ông C trên Giấy chứng nhận; Ngân hàng A nhận
thế chấp thẩm định tài sản, cung cấp hợp đồng thuê, việc kết hợp đồng
thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện đúng quy định pháp luật;
nên cấp sơ thẩm xác định Ngân hàng A người thứ ba ngay tình theo Điều 133
Bộ luật Dân sự; tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T
với L, ông C vô hiệu, nhưng Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng A với L,
ông C không bị vô hiệu là có căn cứ.
9
Từ những phân tích trên, nhận thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên
toà phù hợp nên cần chấp nhận; do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của Trần Thị Phương T, Huỳnh Thị L ông Trần Xuân C; giữ nguyên
Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên
Trần Thị Phương T, Huỳnh Thị L ông Trần Xuân C phải chịu tiền án phí
dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Phương T, bà Huỳnh Thị L
và ông Trần Xuân C.
2. Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số: 93/2026/DS-ST ngày 17 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh Tây Ninh.
3. Căn cứ các Điều 117, 122, 124, 131, 133; 407. 500, 501, 502 của Bộ luật
Dân sự; Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai 2013; Điều 100 Luật các Tổ chức
tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Trần Th
Phương T, về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất vô hiệu”.
3.2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 9892 quyển
số 20/2022. TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15-11-2022 lập tại Văn phòng C2 giữa bà
Trần Thị Phương T với ông Trần Xuân CHuỳnh Thị L đối với thửa đất số
218, tờ bản đồ số 17, toạ lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vô hiệu.
3.3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông
Trần Xuân C và bà Huỳnh Thị L về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
3.4. Buộc ông Trần Xuân Cbà Huỳnh Thị L nghĩa vụ liên đới trả cho
Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm nh đến ngày 17-4-2026 tổng số tiền:
3.273.197.755 đồng (Trong đó nợ gốc: 3.037.781.659 đồng, lãi trong hạn:
16.184.920 đồng, lãi quá hạn: 218.158.094 đồng, phạt: 1.073.082 đồng) và lãi
phát sinh từ ngày 18-4-2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại
Thỏa thuận về các điều khoản điều kiện tín dụng chung số
TNI.CN.5422.210624 ngày 25 tháng 06 năm 2024; Hợp đồng cấp tín dụng số
TNI.CN.5423.210624 ngày 25 tháng 06 năm 2024; đề nghị kiêm hợp đồng phát
hành sdụng thẻ tín dụng cho khách hàng ngày 15-3-2023 các đề nghị
giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ.
10
3.5. Nếu ông C, L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đnghĩa
vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 218, tờ bản
đồ số 17, toạ lạc tại B, huyện D, tỉnh Tây Ninh để thu hồi số nợ theo thỏa
thuận về các điều khoản điều kiện tín dụng chung số TNI.CN.5422.210624
ngày 25 tháng 06 năm 2024; Hợp đồng cấp tín dụng số TNI.CN.5423.210624
ngày 25 tháng 06 năm 2024; đnghị kiêm hợp đồng phát hành sử dụng thẻ
tín dụng cho khách hàng ngày 15-3-2023 các đề nghị giải ngân kiêm chứng
từ nhận nợ Hợp đồng thế chấp tài sản số TNI.BĐCN.368.100323 ngày 11-3-
2023.
3.6. Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số
TNI.BĐCN.368.100323 ngày 11-3-2023 đã được thực hiện xong còn thì
số tiền còn lại trả cho bà T để thi hành án. Cơ quan thi hành án tạm giữ để thanh
toán tiền án phí, lệ phí để thi hành án cho người bà T nghĩa vụ phải thi
hành án theo Điều 47 Luật Thi hành án dân sự.Top of Form
3.7. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với yêu
cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 241,
tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Bà Trần Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí.
4.2. Ông Trần Xuân C và bà Huỳnh Thị L phải chịu 97.464.000 đồng.
4.3. Nguyễn Thị H không phải chịu án phí, hoàn trả cho Nguyễn Thị
H tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007836 ngày 14-6-2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
4.4. Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng
TMCP Á số tiền 47.351.500 (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn,
năm trăm) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án s0013272
ngày 25-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
5. Về chi phí tố tụng:
Trần Thị Phương T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản là 13.900.000 đồng, bà H đã nộp và đã chi xong. Bà T có trách nhiệm
hoàn trả cho H số tiền 13.900.000 đồng.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
6.1. Trần Thị Phương T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được
trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008853 ngày
24-4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
6.2. Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008855 ngày 24-
4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
11
6.3. Ông Trần Xuân C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008854 ngày 24-
4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Các quyết định khác ca bản án thm không kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
8. V ng dn thi hành án: Trường hp bản án được thi hành theo quy
định ti Ðiu 2 ca Lut Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s,
ngưi phi thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu
thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh
tại các điều 6, 7 36 ca Lut Thi hành án; thi hiệu thi hành án được thc
hiện theo quy định ti Ðiu 34 ca Lut Thi hành án dân s năm 2025.
9. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 11;
- Phòng THADS khu vc 11;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Quc Tun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 926/2026/DS-PT Bản án số 926/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 926/2026/DS-PT Bản án số 926/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất