Bản án số 649/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 649/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 649/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 649/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà B và bà L tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 649/2026/DS-PT Bản án số 649/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 649/2026/DS-PT Bản án số 649/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 649/2026/DS-PT
Ngày 17-7-2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu hiệu hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Lê Thị Ngọc Phấn
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 7 m 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 517/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm
2025 về việc:“Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hiệu hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 245/2026/QĐPT-DS
ngày 25 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị B, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp M, xã M, th
xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
1. Ông Trần Hoàng N, sinh năm 1983. Địa chỉ: số B P, phường B, Thành
phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
2. Ông Phước H, sinh năm 1960. Địa chỉ: số A B, khu phố G, phường
K, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số C đường D, T, Thành phố
Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Bị đơn:
2
1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị B, tỉnh
Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) (Có mặt).
2. Ông Vương Quốc L1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị B,
tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1945 (Vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1943 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh
Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C: Ông Ung Văn H2,
sinh năm 1962. Địa chỉ: Số A đường P, phường P, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích của ông C: Ông Huỳnh Chí T Luật
Công ty L4 Thuộc Đoàn luật sư Thành phố C. (Có mặt).
3. Anh Trần Văn Phú Q, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh
Vĩnh Long (nay là ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (Vắng mặt).
4. Thị C1, sinh năm 1957 (vợ ông N2). Địa chỉ: ấp M, M, thị xã
B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).
Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị L2, sinh năm 1968 (chị ruột B). Địa chỉ: ấp T, T,
huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 (con ông C). Địa chỉ: ấp A, T,
huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là A, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (Có mặt).
3. Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh
Long (Có mặt).
4. Anh Trần Thanh V, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh
Long (Có mặt).
- Người kháng cáo:Nguyễn Thị B Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ lời khai của nguyên đơn trong
hồ sơ vụ án thể hiện:
Nguyễn Thị B trình bày: đang đứng tên đăng quyền sử dụng đất
thửa số 742, tờ bản đồ s10, diện tích 1.0284m
2
loại đất trồng cây lâu năm, tọa
lạc ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long. Nguồn gốc đất do nhận chuyển
nhượng của ông Trần Văn N2 vào năm 2010 với giá 563.940.000 đồng. Năm
2010, B đi xuất khẩu lao động nước ngoài nên nhờ cha ruột ông
Nguyễn Văn C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1729, tờ
3
bản đồ số 4, diện tích 1.001,7m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, đến ngày
22/6/2010 chuyển mục đích sang đất trồng cây lâu năm.
Đến ngày 05/5/2012, bà B được Văn phòng đăng quyền sử dụng đất
huyện B xác nhận việc cha ông Nguyễn Văn C tặng cho thửa đất 1729 lại
cho bà. Ngày 12/9/2023, B được Văn phòng đăng đất đai tỉnh V cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 742.
Thời điểm năm 2010 do B đi xuất khẩu lao động nước ngoài nên ông
C cho vợ chồng chị ruột của B Nguyễn Thị L ông Dương Quốc L3
quản thửa 1729 (nay thửa 742) hưởng hoa lợi, cũng đồng ý việc này.
Quá trình quản đất thì L ông L3 không trồng thêm cây gì. Đến nay,
do B nhu cầu sử dụng thửa đất 742 nên B yêu cầu L và ông L3 trả
lại thửa đất 742 tài sản trên đất cho nhưng L ông L3 không đồng ý
trả và yêu cầu B phải bồi thường số tiền 300.000.000 đồng thì mới trả đất,
B không đồng ý việc này.
Bà B khởi kiện yêu cầu như sau:
- Yêu cầu Nguyễn Thị L ông Vương Quốc L1 phải giao trả cho B
thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
loại đất trồng cây lâu
năm tọa lạc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long tài sản trên đất gồm những
cây trồng lúc bà B đã mua. Riêng phần cây trồng bà L tự trồng thì bà L tự di dời,
bà B không hỗ trợ phí di dời.
- hiệu hợp đồng tặng cho ngày 30/3/2012 giữa ông Nguyễn Văn C với
Nguyễn Thị B.
- Công nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long cho
Nguyễn Thị B.
Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn C do người đại diện ông Ung Văn
H2 trình bày: Ngày 24/3/2010 ông C nhận chuyển nhượng thửa đất số 1690,
tờ bản đồ số 4, diện tích 1.413m
2
đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp M,
M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long của ông Trần Văn N2. Đến ngày 28/5/2010 ông C
được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số
1729, tờ bản đồ số 4, diện tích 1001,7m
2
đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại
ấp M, M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 22/6/2010 ông C được Ủy ban
nhân dân huyện B cho chuyển mục đích sử dụng thành đất trồng cây lâu năm
ông C quản lý, sử dụng thửa đất trên đến nay.
Khoảng cuối năm 2023, ông C nghe thông tin Nguyễn Thị B đang nhờ
người rao bán thửa đất, ông C mới kiểm tra lại thì phát hiện bị mất giấy chứng
nhận quyền sdụng đất của thửa đất số 1729. Qua tìm hiểu, ông C mới biết
4
Nguyễn Thị B, lúc bấy giờ đang cùng gia đình ông C, biết nơi ông C để giấy
tờ đất, đã lén lút lấy giấy chứng nhận của ông, bà Nguyễn Thị B giả mạo chữ ký
của ông C lập hợp đồng tặng cho thửa đất nêu trên từ ông C sang cho bà Nguyễn
Thị B B đã được Văn phòng đăng đất đai chỉnh biến động sang n
mặt ba cho Nguyễn Thị B đứng tên vào ngày 05/5/2012. Ngày 12/9/2023,
Nguyễn Thị B được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V cấp lại GCNQSDĐ thành
thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.028,4m
2
đất trồng cây lâu năm, tọa
lạc tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Ông Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu như sau:
- hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2012 giữa ông
Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị B đối với thửa đất 1729, tờ bản đồ số 4, diện
tích 1.001,7m
2
loại đất cây lâu năm, tọa lạc ấp M, M, thị B, nay thửa
742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
loại đất trồng cây lâu năm, tọa
lạc tại ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long. do, chữ trên hợp đồng tặng cho
là chữ ký giả mạo, không phải chữ ký của ông C.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thị B ngày
12/9/2023 đối với thửa đất 742 nêu trên. Hủy đăng biến động sang tên B
đứng tên mặt 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1729 ngày
05/5/2012 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.
- Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông C được sử dụng hợp pháp
thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
loại đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc tại ấp M, xã M, thị xã B cho ông Nguyễn Văn C.
Bị đơn Nguyễn Thị L trình bày: Sau khi cha ông Nguyễn Văn C
nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Văn N2 thì tách thành 03 thửa, ông C
tặng cho 02 thửa đất diện tích khoảng 412m
2
trên đất hiện tại đã cất nhà
kiêng cố và trồng một số cây trồng. Bà L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà
B yêu cầu L trả đất, do nhận đất tcha bà là ông C, nếu trả thì bà phải trả
cho ông C. Hiện tại trên đất L xây dựng một căn nhà cấp 4 vào năm 2011
trồng một số cây trồng. L không yêu cầu đòi bà B bồi thường số tiền
300.000.000 đồng như B trình bày. L thống nhất với yêu cầu của ông
Nguyễn Văn C.
Bị đơn ông Vương Quốc L1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của
L yêu cầu của ông Nguyễn Văn C, lúc ông C mua đất của ông N2 thì ông
L1 là người trực tiếp đi cùng ông C để nhận chuyển nhượng từ ông N2.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C1 trình bày: Chồng bà
ông Trần Văn N2 bán đất cho Nguyễn Thị B tại thửa đất số 1690 với giá
536.940.000 đồng, B trả tiền cọc mua đất với số tiền 30.000.000 đồng tại
5
nhà bà. Số tiền còn lại 506.940.000 đồng thì nhận từ ông C trả cho tại Ủy
ban xã, bà biết số tiền này là do bà B gửi tiền về để trả cho bà.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ Điều 122; Điều 388; 398; 399; 400; 401 500; 502 503 của Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 166; Điều 167 Điều 179 Luật đất đai năm 2013;
Điều 26; 27; 31; 37; 45; Điều 131; Điều 133; Điều 135; Điều 137; Điều 235
Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện củaNguyễn Thị B.
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị B về việc công
nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp
M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) cho
bà.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu bà Nguyễn
Thị L ông Vương Quốc L1 di dời ra khỏi thửa đất 742, tờ bản đồ số 10, diện
tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp M, xã M, thị B, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp
M, phường C, tỉnh Vĩnh Long).
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C yêu cầu của Nguyễn Thị
B vviệc hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2012 giữa
ông Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị B.
Công nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
tọa
lạc tại ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh
Long) cho ông Nguyễn Văn C, gồm các mốc 1-2-b-3-4-5-a-1.
Ông Nguyễn Văn C được quyền liên hệ với quan thẩm quyền đ
khai đăng quyền sdụng đất theo quy định (Kèm theo Kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất ngày 16/9/2024).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm, chi ptố tụng, nghĩa vụ thi
hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 03 tháng 10 năm 2025 B gửi đơn kháng
cáo tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long yêu cầu hộ Nguyễn Thị L di dời trả
lại thửa đất 742, tờ bản đồ số 10 như hiện trạng ban đầu; yêu cầu ông C chứng
minh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BA 461269 do Ủy ban
nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 28/5/2010 không hợp pháp; yêu
6
cầu công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DL 387485 do
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V cấp ngày 12/9/2023 là hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Hoàng N đại diện nguyên đơn trình bày:
Bà B giữ nguyên kháng cáo yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà.
Tại phần tranh luận, ông N trình bày: Tòa án cấp thẩm vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau: chưa làm số tiền ông C nhận chuyển
nhượng đất của ông N2. Số tiền này do B gửi tiền mặt cho bà L2 mang về
Việt Nam đưa cho ông C ông D sống chung trong gia đình nên biết bà B
gửi tiền mua đất; Tòa án thụ vụ án chưa qua hòa giải sở; chưa đưa H1
vào tham gia tố tụng; không xem xét tài sản trên đất. Do đó đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét hủy án sơ thẩm.
Bị đơn L và ông L1 trình bày: Không đồng ý kháng cáo của bà B. Thửa đất
742 là của ông C, cho vợ chồng ông canh tác sau khi nhận chuyển nhượng
của ông N2. Trên đất nhà do vợ chồng ông xây dựng từ năm 2011 cây
trồng của ông bà. Nếu trường hợp Tòa án công nhận thửa đất cho ông C thì ông
không tranh chấp tài sản trên đất, còn nếu công nhận đất cho B thì yêu
cầu bà B bồi hoàn giá trị tài sản trên thửa đất.
Ông Ung Văn H2 đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông
C không đồng ý kháng cáo của B. Nguyên đơn cho rằng ông C trên 70 tuổi
thì không tiền đmua đất không phù hợp vì thông thường người lớn tuổi
nhiều tài sản tích lũy, việc ông C tài sản tích lũy căn cứ chứng minh
ông C đất canh tác nhiều năm, ông còn giới thiệu người mua bán bất động
sản nên thu nhập tích lũy. Nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm không
làm xác định căn nhà trên đất của bà B dựa vào xác nhận của Ủy ban nhân
dân xã là chưa phù hợp, vì nội dung xác nhận không đủ cơ sơ xác định nhà đất
của B; việc nguyên đơn cho rằng vụ án chưa hòa giải sở vi phạm t
tụng nhưng khi ông C khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất nên pháp luật không bắt buộc phải hòa giải cơ sở, trong vụ án này bà B
kiện L đã hòa giải sở đối với thửa đất tranh chấp và Tòa án nhập vụ án
giải quyết nên cho rằng vụ án không hòa giải sở không phù hợp; việc
nguyên đơn cho rằng ông C giao tiền cho ông N2 người làm chứng ông D và
C1 cũng không đúng, thực tế việc giao tiền chỉ có ông N2 và ông C giao nhận
đã được Tòa án cấp thẩm làm rõ; B cho rằng đất của B nhưng ông C
tách thửa cho L và ông L1 thì bà B biết nhưng bà B cũng không có ý kiến.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông C tnh bày: Nguyên đơn
cho rằng Tòa án cấp thẩm chưa làm số tiền ông C mua đất nhưng tại bản
án thẩm đã nhận định về việc số tiền ông C trả cho ông N2 khi nhận
7
chuyển nhượng đất; Tòa án cấp sơ thẩm cũng nhận định về nguồn tiền B
cho rằng gửi về cho ông C mua đất của ông N2 lời khai người làm chứng về
việc chứng kiến giao nhận tiền được thể hiện trong hồ ván; Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông C B lập ngày 30/3/2012 không
thật, kết luận giám định cũng xác định không phải ông Chhợp đồng nên
hợp đồng không hiệu lực, vậy việc cấp giấy cho B không đúng về mặt
nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của B, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu: Về việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người tham gia tố tụng: Tất
cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến xét xử phúc
thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Nguyễn Thị B. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 19
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị B nộp trong hạn
luật định, phù hợp quy định Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được giải
quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền quan hpháp luật tranh chấp: Ông Nguyễn Văn C
khởi kiện Nguyễn Thị B yêu cầu hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất ngày 30/3/2012; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn
Thị B và công nhận cho ông C thửa đất 1729, tờ bản đồ số 4, diện tích
1.001,7m
2
loại đất cây lâu năm (theo chương trình đất chính quy thửa đất số
742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
); Ngày 04/3/2024, Nguyễn
Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị L và ông Vương Quốc L1 trả lại
quyền sử dụng đất; ngày 06/02/2025 B đơn kiện bổ sung yêu cầu hiệu
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/03/2012 giữa ông Nguyễn Văn C
Nguyễn Thị B. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định tranh chấp
quyền sử dụng đất; tranh chấp yêu cầu hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp thẩm xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
8
đất chưa chính xác. Về thẩm quyền giải quyết Tòa án cấp thẩm thụ giải
quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định Điều 26 34, 35 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Về nguồn gốc thửa đất:
[3.1] Căn cứ Văn bản số: 2305/VPĐK-TTLT ngày 14/5/2026 của Văn
phòng đăng đất đai tỉnh V thể hiện: Thửa đất số 1690, tờ bản đồ số 4, diện
tích 1413,0m
2
loại đất LUC do ông Trần Văn N2 đứng tên đăng quyền sử
dụng đất. Ngày 24/3/2010 ông N2 chuyển nhượng thửa đất 1690 cho ông
Nguyễn Văn C theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng
thực tại Ủy ban nhân dân M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long ny 24/3/2010. Giá
chuyển nhượng 536.940.000 đồng. Ông Nguyễn Văn C được Ủy ban nhân dân
huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/4/2010.
[2.2] Tháng 6/2010, ông Nguyễn Văn C thực hiện thủ tục tách thửa 1690
thành 03 thửa như sau: thửa 1727; 1728; 1729 tờ bản đồ số 4. Sau khi tách thửa,
ông C tặng cho ông Vương Quốc L1 thửa đất 1727 diện tích 200,5m
2
1728
diện tích 210,8m
2
. Còn thửa đất số 1729, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.001,7m
2
loại
đất LUC ông Nguyễn Văn C đứng tên quyền sử dụng đất và ông C thực hiện thủ
tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước thành đất trồng
cây lâu năm, được ký xác nhận trang 3 giấy chứng nhận ngày 22/6/2010.
[2.3] Xét B trình bày, B người nhận chuyển nhượng đất của ông
N2, tuy nhiên căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
24/3/2010 do ông Nguyễn Văn C bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng không
B tham gia xác lập. B cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
chứng minh B bên giao dịch nhận chuyển nhượng với ông Trần Văn N2
đối với thửa đất nêu trên và thanh toán tiền nhận chuyển nhượng đất cho ông
N2. B trình bày bà có gửi tiền về cho ông C trả tiền nhận chuyển nhượng đất
của ông N2 nhưng ông C không thừa nhận B không tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho lời trình bày này nên không có căn cứ xem xét.
[3] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1729, tờ bản
đồ số 4, diện tích 1.001,7m
2
ngày 30/3/2012 giữa ông Nguyễn Văn C với
Nguyễn Thị B thể hiện trên hợp đồng chữ ký của ông Nguyễn Văn C chữ
ký của bà Nguyễn Thị B. Ông C và bà B đều có lời khai không thừa nhận chữ ký
trong hợp đồng này do ông C và bà B ký tên.
Ông C xác định không tặng cho Bình Q1 sử dụng thửa đất số 1729,
tờ bản đồ số 4, diện tích 1.001,7m
2
. vậy, ông C yêu cầu giám định chữ
của ông C trong hợp đồng nêu trên. Tại Kết luận giám định số 372/KL-KTHS,
ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chữ trên hợp đồng
9
ngày 30/3/2012 không phải chữ của ông Nguyễn Văn C. Như vậy, kết quả
giám định phù hợp với lời trình bày của ông C về việc ông C không xác lập
giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất trên.
Về phía bà B, tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/02/2025, bà B trình bày từ
tháng 7/2011 đến tháng 6/2014 B không mặt tại Việt Nam nên hợp đồng
tặng cho ngày 30/3/2012 bà B không làm giả chữ ký ông C được. Bà B trình bày
tại thời điểm xác lập hợp đồng tặng cho ngày 30/3/2012 B không mặt tại
Việt Nam, không trực tiếp tham gia ký hợp đồng này.
Từ những lời trình bày của ông C, B kết luận giám định nêu trên,
căn cứ xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2012 không
phải ý chí của B ông C tự nguyện xác lập, không phù hợp các điều kiện
giao dịch hiệu lực được quy định tại Điều 122 và 127 Bộ luật Dân sự năm
2005. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C yêu
cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2012 giữa
ông C B căn cứ và công nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện
tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long cho ông
Nguyễn Văn C là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Căn cứ liệu quản đất đai thể hiện tại Văn bản số 2305/VPĐK-
TTLT ngày 14/5/2026 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh V, Nguyễn Thị B
đăng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên sở hợp đồng tặng
cho ngày 30/3/2012. Như nhận định tại mục [3] hợp đồng tặng cho ngày
30/3/2012 giữa ông C và bà B bị vô hiệu, nên thửa đất 1729 tờ bản đồ số 4, diện
tích 1.001,7m
2
(nay 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
) của
ông Nguyễn Văn C, do vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa
742 cho B theo giao dịch tặng cho ngày 30/03/2012 là không hợp pháp.
vậy, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của B về việc
yêu cầu công nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ s10, diện tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp M, xã M, thị B, tỉnh Vĩnh Long cho B không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện buộc Nguyễn Thị L ông Vương Quốc L1 di dời ra khỏi
thửa đất 742 là có căn cứ.
[5] Căn cứ hướng dẫn tại mục 2 Phần II Công văn số 64/TATC ngày
03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu nhưng người nhận chuyển
quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận
nội dung biến động thì không đưa quan thẩm quyền trong việc cấp giấy
tham gia tố tụng không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người
nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất
10
hiệu thì Văn phòng đăng đất đai, quan Tài nguyên Môi trường căn cứ
vào bản án, quyết định của Tòa án đgiải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp
lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa
án. Do đó, ông C yêu cầu hủy giấy chứng nhận tên Nguyễn Thị B không cần
thiết, ông C được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật, quan thẩm quyền đăng quyền sử
dụng đất scăn cứ vào bản án của Tòa án để cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
[6] Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất không
chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị B. Giữ nguyên Bản án thẩm số:
73/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Vĩnh Long.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
Điều 12 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do kháng cáo của B không
được chấp nhận nên bà B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù hợp
với nhận định trên có căn cứ chấp nhận.
[9] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị B. Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện củaNguyễn Thị B.
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị B về việc công
nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp
M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) cho
bà.
11
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu bà Nguyễn
Thị L ông Vương Quốc L1 di dời ra khỏi thửa đất 742, tờ bản đồ số 10, diện
tích thực đo 952,4m
2
tọa lạc tại ấp M, xã M, thị B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp
M, phường C, tỉnh Vĩnh Long).
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C yêu cầu của Nguyễn Thị
B vviệc hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2012 giữa
ông Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị B.
Công nhận thửa đất số 742, tờ bản đồ số 10, diện tích thực đo 952,4m
2
tọa
lạc tại ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long (nay ấp M, phường C, tỉnh Vĩnh
Long) cho ông Nguyễn Văn C, gồm các mốc 1-2-b-3-4-5-a-1.
Ông Nguyễn Văn C được quyền liên hệ với quan thẩm quyền đ
khai đăng quyền sdụng đất theo quy định (Kèm theo Kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất ngày 16/9/2024).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Nguyễn Thị B phải chịu 300.000
đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. B được khấu trừ vào số tiền 300.000
đồng đã nộp tạm ứng ngày 06/10/2025 theo biên lai thu số 0004166 của Thi
hành án dân sự Vĩnh Long. Bà B đã nộp đủ.
4. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II - TATC;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng GĐKTNV&THA TAND TVL;
- TAND khu vực 3 - Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Văn phòng TAT Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 649/2026/DS-PT Bản án số 649/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 649/2026/DS-PT Bản án số 649/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất