Bản án số 361/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 361/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 361/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 361/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D, bà Nguyễn Thị Kim L, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST, ngày 15/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 361/2026/DS-PT Bản án số 361/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 361/2026/DS-PT Bản án số 361/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 361/2026/DS-PT
Ngày: 16/7/2026.
V/v “Tranh chấp HĐ CNQSD đất
và yêu cầu hủy GCNQSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Trúc Lâm.
2. Bà Lê Thị Thanh Huyền.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Trang Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà:
Trương Thị Thu Thủy - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công
khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 97/2026/TLPT-DS, ngày 19/3/2026, về việc
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2025/DSST, ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2026/QĐ-PT, ngày 19/5/2026
Quyết định hoãn phiên tòa số 340/2026/QĐ-PT, ngày 18/6/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn D, sinh năm 1974 Nguyễn Thị Kim L, sinh
năm 1978; cùng địa chỉ: Khu phố NP, phường 1, thành phố TH, tỉnh PYên (nay là
phường TH, tỉnh Đắk Lắk): Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của L: Ông Đinh Phước H, sinh năm 1978; địa
chỉ: Khu phố Đông Phước, phường TH, tỉnh Phú Yên (nay là phường TH, tỉnh Đắk
Lắk): Có mặt.
- Bị đơn:
2
1. Ông Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1980; địa chỉ: 37/6 PĐP, phường 1, thành
phố TH, tỉnh Phú Yên (nay là phường TH, tỉnh Đắk Lắk): Có mặt.
2. Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố NP, phường 1, thành
phố TH, tỉnh Phú Yên (nay là phường TH, tỉnh Đắk Lắk): Vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 21/5/2024 quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Ngày 23/3/2020, vợ chồng L chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Hoàng L1 và bà Nguyễn Thị Kim C tại thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 304 –
A tọa lạc tại thôn NP, BN, thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay Khu phố NP,
phường TH, tỉnh Đắk Lắk) với số tiền 20.000.000 đồng nhưng sau đó ông L1và bà C
không trả tiền cho vợ chồng bà L. hiện nay giá trị đất 20.000.000 đồng không
còn phù hợp nên vợ chồng L khởi kiện yêu cầu ông L1và C cùng trách
nhiệm trả số tiền còn nợ là 279.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giá trị đất Hội đồng định giá đã định tại
biên bản định giá ngày 09/03/2023 trong vụ án ly hôn giữa ông L1và C. Đối với
tài sản vật kiến trúc tồn tại trên đất là do ông L1và bà C xây dựng nên không yêu cầu
Tòa giải quyết. Nguyên đơn bà L thống nhất với giá trị đất mà Hội đồng định giá đã
định nên không yêu cầu định giá lại đối với giá trị đất.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản gắn liền với đất 1290, tbản đồ số 304 A tọa lạc tại thôn NP, xã BN,
thành phố TH, tỉnh Phú Yên mà Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Phú Yên cấp cho
ông L1và bà C ngày 05/5/2020 thì vợ chồng bà L xin rút yêu cầu nêu trên.
* Bđơn ông Nguyễn Hoàng L1 trình bày: Thời điểm ông L1và bà C còn chung
sống với nhau, ngày 23/3/2020, ông L1bà C nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của L và ông D tại thửa đất s1290, tờ bản đồ số 304 – A tọa lạc tại thôn
NP, xã BN, thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố NP, phường TH, tỉnh Đắk
Lắk) với số tiền 20.000.000 đồng như lời trình bày của bà L là đúng. Tuy nhiên, ông
đã trả tiền xong cho bà L, ông D đã đóng thuế thu nhập cá nhân của người chuyển
nhượng 2.022.400 đồng nên Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Phú Yên mới đủ cơ
sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền
với đất cho ông và bà C. Sau đó ông L1và bà C đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định
từ đó cho đến khi ông L1và bà C ly hôn, không ai tranh chấp.
3
Ngày 17/01/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã giải quyết xong vấn đề ly
hôn và tài sản chung giữa ông L1 và bà C bằng bản án số 01/2024/HNGĐ-PT nên đề
nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tuy nhiên, ông L1 không muốn kéo dài vụ án liên quan đến gia đình với
nguyên đơn nên ông L1tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu khởi
kiện ngày 21/5/2024 của L ông D nên đã giải quyết xong. Do đó, việc L, ông
D về việc yêu cầu ông L1 C trả số tiền 279.000.000 đồng thì ông L1 ý
kiến như sau: Về giá đất theo biên bản định giá ngày 09/03/2023 đã định là
279.000.000 đồng mà Hội đồng định giá đã định trong vụ án Hôn nhân gia đình giữa
ông L1 và bà C thì ông L1 thống nhất không có ý kiến và không yêu cầu định giá lại.
Tuy nhiên nguyên đơn ông D và bà L yêu cầu ông L1và bà C trả số tiền nợ mua đất
279.000.000 đồng thì ông không đồng ý ông C không còn nợ tiền của ông
bằn Loan nên đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L, ông D.
Trường hợp Tòa tuyên buộc ông L1 C trả số tiền 20.000.000 đồng còn nợ từ
chuyển nhượng quyền sửdụng đất vào ngày 23/3/2020 thì ông L1tự nguyện trả số tiền
20.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất quy định của pháp luật, thời gian tính lãi t
ngày hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng (ngày 23/3/2020) cho đến ngày xét xử
sơ thẩm và ông L1 nộp thay cho bà C.
* Nguyên đơn ông D và bị đơn bà C vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DSST, ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
227, 228, 244 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 274, 275, 280, 370, 500, 501 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Huỳnh
Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L. Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng L1Nguyễn
Thị Kim C phải cùng trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D
Nguyễn Thị Kim L tổng cộng số tiền 30.782.800 đồng (ba mươi triệu bảy trăm tám
mươi hai nghìn tám trăm đồng), cụ thể ông Nguyễn Hoàng L1 phải trả cho Ông
Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 15.391.400 đồng (mười lăm triệu ba
trăm chín mươi mốt nghìn bốn trăm đồng) Nguyễn Thị Kim C phải trả cho Ông
Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 15.391.400 đồng (mười lăm triệu ba
trăm chín mươi mốt nghìn bốn trăm đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
4
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật ối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể tngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
nguời được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn DNguyễn Thị
Kim L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
và tài sản gắn liến với đất số CU 304481, thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 304 A tọa
lạc tại thôn NP, BN, thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay Khu phố NP, phường
TH, tỉnh Đắk Lắk) do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Phú Yên cấp cho ông Nguyễn
Hoàng L1 và bà Nguyễn Thị Kim C vào ngày 05/5/2020.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương
sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/8/2025 nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D, Nguyễn Thị Kim L, có đơn
kháng cáo bản án thẩm với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm định giá lại tài sản
tranh chấp theo giá thị trường tại thời điểm xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa v
chồng ông D, bà L ông L1, C hiệu; Hủy GCNQSD đất số CU30448 trên
diện tích đất 126,4m
2
trong cùng thửa đất số 1290, tờ bản đồ 304A.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi
kiện, giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Vnội dung: Đnghị Hội đồng xét xử; Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông
Huỳnh Tấn D, Nguyễn Thị Kim L, cần giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
28/2025/DS-ST, ngày 15/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đương sự trong thời hạn luật định và đã nộp
tiền tạm ứng án phí nên được xem xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
5
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D, bà Nguyễn Thị
Kim L, thấy:
Nguồn gốc thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 304-A tọa lạc tại thôn NP, BN,
thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố NP, phường TH, tỉnh Đắk Lắk) của ông
Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Thị Kim C do nhận chuyển nhượng của Ông Huỳnh
Tấn D, Nguyễn Thị Kim L vào ngày 23/3/2020, giữa hai bên có lập Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 20.000.000đồng. Xét thấy, thời điểm xác
lập giao dịch, ông D, bà L, ông L1và C đều người đầy đủ năng lực hành vi
dân sự, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 500, 501
của Bộ luật dân sự. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
23/03/2020 là có thựcphát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo quy định tại
Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/03/2020, hai bên
thỏa thuận về việc thanh toán số tiền 20.000.000 đồng là do hai bên tự thực hiện
và chịu trách nhiệm, mặc dù nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ đã giao tiền
cho bị đơn, nhưng sau khi nhận chuyển nhượng đất, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng
L1 đã làm thủ tục nộp thuế vào ngân sách nnước đã được cấp GCNQSD đất
vào ngày 05/5/2020, vợ chồng ông L1, C đã xây nhà sử dụng ổn định, không ai
tranh chấp. Đến thời điểm ông L1, C ly hôn vào tháng 9/2023, Nguyễn Thị Kim
L tham gia tố tụng với cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng
L cũng không có yêu cầu độc lập cũng không có ý kiến gì đối với việc phân chia tài
sản là thửa đất nói trên. Tháng 10/2024 bà L mới làm đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn
phải trả 20.000.000đồng tiền chuyển nhượng đất, sau đó L, ông D lại làm đơn khởi
kiện bổ sung, yêu cầu hủy GCNQSD đất trên và yêu cầu bị đơn trả 20.000.000đồng,
sau đó nguyên đơn rút yêu cầu hủy GCNQSD đất và bổ sung yêu cầu bị đơn phải trả
tiền đất trượt giá theo gtại biên bản định gtrong vụ án hôn nhân gia đình ngày
09/3/2023 279.000.000đồng, tại cấp phúc thẩm nguyên đơn thay đổi ý kiến, yêu
cầu định giá lại tài sản, không chấp nhận giá theo biên bản định giá ngày 09/3/2023,
yêu cầu hủy GCNQSD đất nêu trên, xét thấy lời khai của bị đơn Ông Huỳnh Tấn D,
Nguyễn Thị Kim L mỗi giai đoạn tố tụng mâu thuẫn, không thống nhất với
nhau, như nhận định ở trên, mặc dù bị đơn không cung cấp được chứng cứ giao tiền
nhưng bị đơn đã làm đthủ tục cấp GCNQSD đất sử dụng ổn định, không ý
kiến phản đối của nguyên đơn, do đó việc nguyên đơn cho rằng đây là Hợp đồng giả
tạo yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/5/2020 không
sở, vậy xét thấy việc bđơn yêu cầu định giá lại tài sản đang tranh chấp cũng không
cần thiết, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên bđơn C thừa
nhận, bà C và ông L1 chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhận chuyển nhượng đất cho
ông D và bà L. tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông L1 chấp nhận trả số tiền nợ gốc
6
20.000.000 đồng tiền lãi suất theo quy định của pháp luật, thời gian tính lãi suất
kể từ ngày 23/03/2020 đến ngày xét xsở thẩm, do đó Tòa án cấp thẩm tuyên
buộc ông Nguyễn Hoàng L1, bà Nguyễn Thị Kim C phải có nghĩa vụ trả cho nguyên
đơn số tiền chuyển nhượng 20.000.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định của pháp
luật, thời gian tính lãi suất kể từ ngày 23/03/2020 đến ngày xét xử sở thẩm; Đình chỉ
xét xử yêu cầu của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim L về việc
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu ntài sản gắn
liền với đất số CU 304481, thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 304 phù hợp với quy
định pháp luật.
Do đó không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ông Huỳnh
Tấn D, Nguyễn Thị Kim L, cần giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 28/2025/DS-
ST, ngày 15/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk.
[4] Về án phí n sự sơ thẩm:
Về án phí: Hoàn trả cho nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị Kim
L số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm về yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0005857, ngày 11/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố
TH, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk).
Nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí dân
sự thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận (279.000.000đồng -
20.000.000đồng = 259.000.000đồng ) 259.000.000đồng x 5% = 12.950.000đồng,
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 500.000 đồngđã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005659, ngày 26/11/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 -
Đắk Lắk) và số tiền 6.975.000đồngc đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0009107, ngày 22/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 11
Đắk Lắk nên còn phải nộp 5.475.000 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 769.570 đồng án pdân sự sơ thẩm. Bị
đơn ông Nguyễn Hoàng L1 phải chịu 769.570 đồng án phí dân sự thẩm. Ông
Nguyễn Hoàng L1 đã nộp số tiền 20.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002520,
ngày 20/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk), được khấu trừ stiền phải thi hành
án 15.391.400 đồng số tiền án phí dân sựthẩm 769.570 đồng nên ông L1 được
hoàn lại số tiền 3.839.030 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D, bà Nguyễn Th
Kim L phải chịu 300.000đồng án phí n sự phúc thẩm, được khấu tro số tiền
7
300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà L đã np theo biên lai số 0000689, ngày
9/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[6] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì c lẽ tn;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D,
Nguyễn Thị Kim L, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 28/2025/DS-ST, ngày
15/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
227, 228, 244 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 274, 275, 280, 370, 500, 501 và 468 của Bộ luật dân sự; Điều
26; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D
Nguyễn Thị Kim L. Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng L1 bà Nguyễn Thị Kim
C phải cùng trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D và bà Nguyễn Thị
Kim L tổng cộng số tiền 30.782.800đồng (ba mươi triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn
tám trăm đồng), cụ thể ông Nguyễn Hoàng L1 phải trả cho Ông Huỳnh Tấn D và bà
Nguyễn Thị Kim L số tiền 15.391.400đồng (mười lăm triệu ba trăm chín mươi mốt
nghìn bốn trăm đồng) Nguyễn Thị Kim C phải trả cho Ông Huỳnh Tấn D
Nguyễn Thị Kim L số tiền 15.391.400đồng (mười lăm triệu ba trăm chín mươi
mốt nghìn bốn trăm đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật ối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể tngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
nguời được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
8
[2] Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D Nguyễn
Thị Kim L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu nhà
tài sản gắn liến với đất số CU 304481, thửa đất số 1290, tờ bản đồ số 304 A
tọa lạc tại thôn NP, xã BN, thành phố TH, tỉnh PYên (nay Khu phố NP, phường
TH, tỉnh Đắk Lắk) do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Phú Yên cấp cho ông Nguyễn
Hoàng L1 và bà Nguyễn Thị Kim C vào ngày 05/5/2020.
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí n sự sơ thẩm: Hoàn trả cho nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D
Nguyễn Thị Kim L số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
thẩm về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005857 ngày 11/03/2025 của Chi cục thi hành án
dân sự thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 -
Đắk Lắk).
Nguyên đơn Ông Huỳnh Tấn D Nguyễn Thị Kim L phải chịu
12.950.000đồng (mười hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự
thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0005659 ngày 26/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành
phố TH, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk) và s
tiền 6.975.000đồng (sáu triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đã nộp theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009107 ngày 22/7/2025 của Phòng thi
hành án dân sự khu vực 11 Đắk Lắk nên còn phải nộp 5.475.000 đồng (Năm triệu
bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 769.570đồng (Bảy trăm sáu mươi chín
nghìn năm trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự thẩm. Bị đơn ông Nguyễn
Hoàng L1 phải chịu 769.570 đồng (Bảy trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm bảy
mươi nghìn đồng) án phí dân sthẩm. Ông Nguyễn Hoàng L1 đã nộp số tiền
20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002520, ngày
20/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH, tỉnh Phú Yên (nay Phòng
thi hành án dân sự khu vực 11 - Đắk Lắk), được khấu trừ số tiền phải thi hành án
15.391.400 đồng (Mười lăm triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn bốn trăm đồng)
số tiền án phí dân sự sơ thẩm 769.570 đồng (Bảy trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm
bảy mươi nghìn đồng) nên ông L1 được hoàn lại stiền 3.839.030đồng (Ba triệu tám
trăm ba mươi chín nghìn không trăm ba mươi đồng).
[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngun đơn Ông Huỳnh Tấn D, Nguyễn
ThKim L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí n sự phúc thm, được
9
khấu tro số tiền 300.00ồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm
L đã np theo biên lai số 0000689 ngày 9/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk
Lắk.
[4] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật ktừ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b Điều 9 của Luật Thi
hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm-TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- TAND khu vc 11;
- Phòng THADS khu vc 11;
- Các đương sự;
- Công thông tin đin t Tòa án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Duy Thun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 361/2026/DS-PT Bản án số 361/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 361/2026/DS-PT Bản án số 361/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất