Bản án số 600/2026/DSPT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 600/2026/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 600/2026/DSPT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 600/2026/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 600/2026/DSPT Bản án số 600/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 600/2026/DSPT Bản án số 600/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 600/2026/DS-PT
Ngày: 16-7 - 2026
V/v tranh chấp “Hủy hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy;
- Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
- Thư phiên tòa: Thị Thanh n- Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Phan Thị Thanh Xuân- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2026/TLPT-DS ngày 20/03/2026 về
việc tranh chấp “Yêu cầu Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 190/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 888/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trương Công N, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: số D DT H, khóm S, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện ủy quyền: ông Nguyễn Văn T. Sinh năm: 1967, Địa chỉ: số F, tổ
C, ấp B, xã C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
2. Bị đơn:
2
2.1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1947 (có mặt);
Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Trương Công K, sinh năm 1968. Nơi cư trú:
tổ A, khóm M, phường C, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: s C, khu phố H, phường L,
thành phố Hồ C Minh (có mặt).
2.2. Anh Trương Công Trường S, sinh năm 1977 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người làm chứng:
3.1. Anh Trương Công Trường C, sinh năm 1988 (có mặt);
3.2. Chị Mai Thị Thúy H, sinh năm 1988.
3.3. Anh Trương Công N1, sinh năm 1995.
3.4. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1969 (có mặt);
3.5. Bà Phạm Thị Bé S1, sinh năm 1961 (có mặt);
Cùng cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Chị Trương Cẩm L, sinh năm 1967 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp B, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
3.7. Chị Trương Cẩm L1, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: ấp D, xã M, tỉnh Đng Tháp.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Trương Công N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm,
* Nguyên đơn anh Trương Công N đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn
Văn T thống nhất trình bày:
Nguyễn Thị T1 mcủa anh Trương Công N đứng tên 04 thửa đất
với diện tích 6.325,6 m², loại đất trồng cây lâu năm, toạ lạc tại ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay T, tỉnh Đồng Tháp). Vào năm 2022 T1
nói thiếu tiền nên kêu anh Nguyễn B1 các thửa đất trên để trả nợ, tiêu xài và điều
trị bệnh và anh Nguyễn C1 đưa cho T1 tổng cộng 08 lần tiền tính từ ngày
14/6/2022 đến ngày làm Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng bất động sản
ngày 27/6/2024 với tổng số tiền 1.000.000.000 đồng, không làm biên nhận
nhưng anh lập sổ theo dõi với nội dung đưa tiền mua đất cho M việc
chuyển nhượng đất nàyT1 kêu giấu không cho ai biết.
Vào ngày 27/6/2024 anh N đến nNguyễn Thị T1 làm văn bản
thỏa thuận về việc chuyển nhượng 04 thửa đất cụ thể như sau:
3
- Thửa đất số 276, tờ bản đồ 18, diện tích 2.631,7 m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ hiện nay: ấp A, xã T,
tỉnh Đồng Tháp.
- Thửa đất số 280, tờ bản đồ 18, diện tích 1450,9 m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ hiện nay: ấp A, xã T,
tỉnh Đồng Tháp.
- Thửa đất số 272, tbản đồ 18, diện tích 341,8 m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ hiện nay: ấp A, xã T,
tỉnh Đồng Tháp.
- Thửa đất số 343, tờ bản đồ 18, diện tích 1901,2 m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Địa chỉ hiện nay: ấp A, xã T,
tỉnh Đồng Tháp.
Vào ngày 27/6/2024 anh Nguyễn C1 đưa tiếp cho Tỷ số tiền lần cuối
120.000.000 đồng tại phòng ngủ của bà T1. Giá chuyển nhượng 04 thửa đất nêu
trên 1.265.120.000 đồng. Sau khi Văn bản thỏa thuận anh N đã trả cho
Tỷ stiền 1.000.000.000 đồng, có ghi biên nhận tiền cc ngày 27/6/2024, số tiền
còn lại 265.120.000 đồng giao kết khi thông báo nộp thuế, lệ phí liên
quan đến việc chuyển nhượng đất thì anh Nguyễn S2 trả đủ cho T1. Trong thời
gian từ ngày 27/6/2024 đến tháng 9/2024 do điều kiện bà T1 bbệnh không được
khỏe nên anh Nguyễn C2 làm thtục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được.
Tất cả những lần giao tiền, làm Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng bất
động sản và Biên nhận tiền cọc chỉ có anh Nguyễn VT1 ngoài ra không có ai
chứng kiến.
Đến tháng 9/2024 thì anh N được biết em anh anh Trương Công Trường
S bằng cách thức nào kêu T1 làm giấy tay mua bán đất ghi ngày 28/6/2024
một liếp đất do T1 đứng tên với giá 200.000.000 đồng trả tiền cọc trước
cho bà T1 60.000.000 đồng.
Đến ngày 27/8/2024 thì anh S dẫn bà T1 đến Ủy ban xã T, huyện C để làm
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất gồm 04 thửa đất nêu trên và thửa 275, diện tích 724,6 m
2
loại đất làm nghĩa
trang, nghĩa địa. Đây cũng một hình thức gian dối trốn thuế, từ giấy tay mua
bán đất chỉ với giá 200.000.000 đồng thành tặng cho 05 thửa đất với tổng diện
tích là 7.050,2 m
2
.
Sau khi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban T, huyện C
chứng thực, anh S nộp hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện C để thực
hiện việc tách thửa, sang tên, nhưng do không thể tách thửa và sang tên được vì
4
hợp đồng tặng cho ghi sai diện ch nên Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện C
yêu cầu bổ sung. Sau đó thì anh Nguyễn phát H1 nên cất giữ tất cả các chứng
nhận quyền sdụng đất bản chính nên phát sinh tranh chấp anh Nguyễn C1
yêu cầu:
- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất giữa bà T1 với anh S lập ngày 27/8/2024.
- Yêu cầu T1 tiếp tục thực hiện Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng 04
thửa đất số 276, 280, 272, 343, tờ bản đồ 18, tổng diện tích là 6.325,6 m
2
. Anh N
đồng ý trả tiếp cho bà Tỷ số tiền 265.120.000 đồng.
Đến ngày 14/5/2025 thì anh Nguyễn C1 đơn thay đổi bsung nội dung
bổ sung yêu cầu khởi kiện:
- Tự nguyện yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận và biên bản nhận tiền cọc xác
lập ngày 27/6/2024 giữa bà Nguyễn Thị T1 với anh Trương Công N.
- Buộc Nguyễn Thị T1 với anh Trương Công Trường S liên đới trả cho
anh Trương Công N số tiền 1.000.000.000 đồng và chịu lãi 0,83%, kể từ ngày
27/6/2024 đến ngày 14/5/2025 với số tiền 83.000.000 đồng, tổng cộng
1.083.000.000 đồng, làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Đại diện ủy quyền bị đơn bà Nguyễn Thị T1anh Trương Công K trình
bày:
Chồng bà Nguyễn Thị T1 là ông Trương Công Đ chết vào năm 2020, trước
đó ông Đ T1 đã chia đất hết cho các con. Riêng T1 còn lại 05 thửa đất
trong đó 04 thửa đất mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm có tổng diện
tích 6.352,6 m
2
và 01 thửa có diện tích là 724,6 m
2
mục đích sử dụng là đất m
đều do T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các phần đất trên
để khi T1 già yếu, bệnh bán đất để lấy tiền uống thuốc và nuôi dưỡng tuổi già.
Đến ngày 27/8/2024 thì T1 đến cơ quan một cửa của Ủy ban nhân dân
xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp để làm thủ tục tặng
cho một phần diện tích đất 3.198,3 m
2
, mục đích sử dụng là đất vườn (gồm 02
liếp vườn) diện ch đất 724,6 m
2
, mục đích sử dụng là đất mồ cho con ruột
anh Trương Công Trường S. Đã làm xong các giấy tờ theo quy định của Nhà
nước, hồ sơ tặng cho đã được chuyển đến Chi nhánh văn phòng đất đai huyện C
để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Trương Công
Trường S.
Nhưng do quy định của đai, đất không lối đi ra đường giao thông thì
không được tách thửa, hồ được trả về đbsung theo quy định, địa chính
hướng dẫn đo đạc nhập tách thửa để chứng minh phần đất đang làm thủ tục
5
tặng cho này, diện ch liền kề với diện tích đất của anh Trường S đang làm
chủ sở hữu để lối đi mới đủ điều kiện để tách thửa và cấp chứng quyền sử
dụng đất.
Thực chất việc tặng cho nêu trên làm giấy viết tay, nội dung ghi
3.198,3 m
2
đất mục đích sử dụng đất vườn 02 liếp, bán một liếp vườn cho anh S
với giá 200.000.000 đồng và cho anh S một liếp vườn và 724,6 m
2
, mục đích sử
dụng đất mồ mã. Lúc này anh S công khai việc mua bán, tặng cho đất để các
anh, chị em và người trong gia đình biết.
Đến ngày 22/9/2024 thì các con của bà T1 tập trung về nhà của T1. Buổi
họp mặt các thành viên mặt cho ý kiến về việc tặng cho đất nêu trên. Các thành
mặt gồm: Nguyễn Thị T1, anh Trương Công N, chị Trương Cẩm L, chị Thị
chị Phạm Thị S1, cháu Trương Công N1 Trương Công Trường C. Các
thành viên dhọp ý kiến thống nhất bán cho anh S diện ch đất 3.198,3 m
2
(hai liếp vườn) với giá 400.000.000 đồng và cho anh S 724,6 m
2
đất mục đích sử
dụng đất mồ mã. Anh S đồng ý và đã đặt cọc số tiền 60.000.000 đồng cho
T1 sau đó anh S đưa thêm 40.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng,
khi nào được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất thì trả phần tiền còn lại cho
T1.
Ngày 01/9/2024 T1 bị bệnh huyết áp, tim mạch đang nhà tại ấp D,
T thì anh N đến nhà chở bà T1 về nhà của anh NguyễnTân Quy Đ1, thành phố
S, tỉnh Đồng Tháp để nhập viện trị bệnh điều trị 02 ngày rồi xuất viện về
nhà anh N và dưỡng bệnh.
Đến ngày 03/9/2024 cán bộ địa chính xã T, huyện C điện cho anh Trường C
cháu nội của bà T1 đến nhận hồ mua bán, tặng cho đất giữa bà T1 với anh
Trường S để bổ sung hồ sơ. Khi nhận được hồ thì cháu C điện báo cho bà
T1 và anh Nguyễn B2anh Nguyễn kêu C3 mang toàn bộ hồ sơ qua nhà anh N
và bà T1 nhận, anh Nguyễn L2 hồ sơ đọc rồi trả lại cho bà T1. Bà T1 để toàn bộ
hồ gồm 05 chứng nhận quyền sử dụng đất các giấy tkhác vào trong giỏ
đựng quần áo riêng của bà.
Đến ngày 04/9/2024 thì T1 bệnh trở lại anh Nguyễn tiếp T2 đưa T1
điều trị ở viện S4. Sau khi hết bệnh T1 tra lại thì thấy mất hết 05 chứng nhận
quyền sdụng đất giấy tờ có liên quan và hỏi anh Nguyễn T3 anh Nguyễn N2
đang giữ, sau khi chuẩn bị về nhà T T1 kêu anh Nguyễn L3 nhưng phía
anh Nguyễn K1 trả.
Ngày 27/9/2024 anh Nguyễn T4 Sa Đ2 chạy về nT1 nói với T1 mua
02 liếp đất vườn còn lại với giá 400.000.000 đồng đưa tiền cọc trước cho
6
T1 100.000.000 đồng lúc đó anh Nguyễn L2 02 tờ giấy đưa cho T1
T1 kêu cháu C3 đọc cho bà nghe cùng các con cháu như đã nêu trên cùng nghe.
Trong đó tên một giấy hợp đồng bán đất, nội dung bán 02 liếp giá 400.000.000
đồng; một giấy tên tiền đặt cọc mua đất ghi đưa tiền cọc 100.000.000 đồng
anh Nguyễn G cho Tỷ số tiền 100.000.000 đồng T1 đưa cho cháu C3
đếm và nhận đủ số tiền cọc 100.000.000 đồng. Sau đó anh Nguyễn L2 thêm giấy
tờ trong túi hồ của N đã đem theo đánh máy nội dung, gộp chung với hai
tờ giấy cháu C3 đã đọc, T1 không nhớ mấy tờ giấy rồi kêu bà n và bà
hỏi sao nhiều vậy thì anh N trả lời làm hai bản mỗi bên giữ một bản. T1
bên gốc phải mỗi tấm giấy tất cả 04 chữ ký. Sau khi xong anh Nguyễn C4
ngón tay T1 chấm vào mực màu đỏ lăn tay vào các giấy tờ đó anh Nguyễn
L2 hết giấy tờ ra xe đi và từ lúc này Nguyễn chặn hết điện thoại không ai liên lạc
được. Khi anh Nguyễn V1 làm vườn T1 hỏi anh Nguyễn N3 lần việc mua
đất chừng nào trả tiền ra công chứng làm giấy tờ anh Nguyễn K1 trả lời.
T1 xác định không kêu anh Nguyễn B1 toàn bộ 04 thửa đất trên, không
nhận số tiền 1.000.000.000 đồng như anh N trình bày. T1 chỉ nhận tiền cọc
của anh Nguyễn S3 tiền bán hai thửa đất còn lại 100.000.000 đồng. T1 cũng
không biết giấy biên nhận tiền cọc số tiền 1.000.000.000 đồng từ đâu ra.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn yêu C5 T1 trả
1.000.000.000 đồng và tiền lãi thì bà T1 không đồng ý.
* Bị đơn anh Trương Công Trường S trình bày:
Anh T1 thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày
17/8/2024 đúng trình tự, đúng theo quy định pháp luật. Trong đơn của ông
Nguyễn C1 đoạn ghi “ngày 27/6/2024 làm văn bản thỏa thuận chuyển nhượng 04
thửa đất gồm 276, 280, 272, 343” nhưng theo anh biết thửa 343 do ông Huỳnh
Hoàng D - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C ngày
25/6/2024 đến ngày 27/6/2024 Chi nhánh mới gửi chuyển phát cho bà T1 thì làm
sao anh Nguyễn C1 thông tin làm văn bản thỏa thuận với thửa 343. Anh xác định
việc anh Nguyễn V T1 có thỏa thuận chuyển nhượng đất như thế nào thì anh
không biết và anh cũng không có nhận tiền gì của anh N. Nay anh không đồng ý
đối với yêu cầu khởi kiện ca anh N.
Phần đối chất tại phiên tòa bà T1 xác định từ trước đến nay bà không có hứa
bán đất mượn của anh Nguyễn S3 tiền nào hết, chỉ vào ngày m hợp đồng bán
hai thửa đất cho anh Nguyễn B3 chỉ có nhận tiền cọc là 100.000.000 đồng và bà
cũng không kêu anh Nguyễn G1 việc bán đất cho anh N. Ngày nhận tiền
cọc giấy kêu anh Trường C cháu nội của đọc kiểm tiền. Ngoài
ra còn S1, chị B, chị Cẩm L anh N1 chứng kiến biết. Sau khi
7
toàn bộ hồ sơ anh Nguyễn G2 không giao giấy tờ hết. Nay anh N yêu cầu
bà trả stiền 1.000.000.000 đồng là tiền gì bà cũng không biết và bà cũng không
đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của anh N và yêu cầu anh Nguyễn T5 lại cho bà
04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính mà anh N đang giữ và bà đồng
ý trả lại cho anh Nguyễn số tiền cọc 100.000.000 đồng.
Anh N xác định là bà T1 kêu anh bán đất và anh có đưa cho T1 08 lần
tiền tổng cộng 1.000.000.000 đồng không làm biên nhận nhưng anh có lập sổ
theo dõi và việc chuyển nhượng đất này T1 kêu giấu không cho ai biết. Giấy
biên nhận tiền cọc và văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng bất động sản là
do anh soạn sẵn, phần tiền là để T1 tghi ngày biên nhận tiền cọc T1
kêu anh ghi và chữ viết số tiền 1.000.000.000 đồng và ngày tháng là do anh viết.
Phía bà T1 không thừa nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
* Người làm chứng anh Trương Công Trường C trình bày: Vào ngày
27/9/2024 thì anh có chứng kiến việc bà T1 bán cho anh Nguyễn H2 liếp đất
với giá 400.000.000 đồng, chính anh người được T1 kêu đọc các giấy tanh
Nguyễn Đ3 tên một giấy là hợp đồng bán đất, nội dung bán 02 liếp giá
400.000.000 đồng; một giấy tên tiền đặt cọc mua đất ghi đưa tiền cọc 100.000.000
đồng và anh cũng chính người kiểm tiền cho T1. Ngoài ra vào ngày hôm đó
còn có chị Trương Cẩm L, chị Thị bà Phạm Thị Bé S1anh Trương Công N1
tham dự chứng kiến. Phía anh N cũng không giao lại cho bà T1 giấy tờ gì hết và
lời trình bày của ông Nguyễn L4 không đúng sự thật.
* Những người làm chứng chị Trương Cẩm L, chị Thị bà Phạm Thị Bé S1,
anh Trương Công N1 trình bày:
Vào ngày 27/9/2024 là có chứng kiến việc bà có bán cho anh N 02 thửa đất
nhận tiền cọc của anh Nguyễn S3 tiền 100.000.000 đồng. Đối với lời anh
N trình bày là không đúng sự thật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 190/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Điều 129, Điều 131, Điều 166, khoản 2 Điều 468 và Điều 500 Bộ luật Dân
sự;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban vụ Quốc hi.
8
Tuyên Xử:
1- Tuyên bố Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng bất động sản ngày
27/6/2024 giữa Nguyễn Thị T1 với anh Trương Công N hiệu, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Công N yêu cầu Nguyễn Thị T1
anh Trương Công Trường S liên đới trả cho anh Trương Công N số tiền
1.083.000.000 đồng, làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2- Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Thị T1 trả lại cho anh Trương
Công N số tiền 100.000.000 đồng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên stiền chậm
trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật sự.
3- Buộc anh Trương Công N phải trả lại cho Nguyễn Thị T1 04 chứng
nhận quyền sử dụng đất:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994648, số vào sổ cấp GCN:
CS07872, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên trường tỉnh T cấp cho Nguyễn
Thị T1 thửa 272, tờ bản đồ số 18, diện tích là 341,8 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang ( nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994646, số vào sổ cấp GCN:
CS07878, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên và trường tỉnh T cấp cho bà Nguyễn
Thị T1 thửa 280, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.450,9 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang ( nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994643, số vào sổ cấp GCN:
CS07880, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên và trường tỉnh T cấp cho bà Nguyễn
Thị T1 thửa 276, tờ bản đồ số 18, diện tích 2.631,7 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang ( nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DO 337273, số vào sổ cấp GCN: CN
09376, ngày 25/6/2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C, tỉnh
Tiền Giang cấp cho Nguyễn Thị T1 thửa 343, tờ bản đồ số 18, diện tích
1.901,2 m
2
, địa chỉ ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã T, tỉnh
Đồng Tháp). Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, nguyên đơn anh Trương Công N đơn kháng
cáo, với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm cải sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa phúc thẩm,
9
Ông Nguyễn Văn T- đại diện y quyền của anh Trương Công N thay đổi
yêu cầu kháng cáo, anh yêu cầu phía T1 phải trả cho anh N 1.000.000.000 đ
(một tỷ đồng) đã nhận, không yêu cầu anh S phải có trách nhiệm liên đới.
Phía ông Trương Công K- đại diện cho bà T1 không đồng ý yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn cho rằng việc thỏa thuận chuyển nhượng bất động sản
ngày 27/6/2024 giữa Nguyễn Th T1 với anh Trương Công N giả mạo, thời
điểm này bà T1 không tại nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa
đất số 343 cấp ngày 25/6/2024 lúc đó đang trong quá trình Chi nhánh văn phòng
Đ đang gửi qua đường bưu điện cho bà T1 và đang vận chuyển hồ sơ qua đường
bưu điện, phía T1, anh C chưa nhận thì làm gì có để đưa cho anh Nguyễn B4
photo; 08 lần đưa tiền anh N trình bày không ràng, cụ thể không ai chứng
kiến, từ đó chứng minh văn bản lập ngày 27/6/2024 không trên thực tế, lời
trình bày của anh N không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Anh Trương Công Trường C xác định vào chiều tối ngày 27/9/2024 anh trực
tiếp chứng kiến việc thỏa thuận bà T1 bán 02 liếp đất cho anh Nguyễn V giá
400.000.000đ, tại thời diểm này anh Nguyễn Đ3 giấy mua bán 02 biên nhận
với số tiền 100.000.000đ, anh đọc cho bà T1 nghe rồi bà T1 ký vào các văn bản
này, không có việc bán 04 thửa đất giá 1.000.000.000đ như ông T trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư ký đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự các văn bản pháp luật liên quan đến
việc xét xử vụ án. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền nghĩa
vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận kháng cáo của anh N, chấp nhận việc nguyên đơn rút yêu cầu buộc anh S
trách nhiệm liên đới với bà T1 trả tiền cho nguyên đơn, hủy Văn bản thỏa thuận
về việc chuyển nhượng bất động sản ngày 27/6/2024 giữa bà Nguyễn Thị T1 với
anh Trương Công N, buộc bà Nguyễn Thị T1 trả cho ông Trương Công N số tiền
1.000.000.000 đồng, ghi nhận việc anh Nguyễn T5 lại T1 04 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đang giữ và sửa lại phần án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhận định:
10
[1] Nguyên đơn khởi kin yêu cu:
- Hy hợp đồng tng cho quyn s dụng đất, quyn s hu nhà tài sn
gn lin với đất gia bà T1 vi anh S lp ngày 27/8/2024.
- Hủy văn bản tha thun và biên nhn tin cc xác lp ngày 27/6/2024 gia
bà Nguyn Th T1 vi anh Trương Công N.
- Buc Nguyn Th T1 vi anh Trương Công Trường S liên đới tr cho
anh Trương Công N s tiền 1.000.000.000 đồng và chu lãi theo luật định.
Căn cứ theo nội dung đơn khởi kin cấp sơ thẩm xác định quan h pháp lut
tranh chp “Hy hợp đồng tng cho quyn s dụng đất, quyn s hu nhà
tài sn khác gn lin với đất hợp đồng chuyn nhưng quyn s dụng đất” và
th gii quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều
39 B lut T tng dân s.
Ngày 19/11/2025 Tòa án nhân dân khu vc 5- tỉnh Đng Tháp xét x v án,
không đồng ý vi bản án thẩm, ngày 02/12/2025, anh Trương Công N kháng
cáo bản án sơ thẩm là trong hạn theo quy đnh tại Điều 273 B lut T tng dân
sự, được xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
[2] V ni dung: Xét yêu cu khi kin và ni dung tranh chp.
Các đương sự tranh chp trong v án là vấn đề có hay không vic kết văn
bn tha thun biên nhn tin cc xác lp ngày 27/6/2024 gia bà Nguyn Th
T1 vi anh Trương Công N. Cấp sơ thẩm nhận định rằng 02 văn bản này không
đưc bà T1 tha nhn, việc các văn bn này các con ca T1 không chng
kiến, ngày 27/6/2024 bà T1 không có mt tại nhà để xác lập các văn bản trên mà
do phía anh Nguyn L5 phía T1 các văn bản này vào ngày 27/9/2024, lúc
anh Nguyn tha T6 mua 02 liếp đất ca bà T1 với giá 400.000,000đ, phía anh N
không chng c chng minh vic giao tin tng cộng 1.000.000.000đ đ t đó
không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn là chưa phù hợp, bi l:
- Tài liu trong h vụ án th hin ngày 27/6/2024 T1 anh Nguyn
xác L6 văn bản tha thun th hin bà T1 chuyển nhượng cho anh N 04 thửa đất
(276, 280, 272, 343, tng din tích 6.325,6m
2
) ta lc ti p D, xã T, huyn C vi
giá 1.265.120.000đ, cùng thời điểm ngày 27/6/2024 anh N đã giao cho bà T1
120.000.000đ và bà T1 đã lập biên nhn tin cc s tiền 1.000.000.000đ, tại thi
đim này không bt chng c nào chng minh T1 không còn minh mn,
sáng sut hay khi xác lập văn bn b ỡng ép, đe dọa cũng như chng c xác
định ti thời điểm này bà T1 không có mt ti nhà (p D, xã T, huyn C), bà còn
đủ năng lực hành vi dân s để chu trách nhim với các văn bản mà bà xác lp.
- Cấp thẩm da vào li khai ca những người làm chng anh Trường
C, bà Bé S1, ch B, ch Cm L và anh N1 cho rằng đã chứng kiến vic bà T1n
11
đất cho anh Nguyn V2 ngày 27/9/2024 để kết lun anh N đã làm sẵn biên nhn
và đưa bà T1 ký tên, s tin nhận đặt cc bán 02 liếp đất là 100.000.000đ nhưng
li không xut trình tài liu, chng c chng minh mà đã xác định bà T1 bán cho
anh N 02 liếp đất và nhận 100.000.000đ để ghi nhn bà T1 tr li anh Nguyn s
tiền này chưa căn cứ, đồng thi những người làm chứng này đu con,
cháu ni ca bà T1 nên li trình bày ca h không đáng tin cy.
- Quá trình gii quyết v án phía b đơn xác định ch ký, viết trong văn bản
tha thun và biên nhn tin cc xác lp ngày 27/6/2024 là do bà Nguyn Th T1
ra, ti phiên tòa phúc thm anh C- cháu ni sng chung nhà viT1 xác
nhn ngày 27/9/2024 lúc lập văn bản tha thun bán 02 liếp đất cho anh N, chính
anh là người đọc các văn bản cho bà T1 nghe, kiểm đếm tin xong rồi đưa bà T1
tên, lăn tay xác nhận ni dung, mỗi văn bản được lp thành 02 bn, ti thi
đim này T1 vn minh mn, sáng suốt nhưng chính anh, T1 không lý gii
đưc vì sao biên nhận 100.000.000đ văn bản tha thun anh chng kiến
lp ngày 27/9/2024 phía T1 không gi bt c văn bản, biên nhn nào li,
vy li khai ca anh C không có cơ sở tin cy.
- H v án th hin phía T1 đơn yêu cầu phn t đề ngày 28/5/2025
(bút lc 284- 291) đòi lại các giy chng nhn quyn s dụng đất anh N đang
gi nhưng cấp thẩm không th yêu cu này, không thông báo cho phía
nguyên đơn nhưng tại phn quyết đnh ca bn án li buc anh Nguyn T5 04
giy quyn s dụng đất vi phm th tc t tng, tuy nhiên ti phiên tòa phúc
thm, ông T- đại din theo y quyn cho anh N đồng ý tr li 04 giy chng nhn
quyn s dụng đất này, đây là sự t nguyn của đương sự, phù hp pháp lut nên
Hội đồng xét x ghi nhn.
Đối vi ý kiến ca phía b đơn cho rằng ngày 27/6/2024 T1 chưa nhận
đưc giy chng nhn quyn s dụng đất tha 343 thì làm sao cung cp thông
tin, đưa giy chng nhn quyn s dụng đất cho anh N để làm văn bn tha thun
chuyển nhượng bất động sn ngày 27/6/2024 gia Nguyn Th T1 vi anh
Trương Công N, các ln phía anh Nguyn G tin cho T1 tng cng
1.000.000.000đ, không rõ ràng, không ai chng kiến t đó đề ngh Hội đồng xét
x không chp nhn yêu cu khi kin ca anh N. Xét thy, biên nhn
1.000.000.000đ bà T1 không những ký tên mà còn điểm ch, quá trình gii quyết
v án (ti cấp sơ, phúc thm) phía b đơn không yêu cầu giám đnh ch ký, ni
dung các văn bản mà nguyên đơn cung cấp để khi kin nên ý kiến này không
căn cứ để xem xét.
Như phân tích trên, bà T1 xác lập văn bản tha thun và biên nhn tin cc
ngày 27/6/2024 vi anh Trương Công N t nguyn, trong lúc tinh thn minh
12
mn, sáng suốt, đủ tỉnh táo để thc hin hành vi ca mình, vic xác lập các văn
bản này được chính anh C là người chung nhà, chăm sóc cho bà T1 đọc li ri
T1 mi ký tên xác nhận, ngoài văn bản ký, điểm ch ngày 27/9/2024 thì anh C
xác đnh bà T1 không ký thêm bt c văn bản nào khác, điều đó chứng t vic bà
T1 xác lập văn bản tha thun và biên nhn tin cc xác lp ngày 27/6/2024 là có
tht, anh Nguyn K1 yêu cu tiếp tc chuyển nhượng yêu cu T1 tr li
phn tiền đã đưa nhiều ln tng cộng 1.000.000.000đ là có cơ s chp nhn.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn T- đại diện ủy quyền của anh
Trương Công N thay đổi yêu cầu kháng cáo, anh N yêu cầu phía bà T1 phải trả
cho anh Nguyễn 1 đã nhận, không yêu cầu anh S phải trách nhiệm liên đới
cùng Nguyễn Thị T1 trả lại số tiền 1.000.000.000 đ, việc thay đổi này tự
nguyện, đúng pháp luật, nằm trong phạm vi khởi kiện, kháng cáo nên Hội đồng
xét xử chấp nhận, đồng thời anh Nguyễn tự N4 trả lại bà T1 04 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đang giữ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên anh Trương Công
N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm,
- Nguyễn Thị T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sthẩm.
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
- Yêu cầu kháng cáo của anh Trương Công N được chấp nhận nên anh
Nguyễn K1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm,
[4 ] Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 của B luật Tố tụng dân sự;
- Chp nhn kháng cáo ca anh Trương Công N.
- Sửa Bản án dân sự thẩm số: 190/2025/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 129, Điều 131, Điều 166 , khoản 2 Điều 468 Điều 500 Bộ
luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của
Ủy ban vụ Quốc hội.
13
Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Công N
1. Tuyên bố Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng bất động sản ngày
27/6/2024 giữa bà Nguyễn Thị T1 với anh Trương Công N vô hiệu
Buộc Nguyễn Thị T1 phải trả cho anh Trương Công N số tiền
1.000.000.000 đồng.(Một tỷ đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành và theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Ghi nhận sự tự nguyện anh Trương Công N trả lại cho bà Nguyễn Thị T1
04 chứng nhận quyền sử dụng đất là:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994648, số vào sổ cấp GCN:
CS07872, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên trường tỉnh T cấp cho Nguyễn
Thị T1 thửa 272, tờ bản đồ số 18, diện tích 341,8 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994646, số vào sổ cấp GCN:
CS07878, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên và trường tỉnh T cấp cho bà Nguyễn
Thị T1 thửa 280, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.450,9 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 994643, số vào sổ cấp GCN:
CS07880, ngày 25/4/2022 do Sở Tài nguyên và trường tỉnh T cấp cho bà Nguyễn
Thị T1 thửa 276, tờ bản đồ số 18, diện tích 2.631,7 m
2
, địa chỉ ấp D, T,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Giy chng nhn quyn s dụng đất DO 337273, s vào s cp GCN: CN
09376, ngày 25/6/2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C, tnh
Tin Giang cp cho Nguyn Th T1 tha 343, t bản đồ s 18, din tích
1.901,2 m
2
, đa ch p D, xã T, huyn C, tnh Tin Giang (nayp A, xã T, tnh
Đồng Tháp). K t khi án có hiu lc pháp lut.
3. Đình chỉ yêu cầu của anh Trương Công N về việc yêu cầu anh Trương
Công Trường S phải trách nhiệm liên đới cùng Nguyễn Thị T1 trả lại anh
Nguyễn S3 tiền 1.000.000.000 đồng.
4. Về án phí:
- Anh Trương Công N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, anh đã nộp
tạm ứng án phí dân sự thẩm 22.845.000 đồng theo các biên lai thu số
0015937 ngày 10/10/2024 của Chi hành án dân sự huyện C (nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp) và biên lai thu số 0000595 ngày 23/7/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đồng Tháp, nên được hoàn lại 22.845.000 đồng.
14
- Anh Trương Công N không phải chịu án phí dân sphúc thẩm, hoàn lại
cho anh Nguyễn số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
theo biên lai thu tạm ứng số 0009645 ngày 02/12/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng
chế thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệp T7- Nguyễn Thanh Nhàn Nguyễn Ngọc T8 D1
15
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 5-Đồng Tháp;
- VKSND khu vc 5- Đng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 600/2026/DSPT Bản án số 600/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 600/2026/DSPT Bản án số 600/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất