Bản án số 501/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 501/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 501/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 501/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà yêu cầu công nhận hợp đồng sang nhượng đất giữa vợ chồng bà với ông Lý Văn Đ1 là hợp pháp, yêu cầu hàng thừa kế của ông Lý Văn Đ1 là ông Lý Công T1, ông Lý Quốc T2 Tuấn và bà Nguyễn Tuyết M tiếp tục thực hiện các hợp đồng sang nhượng ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022 và ngày 16/4/2023 mà ông Lý Văn Đ1 đã ký với vợ chồng bà.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 501/2026/DS-PT Bản án số 501/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 501/2026/DS-PT Bản án số 501/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 501/2026/DS-PT
Ngày 28 7 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Nhỏ – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 265/2026/TLPT-DS ngày 25 tháng 5
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 407/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Kiều Doãn T, sinh năm 1979 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 04/02/2022.
2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1982 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 21/10/2022;
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Nay là: Ấp A, xã K,
tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Kiều Doãn T Trần
Thị H: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số A, đường N, khóm A,
phường A, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1959 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 07/8/2023.
2
2. Ông Lý Công T1, sinh năm 1981 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 21/01/2023.
3. Ông Lý Quốc T2, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 18/5/2023.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Nay là: Ấp A, xã K,
tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của M, ông T1, ông T2: Ông
Nguyễn Đông D, sinh năm 1978: Địa chỉ: Số B, đường T, khóm A, phường T, tỉnh
Cà Mau.
- Người kháng cáo: Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông Quốc
T2, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bà Trần Thị H trình bày:
Vợ chồng nhận chuyển nhượng của ông Văn Đ1 (là chồng M)
diện tích đất theo các hợp đồng sang nhượng đất như sau:
+ Giấy hợp đồng sang đất nền ngày 14/7/2016, phần đất ngang 08 mét dài,
30 mét, diện tích 240m
2
, toạ lạc tại ấp C, K với số tiền 140.000.000 đồng; vợ
chồng đã giao tiền cho ông Đ1 xong ông Đ1 đã giao đất cho vợ chồng
quản sử dụng từ năm 2016 cho đến nay, cất nhà n định xây nhà máy
xay xác lúa trên phần đất sang nhượng.
+ Hợp đồng sang nhượng đất ngày 22/8/2022, phần đất phía sau phần đất
chuyển nhượng ngày 14/7/2016, ngang 08 mét, dài 17 mét hết hậu đất, giáp đất
T3, diện tích 136m
2
, đất toạ lạc tại ấp C, K với số tiền 56.000.000 đồng, vợ
chồng bà đã giao đủ tiền cho ông Đ1ông Đ1 đã giao đất cho bà, cặm trụ đá.
Phần đất vị trí tiếp giáp như sau: Phía đông nối liền phần đất nhà máy X xác
lúa, phía tây giáp bờ đất T3, phía nam giáp kênh T, phía bắc giáp phần đất còn
lại của ông Lý Văn Đ1.
+ Hợp đồng sang nhượng đất ngày 25/11/2022, phần đất ngang 18,5 mét, dài
22 mét, diện tích 407m
2
, đất toạ lạc tại ấp C, K với số tiền 111.000.000 đồng,
ông Đ1 đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà, cặm trụ đá.Phần đất vị trí tiếp
giáp như sau: Phía đông giáp ông Huỳnh Thanh G, phía tây giáp bờ T3, phía
nam giáp phần đất sang nhượng của ông Đ1 ngày 22/8/2022, phía bắc giáp đất
ông Lý Văn Đ1.
Ba phần đất theo các hợp đồng sang nhượng trên cùng nằm trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông Văn Đ1 diện tích 783m
2
, theo đo đạc thực
tế là 878,2m
2
.
+ Hợp đồng sang nhượng đất ngày 16/4/2023, phần đất diện tích
459,4m
2
, theo đo đạc thực tế 475,2m
2
, đất toạ lạc tại ấp C, K với số tiền
90.000.000 đồng, đã giao tiền cho ông Đ1 xong ông Đ1 đã giao đất cho bà,
cặm trụ đá. Phần đất vị trí tiếp giáp: Phía đông giáp đất ông Kiều Doãn T
3
(phần đất vợ chồng bà nhận chuyển nhượng trước đó của ông Đ1 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất), phía tây giáp đất ông Lý Văn L, phía nam giáp đất
ông Lý Văn Đ1, phía bắc giáp đất bà Nguyễn Thúy Á.
Tổng diện tích đất ông Văn Đ1 sang nhượng cho vợ chồng 04 lần
là 1.242,4m
2
với tổng số tiền là 397.000.000 đồng. Ông Lý Văn Đ1 đã giao cho vợ
chồng 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho cất giữ đlàm
thủ tục chuyển nhượng sang tên, nhưng do ông Đ1 bị bệnh đã chết nên không
làm thủ tục sang tên cho vợ chồng bà được.
Nay yêu cầu công nhận hợp đồng sang nhượng đất giữa vợ chồng với
ông Văn Đ1 hợp pháp, yêu cầu hàng thừa kế của ông Văn Đ1 ông
Công T1, ông Quốc T2 Tuấn và Nguyễn Tuyết M tiếp tục thực hiện các hợp
đồng sang nhượng ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022 ngày
16/4/2023 mà ông Lý Văn Đ1 đã ký với vợ chồng bà.
- Theo ông Kiều Doãn T trình bày:
Ông T thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà Trần Thị H.
- Theo ông Nguyễn Đông D trình bày:
Ông không đồng ý theo yêu cầu của ông T, bà H. Ông xác định giữa ông
Văn Đ1 hợp đồng sang nhượng đất với vợ chồng ông Kiều Doãn T, Trần
Thị H vợ chồng H đã trả tiền cho ông Đ1 xong. Tuy nhiên phần đất chuyển
nhượng tài sản chung của vợ chồng ông Đ1, M thể hiện tại Đơn xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có bà M và ông Đ1 cùng đứng tên, bà Mông Đ1
chung sống từ năm 1980 đến năm 1981 sinh con là ông Công T1 nên hôn nhân
giữa ông Đ1 và bà M là hôn nhân thực tế. Do đó, tài sản của ông Đ1 cụ thể là phần
đất tranh chấp tài sản chung của M ông Đ1, ông Đ1 chuyển nhượng đất
cho H ông T M không hay biết cũng không tên hay bất cứ văn bản
nào thể hiện sự đồng ý của bà M. Bà M chỉ biết và đồng ý đối với diện tích chuyển
nhượng đất tại phần nhà máy xây xác a. Ngoài ra đối với các lần chuyển
nhượng sau ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022 ngày 16/4/2023 M không
hay biết chỉ đến khi ông Đ1 chết, làm thủ tục nhận thừa kế từ ông Đ1 tmới
hay ông Đ1 chuyển nhượng cho ông T, bà H. Mặt khác đối với phần đất tranh chấp
theo các hợp đồng chuyển nhượng tkhi chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của ông Đ1 đều thế chấp vay vốn tại Ngân hàng nên đã vi phạm quy
định của pháp luật về hôn nhân pháp luật dân sự nên các hàng thừa kế của ông
Đ1 Nguyễn Tuyết M, ông Công T1 ông Quốc T2 yêu cầu huỷ các
hợp đồng sang nhượng đất ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022
ngày 16/4/2023 mà ông Lý Văn Đ1 đã ký với ông T2, bà H. Yêu cầu ông T2, bà
H trả lại đất cho các hàng thừa kế của ông Văn Đ1. M đồng ý trả lại vợ
chồng bà H tiền sang nhượng đất theo giá của chứng thư thẩm định giá.
Tại bản án dân sự thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Kiều Doãn T, Trần Thị H
đối với bà Nguyễn Tuyết M, ông Lý Công T1, ông Quốc T2.
4
+ Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “giấy hợp
đồng sang đất nền ngày 14/7/2016, hợp đồng sang nhượng đất ngày 22/8/2022
ngày 25/11/2022 phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 878,2m
2
tại thửa số
582, 583, 584, 454, 506, 278 tờ bản đồ số 9 bản đồ chỉnh năm 2020; tọa lạc tại
ấp C, K, huyện U, tỉnh Mau (Nay ấp A, xã K, tỉnh Mau) hợp pháp,
phần đất có vị trí như sau.
Cạnh dài từ M5-M6 giáp lộ bê tông 03 mét (Kênh S)
Cạnh dài từ M6-M7-M8 giáp lộ bê tông 02 mét (Kênh L).
Cạnh dài từ M8-M9 giáp phần đất ông Lý Văn L.
Cạnh dài từ M9-M11 giáp phần đất ông Lý Công T1 (con ông Lý Văn Đ1).
Cạnh dài từ M11-M12 giáp phần đất bà Đỗ Mỹ D1.
+ Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng
sang nhượng đất ngày 16/4/2023 phần đất diện tích theo đo đạc thực tế
475,2m
2
tại thửa số 568, 617, 569, 570, 571, 572, 573, 574, 575, 576, 577, 578,
579 254 tờ bản đồ số 9 bản đồ chỉnh lý năm 2020; tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện
U, tỉnh Mau (Nay ấp A, K, tỉnh Mau) hợp pháp, phần đất vị trí
như sau.
Cạnh dài từ M5-M6-M7 giáp phần đất bà Nguyễn Thúy Á.
Cạnh dài từ M4-M5 giáp phần đất ông Lý Văn L.
Cạnh dài từ M4-M10 giáp phần đất ông Trần Thanh H1.
Cạnh dài từ M.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 31/5/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ
- Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh C).
Ông Kiều Doãn T, bà Trần Thị H được tiếp tục quản lý, sử dụng các căn nhà
cất trên đất gồm: nhà máy xây xác lúa và nhà ở có diện tích 164,0m
2
; 10 bụi chuối,
13 cây dừa chưa cho trái, 03 cây xoài, 01 cây mít, 03 cây ổi, 01 cây đu đủ, 03 bụi
mía và 01 cây ớt.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có trách nhiệm đến cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận
theo đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí
và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 14/4/2026, Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông Quốc T2
đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án thẩm: Tuyên các hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Lý Văn Đ1 với ông Kiều Doãn T, bà Trần Thị H
hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Đông D người đại diện của
Nguyễn Tuyết M, ông Lý Công T1, ông Lý Quốc T2 giữ nguyên kháng cáo.
5
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông D phát biểu: Quyền sử dụng đất tài sản chung của vợ chồng ông Đ1
M, nên một mình ông Đ1 tự chuyển nhượng là vi phạm quy định pháp luật.
Tại thời điểm chuyển nhượng của 03 lần sau tquyền sử dụng đất đang thế chấp
vay vốn tại ngân hàng nên các hợp đồng chuyển nhượng đều bhiệu. Án
thẩm cho rằng đã thực hiện 2/3 hợp đồng nên công nhận hợp đồng là chưa thoả
đáng. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án
sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Đ phát biểu: Quyền sử dụng đất cấp riêng cho ông Đ1 chứ không phải
cấp cho ông Đ1 M hay cấp cho hộ gia đình. Đối với các hợp đồng chuyển
nhượng, nguyên đơn đã trả xong tiền cho ông Đ1, ông Đ1 đã giao đất cho nguyên
đơn. Mặc dù tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, quyền sử dụng đất ông Đ1
đang thế chấp ngân hàng nhưng sau đó nguyên đơn đã trả nngân hàng thay cho
ông Đ1 xong, Ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1
và ông Đ1 đã giao cho nguyên đơn quản lý để làm thủ tục tách thửa, nhưng do ông
Đ1 bị bệnh chết nên chưa làm thủ tục tách thửa được. Xét hợp đồng chuyển
nhượng giữa nguyên đơn với ông Đ1 hợp pháp. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Doãn T, H thống nhất với ý kiến tranh luận của ông Đ, không ý
kiến tranh luận thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Tuyết M, ông
Lý Công T1, ông Lý Quốc T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông Lý Quốc T2,
Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Ông Kiều Doãn T Trần Thị H (nguyên đơn) khởi kiện Nguyễn
Tuyết M, ông Công T1, ông Quốc T2 (bị đơn) yêu cầu công nhận các hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với ông Văn Đ1 (là
chồng M, cha của ông T1, ông Quốc T2) ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022,
ngày 15/11/2022 ngày 16/4/2023; buộc các bị đơn (là người thừa kế của ông
Đ1) tiếp tục thực hiện các hợp đồng chuyển nhượng nêu trên. Bị đơn không đồng ý
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu huỷ các hợp đồng chuyển nhượng nêu
trên và buộc nguyên đơn trả lại phần diện tích đất chuyển nhượng cho bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Việc nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông
Văn Đ1 theo các hợp đồng chuyển nhượng ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày
15/11/2022, ngày 16/4/2023 thực tế, được bị đơn thừa nhận. Đây tình tiết
6
không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2.2] Xét các hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa nguyên đơn
với ông Văn Đ1 ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022 ngày
16/4/2023 thấy rằng: Hợp đồng chuyển nhượng được xác lập trên cơ sở tự nguyện,
hình thức hợp đồng được lập thành bằng văn bản. Tuy văn bản hợp đồng chưa thực
hiện đúng theo quy định, không công chứng, chứng thực nhưng hợp đồng
chuyển nhượng đã được các bên thực hiện. Nguyên đơn đã thanh toán xong tiền
chuyển nhượng đất cho ông Đ1; ông Đ1 đã giao đất cho nguyên đơn quản sử
dụng, nguyên đơn đã xây cất nhà ở, nhà máy X1 lúa trồng cây ăn trái trên đất,
đồng thời ông Đ1 cũng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đ1 đứng
tên cho nguyên đơn quản lý để lập thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất, nhưng do
ông Đ1 chết nên chưa lập thủ tục chuyển tên được.
[2.3] Tại phiên toà thẩm, đại diện bị đơn xác định M chỉ biết việc ông
Đ1 sang nhượng phần đất hiện có nhà máy xay xát lúa theo hợp đồng ngày
14/7/2016, còn hợp đồng sang nhượng ngày 22/8/2022 do liền kề với phần nhà
máy xay xát lúa nên bà M cứ ngđã chuyển nhượng cho ông T2, H nên
không ngăn cản; đối với hợp đồng ngày 25/11/2022 ngày 16/4/2023 thì do
hiện trạng tiếp giáp với phần đất còn lại của ông Đ1, nguyên đơn cũng không
đầu tư, xây dựng nên M không biết ông Đ1 đã chuyển nhượng cho nguyên
đơn, chỉ đến khi ông Đ1 chết M làm thủ tục nhận thừa kế từ ông Đ1 thì M
mới biết. Nhưng tkhi M biết việc ông Đ1 chuyển nhượng đất cho H, ông
T2 thì M không có ý kiến và cũng không phát sinh tranh chấp cho đến khi
H, ông T2 khởi kiện yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng thì mới phát sinh
tranh chấp. Hơn nữa, khi M lập thủ tục xin nhận thừa kế di sản của ông Đ1 để
lại thì M chỉ xin thừa kế đối với phần diện tích đất 751,4m
2
thuộc thửa đất số
568 do ông Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất (bà M đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 01/01/2024, diện tích 751,4m
2
thuộc thửa đất số 680), các
phần đất còn lại theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất do ông Đ1 đứng tên
(trong đó các phần đất ông Đ1 chuyển nhượng cho nguyên đơn nêu trên) M
cũng không đặt ra. Điều này chứng minh M đã biết phần đất ông Đ1 chỉ còn lại
diện tích 751,4m
2
thuộc thửa đất số 568. Mặt khác, theo Bản vẽ hiện trạng thì các
phần đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Đ1 theo các hợp đồng ngày
14/7/2026, ngày 22/8/2022, ngày 125/11/2022 tổng diện tích 878,2m
2
phần
đất sang nhượng ngày 16/4/2023 diện ch 475,2m
2
vị trí giáp ranh liền kề với
phần đất ông Công T1 đang quản sử dụng, đã có ranh giới, nên việc nguyên
đơn quản sử dụng phần đất này đương nhiên ông T1 phải biết. Do đó, việc bị
đơn cho rằng không biết việc ông Đ1 chuyển nhượng các phần đất trên cho nguyên
đơn là chưa có căn cứ thuyết phục.
[2.4] Đối với trình bày của bị đơn cho rằng quyền sử dụng đất tài sản
chung của vợ chồng ông Đ1bà M, nên việc ông Đ1 chuyển nhượng cho nguyên
đơn không M tên vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình, xét thấy: Theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1995 thể hiện cấp cho ông Đ1 đứng
tên; đến năm 2022, ông Đ1 lập thủ tục xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền s
7
dụng đất và được cấp đổi lại cũng cấp cho ông Đ1 đứng tên. Việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 1995 và cấp đổi lại năm 2022 chỉ cấp cho ông Đ1 chứ
không thể hiện cấp cho ông Đ1, M hay cấp cho hộ gia đình. M cũng
không ý kiến hay phản đối về việc ông Đ1 đứng tên cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Như vậy, việc ông Đ1 được Nhà nước thừa nhận đứng tên
quyền sử dụng đất hoàn toàn hợp pháp, nên ông Đ1 quyền định đoạt việc
chuyển nhượng đối với quyền sử dụng đất do ông Đ1 đứng tên.
[2.5] Đối với quyền sử dụng đất do ông Đ1 đứng tên, ngoài việc ông Đ1
chuyển nhượng cho nguyên đơn theo 04 lần chuyển nhượng nêu trên, thì ông Đ1
còn 02 lần chuyển nhượng cho nguyên đơn chuyển nhượng cho nhiều người
khác họ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng các bị đơn
cũng không có ý kiến gì.
[2.6] Như vậy, căn cứ chứng minh quyền sdụng đất tài sản của ông
Đ1, không phải tài sản chung của vợ chồng ông Đ1 M, nên ông Đ1 có
quyền định đoạt việc chuyển nhượng cho người khác; do đó, việc ông Đ1 lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất cho nguyên đơn theo các hợp đồng ngày
14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày 25/11/2022, ngày 16/4/2023 không vi phạm
pháp luật như ý kiến bị đơn đặt ra.
[3] Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng khi chuyển nhượng, quyền sử dụng
đất đang thế chấp vay vốn tại ngân hàng vi phạm quy định của luật về dân sự,
xét thấy: Mặc tại thời điểm ông Đ1 lập hợp đồng chuyển nhượng cho nguyên
đơn tquyền sử dụng đất ông Đ1 đang thế chấp vay vốn tại ngân hàng, nhưng
hiện nay khoản nợ vay ngân hàng đã được tất toán xong, ngân hàng đã giao trả lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1 đã xoá đăng thế chấp, ông
Đ1 cũng giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn quản để lập
thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Như vậy, việc thực hiện các hợp đồng
chuyển nhượng nêu trên cũng không ảnh đến quyền lợi của ngân hàng, nên
không thể xem vấn đề nêu trên điều kiện đhuỷ hoặc hiệu đối với các hợp
đồng chuyển nhượng nêu trên đã được xác lập giữa nguyên đơn với ông Đ1.
[4] Từ nhận định trên, xét thấy Toà án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, công nhận các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được
xác lập giữa nguyên đơn với ông Đ1 ngày 14/7/2016, ngày 22/8/2022, ngày
25/11/2022, ngày 16/4/2023 buộc các bị đơn những người thừa kế của ông
Đ1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng là có căn cứ. Do đó, cấp phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn Nguyễn Tuyết M, ông Công T1,
ông Lý Quốc T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
Tuy nhiên, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại các tuyên so với quyết định của bản án
sơ thẩm.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Tuyết M, ông Lý Công T1, ông
Quốc T2 mỗi người phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.
8
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông
Quốc T2.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kiều Doãn T, Trần Thị H đối với
Nguyễn Tuyết M, ông Lý Công T1, ông Lý Quốc T2.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Kiều Doãn
T, Trần Thị H với ông Văn Đ1 được xác lập theo “giấy hợp đồng sang đất
nền ngày 14/7/2016, hợp đồng sang nhượng đất ngày 22/8/2022 ngày
25/11/2022 đối với phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 878,2m
2
theo vị trí, ranh
giới, kích thước tại các điểm M5,M6,M7,M8,M9,M11,M12 của Bản vhiện trạng
(Bút lục 102) hợp đồng sang nhượng đất ngày 16/4/2023 đối với phần đất theo
đo đạc thực tế diện tích 475,2m
2
theo vị trí, ranh giới, kích thước tại các điểm
M4,M5,M6,M7,M8,M9,M10 của Bản vẽ hiện trạng (Bút lục 104); đất tọa lạc tại ấp
C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (nay là ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau).
Buộc Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông Quốc T2 tiếp tục thực
hiện các hợp đồng chuyển nhượng nêu trên.
(Kèm theo 02 bản vẽ hiện trạng ngày 03/6/2024 của Trung tâm Kỹ thuật -
Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh C).
Ông Kiều Doãn T, bà Trần Thị H được tiếp tục quản lý, sử dụng các căn nhà
cất trên đất gồm: Nhà máy xay xác lúa và nhà ở có diện tích 164,0m
2
; 10 bụi chuối,
13 cây dừa chưa cho trái, 03 cây xoài, 01 cây mít, 03 cây ổi, 01 cây đu đủ, 03 bụi
mía và 01 cây ớt.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có trách nhiệm đến cơ
quan nhà nước thẩm quyền về quản đất đai đlập thủ tục đăng ký, khai,
cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật. Trường hợp Nguyễn Tuyết
M, ông Công T1, ông Quốc T2 không thực hiện, thì ông Kiều Doãn T và bà
Trần Thị H quyền tự mình liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai
để đăng khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp
luật.
9
- Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyễn Tuyết M, ông Công T1, ông
Quốc T2 liên đới hoàn trả lại cho ông Kiều Doãn T, Trần Thị H tiền chi phí tố
tụng 41.382.000 đồng.
Kể từ ngày ông Kiều Doãn T, bà Trần Thị H có đơn yêu cầu thi hành án cho
đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng Nguyễn Tuyết M,
ông Lý Công T1, ông Lý Quốc T2 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Tuyết M, ông Lý Công T1 và ông Lý Quốc T2 phải chịu
300.000 đồng.
Ông Kiều Doãn T Trần Thị H không phải chịu án phí. Ngày
23/11/2023 ông T H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số
0006053 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh ( nay là Phòng thi hành án
dân sự khu vực 2-Cà Mau) được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Tuyết M, ông Công T1 và ông
Lý Quốc T2 mỗi người phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 14/4/2026 bà M, ông
T1, ông T2 mỗi người đã dự nộp 300.000 đồng theo các biên lai thu s0004445;
0004440; 000442 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu thu
án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 2- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 2- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 501/2026/DS-PT Bản án số 501/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 501/2026/DS-PT Bản án số 501/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất