Bản án số 1018/2026/DS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1018/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1018/2026/DS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1018/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D “Tranh chấp quyền sử dụng đất với Nguyễn Văn C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1018/2026/DS-PT Bản án số 1018/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1018/2026/DS-PT Bản án số 1018/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1018/2026/DS-PT
Ngày: 10 8 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH
TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Nam.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Thiện Tâm;
Bà Dương Thúy Hằng.
- Thư phiên tòa: Thị Mỹ Hương - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử công khai vụ án n sự phúc thẩm thụ số: 415/2026/TLPT-DS ngày 28
tháng 5 năm 2026, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 65/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026,
của Toà án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 317/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1956, số căn cước công dân:
************ do Cục Cảnh sát cấp ngày 16/12/2021; Địa chỉ: ấp T, C, tỉnh
Tây Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn
G, scăn cước công dân: ************ do Cục Cảnh sát cấp ngày 22/11/2021
Luật sư, thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn G Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt.
2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1947, số căn cước công dân:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1965, số căn cước công dân: ************ do Cục
Cảnh sát cấp ngày 06/01/2025; Cùng địa chỉ: ấp N, T, tỉnh Tây Ninh, ông C,
bà H đều có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị H: ông Minh H1,
sinh năm 1965, số căn cước công dân: ************ cấp ngày 31/10/2025; địa
2
chỉ: 4, K, Phường C, thành phố Cần Thơ, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Phương Hồng T, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp N, T,
tỉnh Tây Ninh, có mặt;
3.2. Bùi Thị H2, sinh năm 1978 ông Nguyễn Văn T1, sinh năm
1976; Cùng địa chỉ: ấp N, xã T, tỉnh Tây Ninh, bà H2 có mặt, ông T1 vắng mặt;
3.3. Dương Thị Kim N, sinh năm 1983; Địa chỉ: 3 S, phường A, Thành
phố Hồ Chí Minh, có mặt;
3.4. Ông Đặng Thế V, sinh năm 2004; Địa chỉ: ấp N, xã T, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt;
3.5. Phạm Thị H3, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp N, xã T, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt;
3.6. Ông Trần Hoàng A, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp N, T, tỉnh Tây
Ninh, vắng mặt.
Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn D là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn- ông Ngô Công B trình bày:
Ông D là chủ sử dụng thửa đất số 1532, diện tích 358m
2
, tờ bản đồ số 4, đất
ONT, đất tại ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An, nay T, tỉnh Tây Ninh.
Nguồn gốc đất do ông D nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Bảo L Trần
T2 vào năm 2019. Thời điểm chuyển nhượng, phía chuyển nhượng giao
ranh đất, cắm 4 cọc ranh, 2 cọc phía giáp ranh với đất của ông C và 02 cọc
phía giáp ranh với đất của bà H. Sau đó, ông D cắm thêm các cọc ranh giữa
các cọc trên. Đồng thời, ông D kéo thước dây đo chiều dài các cạnh theo các
cọc ranh số đo cụ thể sau: cạnh ngang trước 12m, cạnh ngang sau 18m,
chiều dài thửa đất 22m phía giáp với ông C 22,8m phía giáp với đất của
H. Sau khi kiểm tra sơ bộ, ông D phát hiện diện tích đất thực tế có nhiều hơn diện
tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông D mua đất để đầu tư, nên sau
khi mua đất, ông để đất trống, chưa xây dựng công trình trên đất, trên đất chỉ
các cọc ranh do chủ ông D cắm. Đầu năm 2022, ông D đến thăm đất thì
phát hiện ông C H mỗi bên đều xây dựng thêm 01 căn nhà mới lấn sang
đất của ông D. Ông D kéo thước đo lại các cạnh theo các cọc thì không còn đủ
với số đo khi nhận đất. Hiện các cọc ranh vẫn còn nhưng theo ông D đã bị nhổ và
dời cọc sang vị trí khác nên không còn đủ số đo khi kiểm tra đất. Do đó, ông D
khởi kiện yêu cầu bà H và ông C trả lại phần đất lấn chiếm.
Sau khi nhận được Mảnh trích đo địa chính số 59-2025 do Chi nhánh Văn
phòng Đ duyệt ngày 27-6-2025, nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
1. Yêu cầu bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại
3
cho ông Nguyễn Văn D phần đất lấn chiếm theo ranh bản đồ địa chính thửa đất
của ông D, cụ thể:
- Yêu cầu ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Phương Hồng T những
người liên quan di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trên đất trả lại hiện trạng
đất trống cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí tương ứng với khu C (diện
tích là 62m
2
), khu D (diện tích 24,9m
2
).
- Yêu cầu Nguyễn Thị H, Bùi Thị H2, ông Nguyễn n T1 và những
người thừa kế của Nguyễn Thị M di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trả lại
hiện trạng đất trống cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí tương ứng với khu
F (diện tích 14,2m
2
) và toàn bộ diện tích nhà thuộc khu E (diện tích 14,4m
2
).
các cọc ranh trước đây ông D cắm, bị đơn những người liên quan đã
di dời cọc không ý kiến của ông D, nên khi xác định ranh giới để đo đạc,
nguyên đơn chỉ ranh mang tính tương đối, không nhớ vị ttheo các cọc ranh
trước đây. Nay nguyên đơn xác định yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trả lại phần đất lấn chiếm ranh giới theo ranh bản đồ thửa đất mà
nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Đối với yêu cầu hiệu Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thông qua
vi bằng giữa bà Bùi Thị H2 Nguyễn Thị M: quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn nộp đơn xin rút lại yêu cầu này, quan hệ hợp đồng này do phía
H2 M tự thương lượng giải quyết, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết
hợp đồng nêu trên. Việc rút yêu cầu này là tự nguyện. Tại phiên tòa, phía nguyên
đơn xác định tiếp tục yêu cầu này.
Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị
H trình bày: phần đất thuộc thửa 1535, Tờ bản đồ số 4, đất tại ấp N, Đ, huyện
C, tỉnh Long An nay là xã T, tỉnh Tây Ninh hiện do bà Nguyễn Thị M là mẹ của
đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2023, Nguyễn Thị M chết. Ngày 08-8-
2022, tại Văn phòng C1, bà Nguyễn Thị M lập Di chúc để lại quyền sử dụng thửa
đất số 1535 (pcl), Tờ bản đồ số 4, diện tích 736m
2
, đất tại ấp N, Đ, huyện C,
tỉnh Long An cho Dương Thị Kim N, ông Đặng Thế V bà Nguyễn Thị H.
Trong đó, H được hưởng 322m
2
, N được hưởng 300m
2
, ông V được hưởng
114m
2
. Do hiện nay tranh chấp với ông D nên chưa thực hiện xong thủ tục
chuyển quyền.
Khoảng năm 2019, tách một phần đất thuộc thửa 1535 diện tích
ngang 5m, dài 25m, chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn S (hiện đã chết), thời
điểm này M vẫn còn đứng tên, nhưng người đứng ra bán đất H. Do
không đủ diện tích tách thửa nên M vẫn đứng tên, chỗ họ hàng nên không lập
giấy tờ mua bán. giao đất cho ông S cắm cọc ranh, gồm 02 cây cọc giáp
ranh phía ông D do ông D cắm, từ 2 cọc đó bà kéo ngang 5m bán cho ông S. Hiện
trạng thời điểm đó đất của bà là đất ao, bà bơm cát lên đầy và bán cho ông S. Sau
đó, ông S xây dựng nhà trên phần đất này. Đến năm 2021, ông S bán nhà đất
lại cho ông Nguyễn Văn Hữu P P. Do thời điểm này bà M đứng tên giấy nên
4
M đứng ra tên giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cũng trong
năm 2021, ông P bán nhà đất lại cho Bùi Thị H2 ông Nguyễn Văn T1.
Hiện căn nhà đất do H2 ông T1 quản lý, sử dụng. Việc mua bán này
lập vi bằng về việc mua bán đất. Do Nguyễn Thị M đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nên M đứng tên bên bán trong vi bằng. Với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, không đồng ý. Bởi khi ông D nhận chuyển nhượng đất,
cắm các cọc ranh với đất của M, phía chỉ xây dựng nhà từ cọc ranh sang
đất của bà. Đồng thời bà có nhờ đơn vị đo đạc đến đo đạc theo ranh cọc, không có
việc nhổ cọc ranh sdụng lấn đất của ông D. Lúc này, trên đất đã tồn tại
căn nhà của H2 đang sử dụng. Giữa đất của ông D từ trước đến nay
ranh giới rõ ràng, đất của bà là đất ao, còn đất của ông D là nền gò cao, bà phải đổ
nền mới bán cho ông S. Hơn nữa, việc mua bán đất diễn ra giữa ông D chủ đất
như thế nào không rõ, giao đất như thế nào không biết. Khi ông D mua
đất không tiến hành đo đạc để xác định ranh giới, cũng không gặp các chủ sử
dụng đất liền kề xác định ranh giới. Việc ông D được cấp quyền sử dụng đất
chính xác hay không bà không biết. Bà xác định từ trước đến nay, bà ông C sử
dụng đúng ranh đất, không nhổ cọc lấn ranh như trình bày của nguyên đơn.
Theo các lời khai trong qtrình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn
Văn C trình bày: ông chủ sử dụng thửa đất số 1530, tờ bản đồ số 04, đất tại
Đ, huyện C, tỉnh Long An nay là T, tỉnh Tây Ninh. Ông không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông không sử dụng lấn chiếm đất của nguyên
đơn. Trước đây, phía ông Nguyễn Văn M1 (người môi giới) Đ mua của
ông một phần đất ngang 6m, dài hết đất. Lý do ông M1 đưa ra: Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của chủ đất liền kề (thửa 1532) trùm sang phần đất ông C
thực tế quản lý, sử dụng nên ông M1 đề nghị ông C bán 6m ngang phần đất ông
đang sử dụng để đủ diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1532
(ông không rõ diện tích cụ thể). Ông chuyển nhượng với giá là 320.000.000 đồng.
Hai bên không lập văn bản mua bán, không tiến hành đo đạc, chtự kéo thước
dây đo. Sau đó, ông M1 cắm hai cọc ranh với đất của ông, hiện cọc ranh đầu sát
vách căn nhà của con ông – Nguyễn Thị Phương Hồng T, một cây cọc cắm ở cuối
đất. Trên thửa đất thổ ông đứng tên thuộc thửa 1530, căn nhà của ông ngang
5,5m, liền kề nhà của con ông ngang 5m, sát với ranh đất ông M1 đã mua
và cắm cọc ranh trước đây. Hiện phần đất ông M1 mua đã chuyển nhượng lại cho
ông D, còn phần đất của chủ liền kề bên kia ngang bao nhiêu thì ông không rõ.
Từ trước đến nay, ông luôn sử dụng đúng ranh giới đất, không việc ông
H nhổ cọc dời ranh như phía nguyên đơn trình bày.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Phương Hồng T trình bày: căn nhà trên phần
đất đang tranh chấp do xây dựng quản lý, sử dụng. Phần đất do cha bà
ông Nguyễn Văn C đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cha cho đất
cất nhà nhưng hiện chưa thực hiện thủ tục sang tên. xây ntừ năm 2021.
xây đúng cọc ranh phía ông D cắm. không nhổ cọc, dời ranh như phía
5
nguyên đơn trình bày. Ông D mua đất không tiến hành đo đạc, không xác định
ranh giới với chủ sử dụng đất liền kề, ông D căn cứ vào bản đồ địa chính cho rằng
gia đình bà lấn đất là bà không đồng ý.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Bùi Thị H2 trình bày: đang quản lý, sdụng căn nhà
trên thửa đất 1535 do bà M1 đang đứng tên quyền sử dụng đất. Do không đủ điều
kiện tách thửa đất nên vợ chồng mua nhà đất thông qua vi bằng. Căn nhà này
xây dựng từ khoảng năm 2019, sau đó bán cho ông P mới bán lại cho bà, không
phải mới xây dựng trong thời gian giãn cách như nguyên đơn trình bày. Bà không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 chồng của
Bùi Thị H2 thống nhất với lời trình bày của bà H2.
Tại Bản án dân sthẩm số: 65/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026,
của Toà án nhân dân khu vực 6 - Tây Ninh, đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H, cụ
thể:
- Yêu cầu ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Phương Hồng T những
người liên quan di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trên đất trả lại hiện trạng
đất trống cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí tương ứng với khu C (diện
tích là 62m
2
), khu D (diện tích 24,9m
2
).
- Yêu cầu Nguyễn Thị H, Bùi Thị H2, ông Nguyễn n T1 và những
người thừa kế của Nguyễn Thị M di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trả lại
hiện trạng đất trống cho ông Nguyễn n D phần đất vị trí tương ứng với khu
F (diện tích 14,2m2) và toàn bộ diện tích nhà thuộc khu E (diện tích 14,4m2).
Các khu C, D, E, F nêu trên thuộc Mảnh trích đo địa chính số 59-2025 do
Chi nhánh Văn phòng Đ duyệt ngày 27-6-2025.
Các đương sự quyền nghĩa vụ liên hệ quan Nhà nước thẩm
quyền để điều chỉnh cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng ranh
giới thực tế sử dụng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/4/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm xét xử lại ván theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông D yêu cầu Hội đồng xem xét hủy bản án
thẩm giao hồ về cấp thẩm giải quyết lại từ đầu do yêu cầu hủy bản án
cấp thẩm không giải quyết hết yêu cầu của ông tại phiên tòa thẩm ông
yêu cầu hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua vi bằng
6
giữa Bùi Thị H2 Nguyễn Thị M nhưng cấp thẩm không xem xét giải
quyết, bên cạnh đó cấp sơ thẩm xem xét đánh giá chứng cứ chưa toàn diện nên đã
bác yêu cầu khởi kiện của ông.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với yêu cầu
kháng cáo của phía nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của phía nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và
quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung,
thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa thực
hiện đúng trình tự, thtục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố
tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên
tòa;
Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D;
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương s không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D làm đúng theo quy định tại
Điều 272 và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử
thấy rằng:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn D yêu cầu sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị H
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại các phần đất tranh chấp
thuộc khu C, D, E, F theo Mảnh trích đo địa chính số 59-2025, Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét thấy:
Thửa đất số 1532, tờ bản đồ số 4, diện tích 358m² do ông Nguyễn Văn D
đứng tên quyền sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
vào ngày 19/5/1997. Các thửa đất liền kề số 1530 của ông Nguyễn n C thửa
đất số 1535 của Nguyễn Thị M cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cùng thời điểm. Tài liệu trong hồ vụ án thể hiện việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân nêu trên được thực hiện trên sở
7
hồ sơ địa chính, bản đồ không ảnh, không tiến hành đo đạc thực địa và không xác
định, ký giáp ranh với các chủ sử dụng đất liền kề.
Ông Nguyễn Văn D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn Bảo L Trần T2 vào năm 2019. Việc chuyển nhượng được thực
hiện trên cơ sở trích lục bản đồ địa chính, không tiến hành trích đo lại thửa đất
cũng không xác định ranh giới sử dụng đất với các chủ sử dụng đất liền kề.
Quá trình giải quyết vụ án, ông D, ông C H đều thống nhất xác định
tại thời điểm ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giữa thửa đất số
1532 với các thửa đất liền kề đã tồn tại các cọc ranh xi măng được xác lập t
trước. Ông D nhận đất theo các cọc ranh này và từ thời điểm nhận chuyển nhượng
đến khi phát sinh tranh chấp, các bên không có bất kỳ thỏa thuận nào khác về việc
thay đổi ranh giới sử dụng đất.
Ông D cho rằng trong quá trình sử dụng, ông C và bà H đã tự ý nhổ, di dời
các cọc ranh xây dựng công trình lấn chiếm đất của ông. Tuy nhiên, ngoài lời
trình bày của mình, ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng
minh việc các bị đơn đã dịch chuyển mốc giới hoặc có hành vi lấn chiếm đất.
Ngược lại, lời khai của Huỳnh Thị H4 chủ sử dụng cũ của thửa đất số
1532 phù hợp với lời trình bày của ông Nguyễn Văn C về việc diện tích thực tế
của thửa đất số 1532 từ trước đã không phợp với diện tích ghi trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; người nhận chuyển nhượng trước đây phải nhận
chuyển nhượng thêm một phần đất của ông C nhằm bảo đảm diện tích theo giấy
chứng nhận đã được cấp.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ M2 trích đo địa chính số 59-2025
cũng thể hiện ranh giới thực tế sử dụng của các thửa đất trong khu vực không
hoàn toàn phù hợp với ranh giới theo hồ địa chính. Các cọc ranh trên thực địa
vẫn tồn tại không căn cứ xác định các bị đơn đã tự ý thay đổi mốc giới sử
dụng đất.
Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015, ranh giới giữa các
bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sdụng đất hoặc
theo ranh giới đã tồn tại ổn định. Trong vụ án này, ranh giới sử dụng đất thực tế
giữa các bên đã được xác lập từ trước, các bên sử dụng ổn định theo các cọc ranh
hiện hữu ông D không chứng minh được việc các bị đơn hành vi lấn chiếm
đất.
Do đó, không có căn cứ xác định các phần đất thuộc khu C, D, E F theo
Mảnh trích đo địa chính số 59-2025 diện tích đất bị các bị đơn lấn chiếm để
buộc trả lại cho ông D. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông Nguyễn Văn D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu đề nghị vô hiệu Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thông
qua vi bằng giữa bà Bùi Thị H2 Nguyễn Thị M thấy rằng ngày 27/10/2025
ông Ngô Công B là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D ký và nộp đơn
8
khởi kiện bổ sung đối với yêu cầu này, đến ngày 06/11/2025 làm đơn rút đối với
yêu cầu khởi kiện yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thông qua
vi bằng giữa Bùi Thị H2 bà Nguyễn Thị M Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa
làm các thủ tục để thụ đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Ngô Công B
nên cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng do yêu cầu khởi kiện của
ông về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Phương Hồng T
những người liên quan di dời nhà, công trình, vật kiến trúc trên đất để trả lại
cho ông Nguyễn Văn D phần đất có vị trí tương ứng với khu C, diện tích 62m² và
khu D, diện tích 24,9m² yêu cầu buộc Nguyễn Thị H, Bùi Thị H2, ông
Nguyễn Văn T1 những người thừa kế của bà Nguyễn Thị M di dời nhà, công
trình, vật kiến trúc trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí
tương ứng với khu F, diện tích 14,2m² và toàn bộ diện tích nhà thuộc khu E, diện
tích 14,4m² không được tòa án chấp nhận như nhận định ở trên nên nếu ông D
đề nghị hiệu Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thông qua vi bằng giữa
Bùi Thị H2 bà Nguyễn Thị M cũng không sở nên việc ông yêu cầu hủy
bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu này là không có căn cứ.
[3] Tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Văn D không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án cũng như không chứng minh được Tòa
án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm trong việc
đánh giá chứng cứ áp dụng pháp luật. vậy, không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn D; cần giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
65/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 Tây
Ninh.
[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[5] Án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên
ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do ông D người
cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D.
9
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 65/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể:
Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị
Phương Hồng T những người có liên quan di dời nhà, công trình, vật kiến trúc
trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí tương ứng với khu C,
diện tích 62m² và khu D, diện tích 24,9m².
Không chấp nhận yêu cầu buộc Nguyễn Thị H, Bùi Thị H2, ông
Nguyễn Văn T1 những người thừa kế của bà Nguyễn Thị M di dời nhà, công
trình, vật kiến trúc trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn D phần đất vị trí
tương ứng với khu F, diện tích 14,2m² và toàn bộ diện tích nhà thuộc khu E, diện
tích 14,4m².
Các khu C, D, E, F nêu trên thuộc Mảnh trích đo địa chính số 59-2025 do
Chi nhánh Văn phòng Đ duyệt ngày 27 tháng 6 năm 2025.
Các đương s quyền nghĩa v liên hệ quan nhà nước thẩm
quyền để thực hiện việc điều chỉnh, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
theo đúng ranh giới thực tế sử dụng và theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản: chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ, đo đạc, định giá là 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng, ông D phải chịu,
đã nộp xong.
5. Án phí dân sự thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn D
phải chịu án phí dân sự thẩm nhưng do người cao tuổi, thuộc trường hợp
được miễn nộp án phí nên không phải nộp.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-VKSND tỉnh TN;
-TAND khu vực 7 – Tây Ninh;
-THADS tỉnh Tây Ninh;
-Phòng GĐKT, TT&THA.TAT;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu VP TA tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.N
2
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Nam
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1018/2026/DS-PT Bản án số 1018/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1018/2026/DS-PT Bản án số 1018/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất