Bản án số 53/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 53/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 53/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 53/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 53/2026/DS-PT Bản án số 53/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 53/2026/DS-PT Bản án số 53/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 53/2026/DS-PT
Ngày: 16 - 7 - 2026
“V/v:Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Bà Từ Thị Hải Dương và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.
- Thư phiên toà: Phạm Thị Kiều - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở
phiên tòa xét xử phúc thẩmng khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2026/TLPT-DS
ngày 07 tháng 5 năm 2026, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án
dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của a án nhân
dân Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra t
xử số: 42/2026/QĐ-PT ngày 15 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngọc T, sinh năm 1979 chị Phan Thị Tuyết L,
sinh năm 1988; cùng địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Bị đơn: Anh Võ Văn N, sinh năm 1977 chị Trần Thị H, sinh năm 1980;
cùng địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Tr, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông N, bà H:
Luật sư: Bà Trần Thị N1 - Văn phòng L2 Chi nhánh Q, có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1, cùng địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh
Quảng Trị, vắng mặt.
2. Ông Ngọc H2 và bà Hoàng Thị S, cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh
Quảng Trị, vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Võ Văn N và chị Trần Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án, lời khai của các đương sự và bản
án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn anh Ngọc T chị Phan Thị Tuyết L trình bày: Năm 2011
bố mẹ anh là ông Lê Ngọc H2 và bà Hoàng Thị S mua lại thửa đất của vợ chồng
ông Trần Văn Đ bà Nguyễn Thị H1 sử dụng đất n định, lâu dài. Đến năm
2016, bố mẹ tặng lại cho vợ chồng anh T, chị L. Diện tích đất gia đình anh
chị sử dụng gồm 512m² đất, trong đó đất là 250m² đất trồng cây hàng năm
khác là 262m². Năm 2011 gia đình anh chị có xây hàng rào đcùng lúc với làm
nhà, nhưng lúc đó vợ chồng được bố mẹ tặng đất nên không biết thiếu đất về phía
anh Văn N, chị Trần Thị H. Năm 2025, khi gia đình chuẩn bị xây tường rào,
anh chị đo lại đất thì phát hiện đất của gia đình thiếu 03 mét ngang mặt tiền trước
nhà, tương đương với gần 79m², đất của anh giáp ranh với đất anh Văn N,
trong lúc đó đất anh N, chị H 3,17 mét ngang mặt tiền tương đương với gần
80m². Trên phần đất tranh chấp giếng nước (xây từ trước khi anh, chị về ở)
với công trình phụ xây cuối năm 2023. Anh N, chị H được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không ý kiến phản đối đã thừa nhận ranh giới được
Nhà nước cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 12 tháng 3
năm 2025 anh T, chL làm đơn gửi thôn T, xã P. Đến ngày 17 tháng 3 năm 2025
thôn đã tiến hành đo đạc lại và kết quả đúng như đơn anh T, chL trình bày, thôn
đã cho hai bên tiến hành hòa giải nhưng không thành. Đến ngày 30 tháng 3 năm
2025 anh chị làm đơn gửi UBND P đến ngày 21 tháng 4 năm 2025 đã
tiến hành đo đạc lại và kết quả đúng như đơn anh chị trình bày, hai bên tiến hành
hòa giải nhưng bên gia đình anh N, chị H không đồng ý nên không thể hòa giải
được với nhau để giải quyết vụ việc tranh chấp đất đai đã được nêu trên. Vì vậy,
gia đình anh T, chL làm đơn khởi kiện đến Tòa án. Đề nghị Tòa án buộc anh
Văn N, chị Trần Thị H trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm 3,17m mặt tiền trước
3,16m mặt sau, chiều dài 25m, đối với thửa đất số 814, tờ bản đồ số 18; địa
chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị.
Bị đơn anh Võ Văn N chị Trần Thị H trình bày: Năm 2004 bố anh xuất
hộ cho vợ chồng anh và làm đơn xin cấp đất ở cho vợ chng anh và được thôn T
UBND P (củ) chấp nhận (cấp bán) cho vợ chồng anh đất vợ chồng
anh hiện nay đang ở. Từ năm 2005 vợ chồng anh ra riêng đã làm nhà tạm giữa
đất. Phía bên phải đất của gia đình anh một dãy bờ dứa hoang giáp với
hộ ông Ngọc B. Qua thời gian ở, vợ chồng anh đã phá bỏ bờ dứa hoang để
trồng hoa màu. Năm 2011, anh Ngọc T mua đất của ông Trần Văn Đ (trong
thôn) làm nhà ở, anh T đã xây hàng rào tông giáp ranh giới với đất vợ chồng
anh, từ đó tới nay không xảy ra tranh chấp lấn chiếm. Năm 2014, Nhà nước
chủ trương đo đạc lại bản đồ địa chính trong toàn cấp đổi lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ), hồ cấp đổi lại giấy CNQSDĐ phải xác
nhận của các hộ liền kề lúc đó mới m thủ tục cấp đổi giấy CNQSDĐ. Vợ chồng
anh được UBND huyện L cấp giấy CNQSDĐ ngày 22/12/2014, thửa đất số 63,
tờ bản đồ số 31; diện tích 518m²; hình thức sử dụng: riêng; mục đích sử dụng: đất
nông thôn 200m² đất trồng cây hàng năm khác 318m². Mốc giới thửa đất
được cán bộ địa chính P lập ngày 11/10/2013 có chữ ký xác nhận của hộ liền
kề có ranh giới giữa hai nhà c thể là tim tường rào và được Ủy ban nhân dân xã
P xác nhận. Hàng rào này do gia đình anh T đã xây dựng từ năm 2011, mà giấy
CNQSDĐ của gia đình anh, chị được cấp đổi năm 2014. Vậy tại sao nói anh, chị
lấn đất anh T. Việc địa chính cắm mốc ranh giới giữa lô đất của anh và lô đất của
anh T sang phần đất của anh 3.17m trên giấy tờ bản đồ địa chính sau khi xác
lập hàng rào tông 03 năm, điều này không đúng với thực tế. Năm 2016 vợ
chồng anh làm lại nhà, năm 2021 anh, chị mới hoàn thiện công trình vsinh,
giếng nước (vệ sinh giếng nước đã y dựng trong khoảng 3.17m anh T
cho đó tranh chấp). Từ m 2011 đến năm 2025 vợ chồng anh T làm việc
nhà không đi đâu, nếu như không hàng rào tông thì có thể xảy ra việc lấn
chiếm, đằng này đã có hàng rào bê tông kiên cthì lấn chiếm chỗ nào. Việc cấp
giấy CNQSDĐ không đúng với ranh giới giữa hai nhà (đã có hàng rào xác định)
đã xây dựng công trình dân dụng, nếu bị tháo dỡ thiệt hại kinh tế việc này ai
chịu. Trong khoảng thời gian năm 2004 - 2005 vùng đó 4 đất cấp mới sát
liền kề, các lô đó chưa có hàng rào bê tông kiên cố. Anh, chị đề nghị với Tòa án
các cấp thẩm quyền kiểm tra lại diện tích đất cả 4 đất đó, để xác định
được diện tích đất chênh lệch giữa các hộ vì ranh giới chưa cố đnh, trong lúc đó
ranh giới đất anh anh T đã xây kiên cố năm 2011. Việc thửa đất của anh
thừa diện tích là do khi đo đất ban đầu ông Đoàn Kim H3 địa chính xã P (củ) và
ông Trần Thái H4 trưởng thôn Thạch Bàn lúc đó không đo diện tích bờ dứa hoang
vào cho gia đình anh. Anh không lấn đất của anh T anh T đã xây hàng rào từ
năm 2011. Trong phần diện tích tranh chấp vợ chồng anh có đổ cao lên 01m đất.
Anh N, chị H mong Tòa án xét xử công bằng, khách quan, hợp để không ai
chịu thiệt.
Người làm chứng ông Lê Ngọc H2 và bà Hoàng Thị S (bố mẹ anh T, chị
L) trình bày: Ông, bà mua lại đất của ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1 vào
ngày 20/01/2011. Sau đó, ông bà làm Giấy CNQSDĐ và chuyển nhượng lại cho
anh T, chị L. Do mua đất đã lâu nên ông, không nhớ ranh giới thửa đất, chỉ
nhớ chiều dài 24,8m chiều rộng 20,25m theo giấy bán đất; tứ cận phía Bắc
giáp nhà anh T1, phía Tây giáp nhà anh N, phía Nam giáp nhà chị L1, phía Đông
giáp đất nhà anh N2, nhưng hiện tại thửa đất của anh T, chị L không đủ diện tích
theo giấy bán đất.
Người làm chứng ông Trần Văn ĐNguyễn Thị H1 trình bày: Ông,
người bán đất cho ông H2, S theo giấy mua bán ngày 20/02/2011. Sau
đó ông H2, bà S chuyển nhượng đất lại cho con là anh T, chị L. Do vic mua bán
đất đã lâu nên ông, bà không nhớ ranh giới giữa hai thửa đất 814 và thửa 63, địa
chính xã cắm mốc thì ông, bà ký.
Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất tranh
chấp tại thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị. Kết quả như sau:
Thửa đất 814, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa số 64, tờ bản đồ số 58) của vợ
chồng ông Lê Ngọc T và bà Phan Thị Tuyết L có tứ cận: phía Bắc tiếp giáp thửa
đất số 60, tờ bản đồ số 58, kích thước 20,06m; Phía Đông tiếp giáp thửa đất số
65, tờ bản đồ s 58, kích thước 24,84m; phía Tây tiếp giáp thửa đất số 63, tờ bản
đồ số 58, kích thước 24,89m; phía Nam tiếp giáp đường giao thông, kích thước
17,08m. Tổng diện tích: 460,9m².
Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 31 (nay thửa số 63, tờ bản đồ số 58) của
vợ chồng ông Võ Văn N và bà Trần Thị H có tứ cận: phía Bắc tiếp giáp thửa đất
số 60, tờ bản đồ số 58, kích thước 24,76m; phía Đông tiếp giáp thửa đất số 64, tờ
bản đồ số 58, kích thước 24,94m; phía Tây tiếp giáp thửa đất s 62, tờ bản đồ số
58, kích thước 25m; phía Nam tiếp giáp đường giao thông, kích thước 23,42m.
Tổng diện tích: 597,3m².
Kết quả định giá: Thửa đất 63, 64, tờ bản đồ s58: Thửa đất trên thuộc
khu vực 3, vị trí 1 nông thôn, đất giá trị: 481.000đồng/m², đất vườn giá
trị: 43.000 đồng/m²
Tài sản trên thửa đất 63 64, tờ bản đồ số 58 đang tranh chấp: Nhà vệ
sinh tự hoại kết cấu móng tường tự hoại bằng gạch, diện tích 12m², trị giá
6.597.000 đồng/1m²; 02 mái che lợp tồn, sườn khung sắt, trụ tông cốt thép,
nền láng xi măng có diện tích 97,1m², trị giá 761.000đồng/1m²; 01 cây lộc vừng,
trị giá 1.090.000 đồng/1cây; 02 cây đào, trị giá 755.000 đồng/1cây; 01 giếng
khoan trị giá 7.365.000 đồng/cái; 01 giếng đào đường kính 01m, sâu 11m, giá trị
2.551.000 đồng/1m²; hàng rào giáp đường giao thông xây gạch bờ lô, trụ bê tông
cốt thép cao 1,4m, dài 3,17m, giá trị 1.148.000đồng/m.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Quảng Trị đã quyết định: Căn cứ khoản 9
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68,
khoản 1 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 228, Điều 271 và
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 163, 164, 166, 274, 275 và 276 Bộ luật
dân sự, các Điều 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Lê Ngọc T
Phan Thị Tuyết L, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Võ Văn
N và bà Trần Th H.
2. Buộc ông Võ Văn N Trần Thị H phải trả lại 79,3m² đất, phá dỡ,
tháo dỡ, di dời toàn bộ phần tài sản xây dựng lấn chiếm để trả lại không gian
thuộc thửa đất của ông Ngọc T và bà Phan Thị Tuyết L một phần nhà vệ
sinh 4,3m² có kích thước từ điểm a đến điểm b dài 1,18m, từ điểm b đến điểm c
dài 3,21m, từ điểm c đến điểm 4 dài 1,54m, từ điểm 4 đến điểm a dài 3,09m; một
phần mái che sau 19,3m² có kích thước từ điểm b đến điểm c dài 3,21m, từ điểm
c đến điểm d dài 6,02m, từ điểm d đến điểm e dài 3,20m, từ điểm e đến điểm b
dài 6,02m; một phần mái che phía trước 6,5m² có kích thước từ điểm f đến điểm
g dài 1,07m, từ điểm g đến điểm h dài 5,60m, từ điểm h đến điểm 1 dài 1,25m, từ
điểm 1 đến điểm f dài 5,60m; hàng rào dài 3,17m từ điểm 1 đến điểm 2; 01 giếng
đào, 02 cây đào, 01 cây lộc vừng. (Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án)
3. Ông Lê Ngọc T và bà Phan Thị Tuyết L được sở hữu 01 giếng khoan.
4. Ông Ngọc T Phan Thị Tuyết L nghĩa vụ trả cho ông
Văn N và bà Trần Thị H, số tiền 7.365.000 đồng (Bảy triệu ba trăm sáu mươi lăm
nghìn) giá trị giếng khoan do ông Võ Văn N và bà Trần Thị H làm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng o
cho các đương sự.
Ngày 07/4/2026, bị đơn anh Văn N và chTrần Thị H đơn kháng
cáo không đồng ý với Bản án dân ssơ thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3
năm 2026 ca Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Quảng Tr do xét xử thiếu khách
quan, chưa đánh giá đầy đủ các chứng cứ thực tế, không đảm bảo quyền lợi của
anh, chị. Yêu cầu Tòa án xem xét lại toàn bộ nội dung Bản án dân sự sơ thẩm của
Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cung cấp thêm đơn trình bày về nguồn
gốc, mốc giới, ranh giới thửa đất của ông N, H ông Đ. Các đương stự
nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án đề nghị Tòa án Công
nhận sự thỏa thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng
Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục; các đương sự thực hiện
đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Tại
phiên tòa người làm chứng vắng mặt nhưng đã ý kiến tại hồ vụ án. Các
đương scó mặt đều có ý kiến xét xử vắng mặt người làm chứng. Việc vắng mặt
họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 229 Bộ
luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về nội dung: Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án. Thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, nội
dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức hội. vậy, đnghị
Hội đồng xét xử căn cĐiều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Sửa Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị. Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà;
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương
sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 07/4/2026 bị đơn anh Võ Văn N và chị Trần Thị H
làm đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30
tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị. Đơn kháng
cáo của bị đơn làm trong hạn luật định, đảm bảo về người kháng cáo, hình thức,
nội dung kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại
các Điều 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, kháng cáo của bị
đơn được xem xét theo trình tự, thủ tc phúc thẩm.
Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết
vụ án họ đã ý kiến tại hồ vụ án, các đương sự mặt đều đề nghị xét xử
vắng mặt người làm chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 229 Bộ luật tố
tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn N và bà Trần Thị H, Hội đồng
xét xử xét thấy:
Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn ông Võ Văn N, bà Trần Th H và nguyên
đơn ông Lê Ngọc T, bà Phan Th Tuyết L tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết v án, cụ thể:
[2.1] Xác định ranh giới sdụng đất giữa thửa đất 814, tờ bản đồ số 18
(nay là thửa số 64, tờ bản đồ số 58); địa chỉ: thôn T, T, tỉnh Quảng Trị hiện
nay ông Lê Ngọc T, Phan Thị Tuyết L đang sử dụng và thửa đất số 63, tờ bản
đồ số 31 (nay thửa số 63, tờ bản đồ số 58); địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Quảng
Trị hiện nay ông Văn N, Trần Thị H đang sử dụng (theo đồ đo vẽ bổ
sung) được xác định từ điểm số 12 đến điểm số 13, chiều dài 24,89m, thể hiện:
Phần diện tích đất 44,7m² (từ điểm số 02 đến điểm số 13 đến điểm số 12
đến điểm số 03) thuộc quyền sử dụng của ông Lê Ngc T, bà Phan Thị Tuyết L.
Phần diện tích đất 34,6m² (từ điểm số 01 đến điểm số 13 đến điểm số 12
đến điểm số 04) thuộc quyền sử dụng của ông Võ Văn N, bà Trần Th H.
Trên phần diện tích đất 44,7m² thuộc quyền sử dụng của ông Lê Ngọc T,
Phan Thị Tuyết L, phần công trình phụ diện tích xây dựng 2,2m² thuộc
quyền sở hữu của bị đơn ông Văn N, bà Trần Thị H (do ông N, bà H làm). Bị
đơn ông Võ Văn N, bà Trần Thị H đồng ý tự nguyện tháo dỡ để trả lại mặt bằng
cho nguyên đơn ông T, bà L.
[2.2] Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Võ Văn N, bà Trần Thị H thoả thuận
chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm bđơn ông N, bà H đã trả đủ số tiền 6.100.000 đồng cho
nguyên đơn ông Lê Ngọc T, bà Phan Thị Tuyết L.
[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm phúc thẩm: Bị đơn ông Văn N, bà
Trần Th H thỏa thuận chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tnguyện, nội dung
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, chấp nhận
ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và các bên đương sự. Hội đồng xét xử
căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa Bản
án dân sự sơ thẩm s17/2026/DS-ST ngày 30/3/2026 của Tòa án nhân n khu
vực 4, tỉnh Quảng Trị. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313; các Điều 147,
148; 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 166, 175, 176, 275
280 Bộ luật dân sự; các Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013 (tương ứng các
Điều 26, 31 Luật đất đai 2024); khoản 2 Điều 26, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:
1. Sửa Bản án dân sự thẩm số 17/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Công nhận ranh giới giữa thửa đất 814, tờ bản đồ số 18 (nay thửa số
64, tờ bản đồ số 58); địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị hiện nay ông Lê Ngọc
T, bà Phan Thị Tuyết L đang sử dụng thửa đất số 63, tờ bản đồ số 31 (nay là
thửa số 63, tbản đồ số 58); địa chỉ: thôn T, T, tỉnh Quảng Trị hiện nay ông
Văn N, Trần Thị H đang sdụng được xác định từ điểm số 12 đến điểm
số 13, có chiều dài 24,89m (có sơ đồ đo vẽ bổ sung kèm theo), cụ thể:
Phần diện tích đất 44,7m² (từ điểm số 02 đến điểm số 13 đến điểm số 12
đến điểm số 03) thuộc quyền sử dụng của ông Lê Ngc T, bà Phan Thị Tuyết L.
Phần diện tích đất 34,6m² (từ điểm số 01 đến điểm số 13 đến điểm số 12
đến điểm số 04) thuộc quyền sử dụng của ông Võ Văn N, bà Trần Th H.
Ông Võ Văn N, bà Trần Thị H tự nguyện tháo dỡ phần công trình phụ, có
diện tích 2,2m² nằm trên phần diện tích đất 44,7m² thuộc quyền sử dng của ông
Ngọc T, Phan Thị Tuyết L để trả lại mặt bằng cho ông Ngọc T
Phan Thị Tuyết L.
Ông Ngọc T, Phan Thị Tuyết L ông Văn N, Trần Thị H
được quyền quản lý, sử dụng đất theo ranh giới đã thỏa thuận và có trách nhiệm
liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để thực hiện việc đăng biến động
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí ttụng: Bị đơn ông Văn N, Trần Thị H thỏa thuận
chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm bđơn ông N, bà H đã trả đủ số tiền 6.100.000 đồng cho
nguyên đơn ông Lê Ngọc T, bà Phan Thị Tuyết L.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Văn N, Trần Thị H thoả thuận chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho ông Ngọc T, bà Phan Thị Tuyết L stiền 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000603 ngày
08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Võ Văn N Trần Thị H
thoả thuận chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai
số 0001570 ngày 10/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Ông N, bà H
đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/7/2026.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Trị; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
- TAND khu vực 4 - tỉnh Quảng Trị;
- VKSND Tối cao;
- TANDTC;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- THADS Khu vực 4, Q Trị;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, AV.
Dương Viết Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 53/2026/DS-PT Bản án số 53/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 53/2026/DS-PT Bản án số 53/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất