Bản án số 647/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 647/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 647/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 647/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Ngô Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 647/2026/DS-PT
Ngày: 29-7-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất, đòi
giấy chứng nhận QSD đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông i Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01/6/2026, ngày 30/6/2026 ngày 29/7/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân n tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số: 287/2026/TLPT-DS ngày 29 tháng 4 năm 2026, về việc “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất, đòi giấy chứng nhận QSD đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1034/2026/QĐ-PT
ngày 11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngô Kim H, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Ấp P, L, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phP, phường
C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Ngô Kim H: Chị
Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1998 (có mặt); Địa chỉ: Số A đường L, Khu phố
C, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là Số A đường L, Khu phố C,
phường C, tỉnh Đồng Tháp) (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/7/2023).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn NKim H:
Luật Thanh V - Công ty TNHH Một Thành viên T5, thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Đ (có mặt); Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay
là phường N, tỉnh Đồng Tháp).
2
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số A đường C, Khu phố D, Phường A, thị C, tỉnh Tiền Giang
(nay là số A đường C, Khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo y quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm
1992 (có mặt); Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M,
Thành phố Cần Thơ); Địa chỉ liên hệ: Khu phố H, phường C, tỉnh Đồng Tháp
(theo Hợp đồng ủy quyền ngày 26/5/2026).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Trần Thị H1, sinh năm 1937;
Địa chỉ: Số F Quốc lộ A, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang
(nay là Khu phố B, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của cụ Trần Thị H1: Chị Nguyễn Thị Kim
N, sinh năm 1998 (có mặt); Địa chỉ: SA đường L, Khu phố C, Phường E, thị
C, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp) (theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 02/02/2026).
Người bảo vệ quyền li ích hợp pháp cho cTrần Thị H1: Luật
Thanh V - Công ty TNHH Một Thành viên T5, thuộc Đoàn Luật tỉnh Đ (có
mặt); Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay phường
N, tỉnh Đồng Tháp).
3.2. Ngô Kim T1, sinh năm 1960 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, T, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp B, T, tỉnh
Đồng Tháp).
3.3. Ngô Kim D, sinh năm 1967 (có mặt);
3.4. Ngô Kim C, sinh năm 1968 (có mặt);
3.5. Ngô Minh T2, sinh năm 1989 (có mặt);
Địa chỉ: Số F Quốc lộ A, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang
(nay là Khu phố B, phường C, tỉnh Đồng Tp).
3.6. Võ Văn S, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Số A đường C, Khu phố D, Phường A, thị C, tỉnh Tiền Giang
(nay là Khu phố D, phường M, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của anh Văn S: Anh Nguyễn Văn L,
sinh năm 1992 (có mặt); Địa chỉ: ấp M, xã M, thị N, tỉnh Sóc Trăng (nay
phường M, Thành phố Cần Thơ); Địa chỉ liên hệ: Khu phố H, phường C, tỉnh
Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 26/5/2026).
3.7. Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang;
Trụ sở: ấp Phú Hưng, xã Long Khánh, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường C,
tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Trụ sở: Số C đường M, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Kim H người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Ngô Kim H ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Kim N đại
diện trình bày: Anh Nguyễn Thanh T3 chị Nguyễn Thanh T các con của
H, đã đứng ra thuyết phục, hòa giải giữa các anh chị em của H để thống
nhất phương án phân chia tài sản, nhằm sớm hoàn tất việc tặng cho quyền sử
dụng (QSD) đất. Tài sản được phân chia là diện tích đất 2.972m² thuộc thửa 482,
tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp P, xã L, thị C, tỉnh Tiền Giang, do hộ cụ Trần
Thị H1 (mẹ H) đứng tên. Ngày 24/01/2022, tất cả các con của cụ H1 đã họp
mặt thống nhất phương án, nếu ai nhận đất thì không nhận tiền ngược lại.
Cụ thể: diện tích đất 2.000m² (được định gtương đương 2.000.000.000 đồng)
sẽ chia đều cho Ngô Kim T1, Ngô Kim D, Ngô Kim C NKim
H; phần đất còn lại diện tích 972m² đất hương hỏa, giao cho bà H người
trực tiếp nuôi dưỡng cụ H1. Sau đó, T1, D C thống nhất nhận tiền
mỗi người 500.000.000 đồng, còn H nhận đất diện tích 500m². Việc thỏa
thuận tên được thực hiện tại nhà H, sự chứng kiến của Luật
Nguyễn Thị Ánh . T1, D C đã nhận đủ tiền đồng ý chuyển giao
giấy chứng nhận QSD đất thửa 482 để làm thủ tục chuyển nhượng đất cho chị
Nguyễn Thanh T. Để chị T đứng tên nhận chuyển nhượng diện tích đất 1.500m
2
theo hợp đồng miệng tặng cho của cụ H1 qua cho D, T1, C với số tiền
1.500.000.000 đồng, lúc này chị T đã mượn tiền của chồng bà H là ông Nguyễn
Văn H2 400.000.000 đồng để trả tiền. Ngoài ra, bà H còn cho chị T 500m² trong
phần đất được chia; riêng diện tích đất còn lại 972m² thuộc thửa 482 phần
đất thuộc QSD của H, chị T làm hợp đồng chuyển nhượng lại cho H phần
đất này. Tuy nhiên, H đã nhiều lần yêu cầu chị T thực hiện thủ tục tách thửa
đối với diện tích đất 972m² nhưng chị T liên tục trì hoãn không thực hiện với
nhiều lý do khác nhau.
Bà Ngô Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
+ Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa H với chị
Nguyễn Thanh T ký kết ngày 24/01/2022 đối với diện tích đất 972m².
+ Yêu cầu chT giao trả diện tích đất thực đo 734,7m
2
theo như Phiếu
xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
thị C (Nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực VII, tỉnh Đồng
Tháp).
+ Bà H được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục kê khai cấp
giấy chứng nhận QSD đất đối với phần đất trên.
+ Hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022
giữa hộ cụ Trần Thị H1 với chị T đối với diện tích đất 734,7m
2
.
Đối với yêu cầu phản tố của chị T thì bà H không đồng ý.
4
- Bị đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày: Vợ chồng chị sử dụng thửa
đất số 482, tờ bản đsố 16 có diện tích 2.780,4m
2
, đất tọa lạc tại ấp P, L, thị
C, tỉnh Tiền Giang được Sở T6 cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày
13/5/2022 cho chị T đứng tên. Nguồn gốc đất trước đây của hộ cụ Trần Thị
H1.
Ngày 24/01/2021 hộ cụ H1 gồm cụ H1, Ngô Kim D, Ngô Kim C,
anh Ngô Minh T2 hợp đồng chuyển nhượng toàn bthửa 482 cho chị T với
giá 2.500.000.000 đồng, hợp đồng được Ủy ban nhân dân (UBND) L chứng
thực đúng quy định pháp luật. Sau khi hợp đồng chị T đã giao đủ tiền cho hộ
cụ H1, nhận giấy đất và làm thủ tục sang tên. Cụ H1 chia cho bà D, C, bà T1,
bà H mỗi người 500.000.000 đồng, cụ H1 nhờ bà H giữ giùm 200.000.000 đồng,
nhờ chị T giữ giùm 300.000.000 đồng. Việc bà H nhận 500.000.000 đồng và giữ
giùm cụ H1 200.000.000 đồng sự chứng kiến của cụ H1, D, C, T1,
ông Nguyễn Thanh H3 và anh Nguyễn Ngọc T4.
Việc bà H khởi kiện yêu cầu nhận phần đất có diện tích 972m
2
(thực đo là
734,7m
2
) trong thửa 482 không sở, vì ngay tđầu đất này của hcụ
H1, thời điểm hợp đồng chuyển nhượng H không tên trong hộ cụ H1,
nên không ký hợp đồng.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2021 giữa chị T
với H là không hợp pháp, vào thời điểm hợp đồng đất là của hộ cụ H1,
hợp đồng không được công chứng theo quy định, giá trị theo hợp đồng thể hiện
30.000.000 đồng không phù hợp; bà H đã lừa dối chị T, nói khi cụ H1
chuyển nhượng đất thì H nhận đất, không nhận tiền nên chị T cùng người
làm chứng để bà H nhận đất sau này, chị T chỉ cần giao cho hộ cụ H1
2.000.000.000 đồng nhưng sau khi hợp đồng xong H đổi ý yêu cầu nhận
500.000.000 đồng nhưng vẫn giữ hợp đồng. Do đó hợp đồng ngày 24/01/2021 là
vô hiệu.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất chị T có nhờ anh Nguyễn Thanh T3 (con
H) làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất một phần thửa 482 để xây dựng
nhà kho kinh doanh mua bán mít nhưng anh T3 lại đem giấy chứng nhận QSD
đất giao cho bà H. Chị T nhiều lần yêu cầu bà H trả lại nhưng không được.
Chị T không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của H nu trên, cụ
H1 xác định không có kiện chị T. Lúc nhận chuyển nhượng là bà ngoại chị T (cụ
H1) nói bán đất (chuyển nhượng đất) cho cháu ngoại không bán cho người
dưng, chị T còn giữ của ngoại 300.000.000 đồng, muốn gửi lại cho cụ H1
300.000.000 đồng còn đang giữ. Ngày 24/01/2022 hộ cụ Trần Thị H1 gồm Ngô
Kim D, Ngô Kim C, Ngô Minh T2 hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa
482 cho vợ chồng chị T, anh S với giá 2.500.000.000 đồng, hợp đồng được
UBND xã L chứng thực. Sau khi ký hợp đồng chị T đã giao đủ tiền và cụ H1 đã
giao giấy đất. Việc H nhận số tiền 500.000.000 đồng làm biên nhận, sau
đó phát sinh mâu thuẫn nên bà H đã xé biên nhận nhưng chị T còn giữ bản photo
và có nộp cho Tòa án. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
5
24/01/2022 giữa chị T và H được sau nhưng cùng ngày với Hợp đồng
chuyển nhượng đất giữa hộ cụ H1 với chị T do lúc đầu H nói lấy phần đất
không nhận tiền nhưng sau khi ký hợp đồng xong thì bà H lại đổi ý yêu cầu nhận
500.000.000 đồng nhưng lại vẫn giữ hợp đồng này. Nên hợp đồng giữa chị T với
H hiệu. Đối với yêu cầu độc lập của cụ Trần Thị H1, chị T không đồng
ý vì đó là văn bản soạn thảo sẵn không phải ý kiến của cụ H1 và mâu thuẫn thực
tế các bên ký hợp đồng.
Chị Nguyễn Thanh T yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa H với chị T hiệu;
H phải trả lại giấy chứng nhận QSD đất thửa 482 cho chị T. Chị T tự nguyện hỗ
trợ cho bà H 200.000.000 đồng và trả lại cụ H1 300.000.000 đồng mà cụ H1 nhờ
chị giữ giùm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1 ủy quyền cho
chị Nguyễn Thị Kim N đại diện trình bày: Cụ H1 QSD đất thửa 482, tờ
bản đồ số 16, diện tích 2.780,4m
2
tại ấp P, L, thị C, tỉnh Tiền Giang do
UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/7/2013 do cụ H1 đại
diện hộ đứng tên. Ngày 24/01/2021 cụ H1 các con cháu gồmNgô Kim T1,
Ngô Kim D, Ngô Kim C, Ngô Kim H, chị Nguyễn Thanh T, anh
Nguyễn Thanh T3. Các thành viên trong hộ cụ H1 đồng ý chuyển nhượng đất
cho chị Nguyễn Thanh T (cháu ngoại cụ H1) diện tích 1.500m
2
, với giá
1.500.000.000 đồng được chia đều cho T1, C, D nhận bằng tiền, diện
tích đất 500m
2
chia cho bà H, còn lại diện tích đất 972m
2
chia cho bà H quản lý,
sử dụng làm đất hương hỏa nuôi cụ H1 về già. Theo thỏa thuận trên, cụ H1
đồng ý chuyển nhượng toàn bộ thửa 482 cho chị T, sau này chị T chuyển
nhượng lại cho bà H 972m
2
nhưng chị T không thực hiện. Cụ H1 yêu cầu chị T
trách nhiệm chuyển nhượng QSD đất với diện tích 780,4m
2
thuộc thửa 482
cho H. Trường hợp chị T không đồng ý thì cụ H1 yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất giữa hộ gia đình cụ H1 với chị T.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/10/2023 cụ H1 trình bày: Thửa 482 là
của cụ H1 lúc trước cụ làm ruộng, cụ H1 không nhớ thời gian cấp giấy chứng
nhận QSD đất. Do cụ H1 già nên mới đứng ra bán đất cho chị T để tiền H
nuôi bà, cụ H1 không nhớ bán bao nhiêu tiền diện tích bán bao nhiêu. Cụ H1
chừa một phần để sử dụng H nuôi bà, có một phần đất cụ H1 cho H
sử dụng, còn phần đất cụ H1 chừa để dưỡng già. Nội dung thỏa thuận cụ H1 nói
D, C, T2 ngồi nghe. Thỏa thuận tại nhà cụ H1 C anh K, H,
anh T2, C, T1, chị T. Phần đất bà H chị T tranh chấp phần đất trước
đây cụ H1 bán cho chị T, lúc đó cụ H1 n một phần, chừa một phần. Tiền bán
đất cụ H1 nhận, chữ trong hợp đồng chuyển nhượng của bà, nhà bà,
để bán đất cho chT. Lúc đó cụ H1 bán cho chị T phần diện tích khoảng
hai hay ba công cH1 không nhớ, H chị T không thỏa thuận phân
chia đất hết. Cụ H1 cho H phần đất hương hỏa nằm kế phần đất cụ H1
bán cho chị T. Cụ H1 không nộp đơn khởi kiện chị T Tòa án. Chữ trong
6
đơn là của cụ H1 còn nội dung như thế nào thì cụ H1 không biết vì cụ H1 không
biết chữ, cháu cụ H1 đưa cho cụ ký tên thì cụ ký. Cụ H1 không kiện chị T để
yêu cầu chị T trả đất cho bà H.
Tại đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu độc lập ngày 19/5/2025 của cụ H1
thể hiện: Cụ H1 rút lại yêu cầu chị T trách nhiệm chuyển QSD đất diện tích
780,4m
2
thuộc thửa 482 cho H. Giữ nguyên yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất giữa hộ gia đình cụ H1 với chị T ngày 24/01/2022 được
UBND xã L chứng thực.
Tại biên bản hòa giải ngày 25/11/2025 đại diện ủy quyền cụ Trần Thị H1
là chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: Cụ H1 yêu cầu chị T có trách nhiệm chuyển
quyền 972m
2
đất thuộc thửa 482 cho bà H theo thỏa thuận ban đầu. Rút một
phần yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa gia đình cụ H1 với
chị T ngày 24/01/2022 do UBND L chứng thực đối với phần đất diện tích
972m
2
.
Tại phiên tòa thẩm, đại diện ủy quyền cụ H1 yêu cầu hủy một phần
Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ cụ Trần Thị H1
với chị Nguyễn Thanh T đối với diện tích đất 734,7m
2
. Chị T phải giao trả phần
đất trên lại cho bà H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Văn S trình y:
H mvợ anh, chị T vợ anh, cH1 ngoại vợ, T1, D, bà C
vợ, anh T2 là em bạn dì bên vợ. Thửa đất 482 là của hộ cụ H1, do cụ H1 nói bán
đất cho con cháu trong nhà nên vợ chồng anh thống nhất mua, thỏa thuận mua
đất tại nhà bà H. Hợp đồng do ông Q soạn thảo tại nhà bà H thành viên hộ cụ
H1, anh Nguyễn Ngọc T4, ông Nguyễn Văn H2, ông S1 pháp xã. Hai bên
thỏa thuận chuyển nhượng hết thửa đất, chị T giao tiền, cụ H1 nhận tiền lập
biên nhận tiền cH1 tên nhận 2.500.000.000 đồng, D, T1, C cũng
tên biên nhận nhận tiền của chị T, vợ chồng anh mượn của ông H2
400.000.000 đồng. Anh không biết hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa chị
T với H. Anh không đồng ý với u cầu khởi kiện của H, yêu cầu độc lập
của cụ H1. Anh đồng ý hoàn trả lại cụ H1 300.000.000 đồng cụ H1 gửi chị T
giữ, hỗ trợ thêmH 700.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của anh S thống nhất với lời trình
bày ý kiến của chị T trong vụ án; anh S không thống nhất hỗ trợ thêm H
700.000.000 đồng chỉ chỉ thống nhất hỗ trợ cho H 200.000.000 đồng trả
lại cụ H1 300.000.000 đồng mà cụ H1 nhờ chị T giữ giùm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Kim D trình bày:
Trước đây bà D sống với mẹ bà cụ Trần Thị H1, năm 2020 thì bà Ngô Kim H
rước cụ H1 về sống chung. Ngày 24/01/2022 cụ Trần Thị H1 nói với cùng
các chị em đến nhà Ngô Kim H (do mẹ bà đang sống chung nhà với H) để
chia đất, thửa 482 tờ bản đồ số 16, diện tích 2.972m
2
tại ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh
Tiền Giang. Giấy chứng nhận QSD đất do D anh T2 giữ. Khi đó cụ H1
7
không chia đất bán đất thửa 482 cho chị T, chia làm 04 phần cho các con,
mỗi người con nhận 500.000.000 đồng, phần đất còn lại sẽ để lại cho người nuôi
cụ H1 thì người đó hưởng. Hợp đồng tại nhà H vào ngày 24/01/2022,
đã nhận 500.000.000 đồng từ chị T làm biên nhận với chị T. C, T1
nhận 500.000.000 đồng/người. Lúc đó có Luật sư Nguyễn Thị Á cùng nhân viên
đến làm hợp đồng. D cùng cụ H1, anh T2, C vào hợp đồng chuyển
nhượng, còn H với chị T thỏa thuận thế nào D không biết. Việc cụ H1 nói
để lại một phần đất hương hỏa trong thửa 482 chỉ nói miệng còn làm hợp
đồng chuyển nhượng không thỏa thuận. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà
H kiện chị T về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022
không đồng ý. Tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng mẹ hoàn toàn
minh mẫn. Do lớn tuổi, bà xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Kim T1 trình bày:
Trước đây mẹ bà là cụ Trần Thị H1 do bà Ngô Kim D nuôi dưỡng nhưng sau đó
Ngô Kim H rước cụ H1 về nuôi. Ngày 24/01/2022 cụ H1 nói với bà cùng các
chị em đến nhà bà Ngô Kim H đchia thửa đất 482. Khi đó cụ H1 không chia
đất mà bán cho chị T, sau đó chia làm 04 phần, mỗi người con nhận 500.000.000
đồng, phần đất còn lại để lại cho người nuôi cụ H1 thì người đó hưởng. T1
đã nhận 500.000.000 đồng làm 02 lần từ chị T và có làm biên nhận với chị T. Bà
C, bà D nhận 500.000.000 đồng/người, còn bà H với chị T thỏa thuận thế nào bà
không biết. Việc cụ H1 nói để lại một phần đất hương hỏa trong thửa 482 chỉ
nói miệng của mcòn làm hợp đồng chuyển nhượng không thỏa thuận.
Đối với yêu cầu khởi kiện của H kiện chị T vviệc hủy Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 thì không đồng ý H cũng tên
trong giấy biên nhận tiền chuyển nhượng đất ngày 24/01/2022. Do lớn tuổi,
xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Kim C trình bày:
Ngày 24/01/2022 cụ Trần Thị H1 nói với cùng các chị em đến nhà Ngô
Kim H để chia thửa đất 482. Cụ H1 không muốn n cho người ngoài bán
cho người trong nhà với giá rẽ để giữ đất. Cụ H1 bán cho chị T thửa 482, chia
làm 04 phần, mỗi người con 500.000.000 đồng, phần còn lại đlại cho người
nào nuôi cụ H1 thì người đó hưởng. Hợp đồng ký tại nhà bà H vào ngày đó luôn,
C và bà D đã nhận 500.000.000 đồng/người từ chị T làm biên nhận với
chị T trong ngày hôm đó, mới hợp đồng chuyển nhượng, còn T1 nhận
500.000.000 đồng sau đó. Lúc đó Luật Nguyễn Thị Á cùng nhân viên đến
làm hợp đồng. Bà C cùng cụ H1, anh T2, bà D vào hợp đồng chuyển nhượng
sau đem đến Ủy ban chứng thực ngay. Phần đất của H được chia, H
với chị T thỏa thuận thế nào bà C không biết. Việc cụ H1 nói để lại một phần đất
hương hỏa trong thửa 482 chỉ nói miệng còn làm hợp đồng chuyển nhượng là
không có thỏa thuận. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H kiện chị T về việc hủy
Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 không đồng ý. Tại
thời điểm hợp đồng chuyển nhượng mẹ hoàn toàn minh mẫn. Do lớn
8
tuổi, xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Minh T2 trình bày:
Anh là cháu ngoại cụ Trần Thị H1, anh sống chung cụ H1 từ nhỏ. Ngày
24/01/2022 anh chứng kiến sự việc như sau: Giấy chứng nhận QSD đất thửa 482
do anh giữ, ngoại nói với anh lấy giấy đất đến nhà Ngô Kim H để thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 482 cho chị T. Bà H nói với chị T trả
C, T1, D mỗi người 500.000.000 đồng. Sau khi chị T giao tiền cho C,
D xong thì tên hợp đồng chuyển nhượng đất. Anh T2, D, C, cụ H1
tên vào hợp đồng chuyển nhượng. Còn việc H, chị T thỏa thuận thế nào
anh không biết nhưng cụ H1 nói phần đất hương hỏa còn lại trong thửa 482 để
lại cho người nuôi ngoại. Việc cụ H1 nói là nói miệng không thể hiện trong hợp
đồng để tiện cho việc giao dịch. Đối với yêu cầu khởi kiện của H kiện chị T
về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 thì anh không
đồng ý không đúng ý nguyện của bà ngoại anh (cụ H1 muốn vừa bán vừa cho
con cháu). Do bận đi làm, anh xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa
án.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND L, thị C, tỉnh
Tiền Giang: UBND L xin vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết. Hợp
đồng liên quan đến thửa đất 482 giữa hộ cụ H1 với chị T, UBND L đã tiến
hành chứng thực đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 20 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện củaNgô Kim H gồm:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất giữa với chNguyễn Thanh T đối với phần đất diện tích 972,0m
2
nằm
trong thửa 482, tờ bản đsố 16, diện tích 2.972,0m
2
tại p P, L, thị C,
tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
1.2. Không chấp nhận của Ngô Kim H yêu cầu chị Nguyễn Thanh T
giao trả 972,0m
2
(theo đo đạc thực tế 734,7m
2
) nằm trong thửa 482 cho
Ngô Kim H.
1.3. Không chấp nhận yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất giữa hộ cụ Trần Thị H1 với chị T ngày 24/01/2022 do UBND L
chứng thực đối với diện tích đất 972m
2
.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thanh T.
2.1. Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa chị Nguyễn
Thanh T với Ngô Kim H đối với phần đất diện tích 972,0m
2
nằm trong
thửa 482, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.972,0m
2
tại ấp P, L, thị C, tỉnh
Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
9
2.2. Ngô Kim H trả lại giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà
và tài sản khác gắn liền với đất số bìa DĐ 542006, số vào sổ cấp GCN:
CS11405 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T6 cấp ngày 13/5/2022 cho chị
Nguyễn Thanh T đối với thửa đất 482, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.780,4m
2
tại
ấp P, L, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố P, phường C, tỉnh Đồng
Tháp).
Nếu Ngô Kim H không giao trả bản chính giấy chứng nhận QSD đất
trên thì chị Nguyễn Thanh T được quyền liên hệ với các quan có thẩm quyền
để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận QSD đất theo quy định tại khoản 8 Điều
1 Nghị định số 152/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015
quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật thi nh án n sự
được sửa đổi, bsung một số điều theo nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17
tháng 3 năm 2020 của Chính phủ.
3. Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của cụ Trần Thị H1 yêu cầu hủy Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất giữa hộ gia đình cụ H1 với chị Nguyễn Thanh T
yêu cầu chị T giao trả 734,7m
2
thửa đất 482, t bản đồ số 16, diện tích
2.780,4m
2
tại ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C,
tỉnh Đồng Tháp) theo như phiếu kết quả đo đạc ngày 17/02/2025 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất thị C (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
khu vực VII, tỉnh Đồng Tháp).
4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thanh T trả lại cho cụ Trần Thị
H1 300.000.000 đồng.
5. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thanh T hỗ trợ cho Ngô Kim
H 200.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án n quyết định ván phí, nghĩa vụ chậm thi hành án,
quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định
pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 03/02/2026, nguyên đơn Ngô Kim H nộp đơn kháng cáo đề
ngày 02/02/2026 để kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà H; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Ngày 03/02/2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị
H1 nộp đơn kháng cáo đề ngày 02/02/2026 đ kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Luật Thanh V bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
Ngô Kim H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1 trình
10
bày: Đề nghị Hội đồng t xử chấp nhận kháng cáo của H và cụ H1, bởi lẽ
bản án sơ thẩm còn nhiều nội dung chưa được xem xét đầy đủ, cụ thể như sau:
+ Thứ nhất, tại mục [2.2], trang 11 của bản án thẩm, Tòa án thẩm
nhận định về thành viên hộ gia đình của cụ H1 nhưng tài liệu thu thập chưa
thống nhất. Cụ thể, Công an phường xác nhận bà H không phải là thành viên hộ,
trong khi Công an thị lại xác nhận H thành viên hộ. Trước khi đưa ra
nhận định, Tòa án cần làm tài liệu nào chính c để xác định tại thời điểm
chuyển nhượng QSD đất, bà H có phải là thành viên hộ gia đình hay không. Mặt
khác, theo quy định của Bộ luật Dân sự Luật Hôn nhân Gia đình, H
người sinh sống cùng cụ H1 từ trước đến nay, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ
H1 trong suốt thời gian xảy ra giao dịch hiện vẫn đang sinh sống tại căn n
này.
+ Thứ hai, đối với nội dung tại mục [2.4] của bản án sơ thẩm về việc đình
chỉ yêu cầu độc lập của cụ H1, việc đình chỉ chưa khách quan. Bởi vì, trong
quá trình giải quyết vụ án, lời khai của cụ H1 nhiều điểm chưa thống nhất
sự mâu thuẫn. Nếu xác định cụ H1 đầy đủ năng lực nhận thức làm chủ
hành vi thì cụ phải tự mình thể hiện ý chí rút yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, tại
phiên tòa phúc thẩm lần trước, cụ H1 trực tiếp xác nhận vẫn yêu cầu khởi
kiện và vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Thứ ba, đối với biên nhận giao tiền cho H, trong suốt quá trình giải
quyết vụ án, phía bị đơn không xuất trình được bản chính biên nhận. H
không thừa nhận đã nhận tiền, trong khi chị T cũng không chứng minh được
việc thực tế đã giao tiền cho H cũng như việc H đã bỏ biên nhận. Hai
người làm chứng ông H2 (chồng H) anh T4 (con H) đều những
người mâu thuẫn trong gia đình, không còn chung sống hòa thuận nên lời
khai của họ cần được Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá một cách khách quan.
+ Thứ tư, đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, mặc hợp đồng
đã được chứng thực nhưng thực tế toàn bộ giao dịch đều do phía bị đơn, cthể
Văn phòng Luật Á thực hiện. Các bên đều xác nhận việc hợp đồng
không diễn ra tại UBND cấp xã mà được thực hiện tại nhà. Trong cùng ngày lập
hai hợp đồng, một hợp đồng chứng thực một hợp đồng không chứng thực,
các con của cụ H1 đều biết việc này. Nội dung của hai hợp đồng bản giống
nhau, chỉ khác một số chi tiết. Do các bên không am hiểu pháp luật, việc tư vấn
chỉ theo hướng lợi cho một phía nên dẫn đến hợp đồng được chứng thực
dấu hiệu được xác lập do bị lừa dối khi giao kết.
Đối với biên nhận thể hiện cụ H1 đã nhận số tiền 2.500.000.000 đồng,
không có n cứ để xác định cụ H1 thực tế đã nhận số tiền này. T1, C
và bà D đều xác nhận mỗi người chỉ nhận 500.000.000 đồng. Trong khi đó, phía
bị đơn không chứng minh được việc giao, nhận đủ số tiền chuyển nhượng.
Ngoài ra, hai người làm chứng ông H2 anh T4 chồng con của H,
giữa các thành viên trong gia đình mâu thuẫn nên lời khai của họ chưa bảo
11
đảm nh khách quan. vậy, việc xác định cụ H1 đã nhận đủ 2.500.000.000
đồng chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ. Không loại trừ
khả năng cụ H1 chỉ vào các giấy tờ nhưng trên thực tế không nhận đủ số tiền
như phía bị đơn trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, cụ H1 các con của cụ đều thống nhất trình bày
chỉ chuyển nhượng khoảng hai ng đất chừa lại phần đất hương hỏa.
vậy, nếu giữ nguyên bản án thẩm không phù hợp; nếu hủy bản án thì cần
đưa cụ H1 đi giám định pháp y tâm thần để bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp
của cụ; trường hợp sửa bản án thì đề nghị công nhận việc chuyển nhượng
khoảng 2.000m² đất, giữ lại diện ch 734,7m² đất hương hỏa cho cụ H1. Phần
diện tích này giao cho H quản lý, chăm sóc đphục vụ việc phụng dưỡng cụ
H1. Việc này không ảnh hưởng đến quyền lợi của chT, vì giá trị phần đất còn
lại hiện nay rất lớn.
- Chị Nguyễn Thị Kim N người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Ngô Kim H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1 trình
bày: Thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của Luật sư Võ Thanh V như nêu trên,
không bổ sung gì thêm.
- Anh Nguyễn Văn L người đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị
Nguyễn Thanh T người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Văn S trình
bày: Không thống nhất với ý kiến trình bày của Luật Thanh V như u
trên; yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Kim H và
cụ Trần Thị H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Kim D, Ngô Kim C,
Ngô Kim T1 trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử giữ lại phần đất hương hỏa
diện tích 734,7m² cho cụ H1 để cụ H1 đứng tên QSD đất đối với phần diện
tích đất này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Minh T2 trình bày: Yêu
cầu Hội đồng xét xử để cụ H1 đứng tên phần đất hương hỏa. Ban đầu, ý nguyện
của cụ H1 chia đất cho các con và chừa lại một phần để sau này làm nơi chôn
cất. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, mọi người đều hiểu và thống
nhất việc chuyển nhượng. Tuy nhiên, vấn đề cần xem xét sao người đứng
tên nhận chuyển nhượng lại chị T. Ban đầu, người nhận chuyển nhượng
H nhưng do H không tiền nên chị T mới đứng ra nhận chuyển nhượng.
Thực tế, chị T cũng không đủ tiền để thanh toán toàn bộ giá trị chuyển
nhượng.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Th tc kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Kim H người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1 thc hiện đúng quy định và hp
l theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
12
những người tham gia tố tụng từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bluật Tố tụng dân sự;
người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa v tố tụng theo
quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Tại phiên a phúc thẩm ngày 30/6/2026, cụ Trần Thị H1
mặt tham dự phiên tòa xác định cụ có khởi kiện và có yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ án. Trong khi đó, tại các biên bản ghi lời khai do Tòa án Viện kiểm
sát cấp sơ thẩm lập, cụ H1 trình bày rằng cụ không khởi kiện, chữ trong đơn
của cụ nhưng cụ không biết nội dung do cháu đưa cho . Tuy nhiên, người
đại diện theo ủy quyền của cụ H1 trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án
cụ H1 không ý chí rút yêu cầu độc lập. Do đó, việc Tòa án cấp thẩm đình
chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của cH1 chưa căn cứ vững chắc, dẫn đến
yêu cầu này chưa được xem xét, giải quyết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của cụ H1.
Đối với việc giao nhận tiền, phía chị Nguyễn Thanh T trình bày đã giao
cho Ngô Kim H số tiền 700.000.000 đồng lập biên nhận, nhưng biên
nhận đã bị bà H giật lấy và xé bỏ. Bà H không thừa nhận nội dung trình bày này.
Hồ sơ vụ án chỉ có bản photocopy biên nhận thể hiện bà H đã nhận đủ tiền; bà H
không thừa nhận chữ trên biên nhận của mình. Đồng thời, phía chị T
không xuất trình được bản chính biên nhận cũng như không chứng minh được
việc thực tế đã giao số tiền nêu trên cho H. vậy, chưa đủ căn cứ để xác
định việc giao nhận tiền đã được thực hiện như trình bày của phía bị đơn. Việc
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận tình tiết này là chưa bảo đảm căn cứ.
Những thiếu sót trong việc thu thập, đánh gchứng cứ giải quyết yêu
cầu độc lập của cụ H1 vi phạm tố tụng, không thể khắc phục tại cấp phúc
thẩm. các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm giao hồ vụ án cho Tòa án cấp
sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
1062/PB-VKS-DS ngày 29/7/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp thụ giải
quyết thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, đòi giấy
chứng nhận QSD đất” đúng quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35 điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Ttụng dân sự vquan hệ tranh
chấp thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét x thẩm nguyên đơn Ngô
Kim H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1 không thng
13
nhất bản ánthẩm nên đã kháng cáo. Vic H cụ H1 kháng cáo vào ngày
03/02/2026 là trong thi hn kháng cáo theo quy đnh tại Điều 273 B lut T
tng dân sự, nên được xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của UBND phường C, tỉnh
Đồng Tháp vắng mặt đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét x tiến
hành xét x vng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Nguồn gốc QSD đất thửa 482, tờ bản đồ số 16, diện tích
2.780,4m
2
tại ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C,
tỉnh Đồng Tháp) do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T6 cấp ngày 13/5/2022
cho chị Nguyễn Thanh T (viết tắt đất tranh chấp hay đất thửa 482) nguồn
gốc của cụ Trần Thị H1. Ngày 24/01/2022, cụ H1 họp mặt các con gồm
Ngô Kim T1, Ngô Kim D, Ngô Kim C Ngô Kim H để chia đất thửa 482 do
hộ Trần Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 23/7/2013. Các
thành viên trong hộ đồng ý chuyển nhượng cho cháu ngoại bà H1 là chị Nguyễn
Thanh T lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ
H1 gồm Trần Thị H1, NKim D, Ngô Kim C, anh Ngô Minh T2 với
chị T. Trong đó T1, D bà C đã nhận từ chị T mỗi người số tiền
500.000.000 đồng.
Nguyên đơn Ngô Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà H với chị Nguyễn Thanh T đối với phần
đất diện tích 972m
2
nằm trong thửa 482; yêu cầu chị Nguyễn Thanh T giao
trả 972m
2
(theo đo đạc thực tế 734,7m
2
) nằm trong thửa 482 cho bà H yêu
cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa hộ cụ Trần Thị H1
với chị T ngày 24/01/2022 do UBND xã L chứng thực đối với diện tích đất
972m
2
.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cụ Trần Thị H1 yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
24/01/2022 giữa hộ gia đình cụ H1 với chị Nguyễn Thanh T yêu cầu chị T
giao diện tích đất 734,7m
2
thuộc một phần thửa 482 cho H.
Bị đơn chị Nguyễn Thanh T có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án tuyên hủy
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa chị Nguyễn Thanh T với bà Ngô Kim H
đối với phần đất diện tích 972m
2
nằm trong thửa 482 yêu cầu H trả lại
giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa 482 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh T6 cấp ngày 13/5/2022 cho chị T. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp
giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngô Kim H người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị H1. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất lập ngày 24/01/2022 giữa
Ngô Kim H với chị Nguyễn Thanh T cùng tài liệu, chứng cứ trong vụ án, cũng
như lời trình bày của các đương sự. Xét thấy tại thời điểm các bên xác lập giao
14
dịch, chị T chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa 482, nên chị T
không quyền xác lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất để chuyển nhượng
diện tích đất 972m
2
thuộc một phần thửa 482 cho H; về hình thức giao dịch
thì hợp đồng trên không được công chứng hay chứng thực và không được đăng
theo quy định tại Điều 502, Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 167,
Điều 168 Luật Đất đai năm 2013, vậy hợp đồng không đáp ứng các điều kiện
hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặt khác,
H cho rằng chị T nghĩa vụ chuyển nhượng lại cho diện tích đất 972m
2
thuộc một phần thửa 482 nhưng khi chị T làm thủ tục đo đạc lại thửa 482 để làm
thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất tbà H vẫn đồng ý tên giáp ranh
không có bất kỳ yêu cầu gì. Do đó, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất của H đối với diện tích đất 972m
2
thuộc một phần thửa 482 không
được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở do hợp đồng đã bị vô hiệu.
- Đối với việc nguyên đơn bà Ngô Kim H yêu cầu hủy một phần hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ cụ Trần Thị H1 với chị
Nguyễn Thanh T, H cho rằng cũng con của cụ H1. Tuy nhiên, theo
Văn bản trả lời số 40/CAX ngày 17/4/2024 của Công an L thì H đăng ký
thường trú tại ấp P, L, thị C, tỉnh Tiền Giang tngày 17/4/1995 (Bút lục
244). Như vậy, thời điểm cụ H1 đứng tên cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa
482 H không chung hộ khẩu với cụ H1. Trong hồ cấp giấy chứng nhận
QSD đất của cH1 cũng không danh sách thành viên hộ sử dụng đất, ngoài
ra quá trình sử dụng đất cụ H1 thực hiện việc cấp đổi, tặng cho đất cho con cũng
không ai phản đối, tranh chấp cách thành viên hộ. Đồng thời, các con cụ H1
đều thừa nhận tuy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho hnhưng đất của cụ
H1 nên mới việc cụ H1 đứng ra chia đất cho các con trước đây cũng như
chuyển nhượng đất để chia tiền cho các con bây giờ. Thời điểm hợp đồng
chuyển nhượng đất cho chị T thì cH1 cũng như các thành viên trong hộ khẩu
với cụ H1 đều tự nguyện, không ai bị ép buộc, cụ H1 cũng giao giấy chứng nhận
QSD đất cho chị T, chị T cũng đã giao tiền theo yêu cầu và thực hiện thủ tục đo
đạc, đăng khai, cấp giấy chứng nhận QSD đất theo đúng quy định pháp
luật. Mặt khác, các thành viên trong hộ khẩu với cụ H1 lời trình bày việc c
nói chừa lại một phần đất hương hỏa lời nói của cụ nhưng khi thực hiện việc
ký hợp đồng chuyển nhượng là chuyển nhượng toàn bộ thửa 482, họ cũng không
đồng ý yêu cầu hủy hợp đồng của H. Do đó, việc bà H yêu cầu hủy một phần
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa hộ cH1 với chị T không được Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
Về số tiền thanh toán theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
24/01/2022 giữa hcụ Trần Thị H1 với chị Nguyễn Thanh T đối với thửa 482.
Bị đơn đã cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giá trị chuyển nhượng
QSD đất thửa 482 2.500.000.000 đồng, theo biên nhận ngày 24/01/2022 thể
hiện cụ Trần Thị H1 đã ký. Quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng chị T
đã thanh toán cho C, T1 D mỗi người 500.000.000 đồng, việc này
15
được bà C, T1 D thừa nhận viết biên nhận cho chT. Đối với số
tiền chị T thanh toán cho H 700.000.000 đồng theo biên nhận ngày
24/01/2022, mặc chị T không cung cấp được bản chính biên nhận, chị T cho
rằng đã bị bà H giật và xé bỏ khi các bên tranh chấp, tuy nhiên theo lời khai của
ông Nguyễn Văn H2 chồng H, anh Nguyễn Ngọc T4 là con H cho rằng
H nhận tiền từ chị T, chữ viết tay ở cuối biên nhận và chữ ký tên là của bà
H, theo trình bày của H thì giữa ông H2 vợ chồng vẫn còn chung
sống với nhau, không ly hôn. Chị T thừa nhận còn giữ của cụ H1
300.000.000 đồng đồng ý giao trả cho cH1. Cho thấy s tiền chuyển
nhượng toàn bộ thửa đất 482 là 2.500.000.000 đồng, chị T đã thanh toán
2.200.000.000 đồng, còn lại 300.000.000 đồng còn giữ của cụ H1; các bên đã
thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ theo hợp đồng, hcụ H1 đã giao đất thửa 482 cho
chị T sử dụng và đã chuyển QSD đất cho chị T đứng tên xong. Vì vậy, trình bày
của bị đơn là có cơ sở.
- Việc bị đơn chị Nguyễn Thanh T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất ngày 24/01/2022 giữa chvới H, yêu cầu H trả lại giấy chứng
nhận QSD đất. t thấy, hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa chị T H
không đủ điều kiện có hiệu lực pháp luật nên việc chị T yêu cầu tuyên bố hủy do
bị hiệu là căn cứ, việc H giữ giấy chứng nhận QSD đất thửa 482 của
chị T không được s đồng ý của chị trái quy định pháp luật, nên việc chị T
yêu cầu H trả lại giấy chứng nhận QSD đất được Tòa án cấp thẩm chấp
nhận là có căn cứ, phù hợp Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đối với yêu cầu độc lập của cụ Trần Thị H1 yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ cụ Trần Thị H1 với chị
Nguyễn Thanh T được UBND L chứng thực. Trong quá trình giải quyết vụ
án cụ H1 đơn xin rút lại yêu cầu chị T trách nhiệm chuyển QSD đất diện
tích 780,4m
2
thuộc thửa 482 cho H; giữ nguyên yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất giữa hộ gia đình cụ H1 với chị T. Tuy nhiên, tại biên
bản ghi lời khai ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân thị Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp) đối với cụ Trần Thị H1
thể hiện cụ H1 xác định không khởi kiện chị T ra Tòa án, chữ trong đơn
của cụ H1 còn nội dung thế nào cụ không biết vì cụ H1 không biết chữ, cháu của
cụ H1 đưa cho cụ thì cụ ký. Như vậy, việc cụ H1 kiện chị T theo đơn khởi
kiện cung cấp cho Tòa án không phải ý chí của cụ. Mặt khác, theo Biên bản
ghi lời khai ngày 03/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B - Đồng
Tháp đối với cụ Trần Thị H1 thể hiện cụ H1 xác định không khởi kiện chị T,
cho thấy cụ H1 không có tranh chấp với chị T. Do đó, không có sở xem xét
đơn yêu cầu độc lập của cụ H1 đối với chị T, nên Tòa án cấp thẩm đã đình
chỉ yêu cầu độc lập của cụ H1 là có căn cứ.
Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/6/2026, cụ H1 tham gia
nhưng cụ chưa thể hiện ý chí của mình đối với việc khởi kiện chị T do sức
khỏe yếu đã lớn tuổi, cụ H1 không thể trực tiếp nghe trả lời câu hỏi của
16
Hội đồng xét xử mà phải thông qua người khác nói lại. Vì vậy, trong trường hợp
cụ H1 tranh chấp với chị Nguyễn Thanh T thì quyền khởi kiện bằng vụ án
khác theo quy định của pháp luật.
- Việc chT xác định còn giữ lại 300.000.000 đồng tiền chuyển nhượng
đất của cụ H1, chị T tự nguyện trả lại số tiền trên cho cH1. Đồng thời, tình
nghĩa mẹ con với H, nên chị T tự nguyện htrợ cho H 200.000.000 đồng
(bao gồm tài sản, cây trồng của H trên đất tranh chấp). Xét thấy đây sự
tự nguyện của chị T không trái quy định pháp luật nên Tòa án cấp thẩm
chấp nhận là có cơ sở.
[4] Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim N đại diện theo y quyền của
Ngô Kim H cụ Trần Thị H1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo của H cụ H1.
Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của chị N là không đủ căn cứ, đồng thời bà H
và cụ H1 cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo của mình sở như đã phân tích trên, nên không được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
ca bà Ngô Kim H và cụ Trần Thị H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như nêu trên, Hội đồng xét
xử xét thấy không đủ cơ sở, nên không được chấp nhận.
[7] Đối với đề ngh của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
Ngô Kim H cụ Trần Thị H1 như nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy là không
đủ cơ sở, nên không được chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của bà Ngô Kim H cụ Trần Thị H1 không
được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do H
cụ H1 thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được xét
miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Các phn khác ca bn án thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Kim H;
2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cụ Trần Thị H1;
17
3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s13/2026/DS-ST ngày 20 tháng
01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
Áp dụng khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a, c khoản
1 Điều 39 và các Điều 147, 148, 227, 228, 244, 273, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;
các Điều 117, 166, 500, 503 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 132, 133, 134, 135,
136 Luật Đất đai năm 2024;
3.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Kim H gồm:
3.1.1. Không chấp nhận yêu cầu của Ngô Kim H về việc yêu cầu ng
nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa NKim H
với chị Nguyễn Thanh T đối với phần đất diện tích 972m
2
thuộc một phần
thửa 482, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.972m
2
tọa lạc tại ấp P, L, thị xã C, tỉnh
Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
3.1.2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngô Kim H về việc yêu cầu chị
Nguyễn Thanh T giao trả QSD đất diện tích 972m
2
(theo đo đạc thực tế diện
tích là 734,7m
2
) thuộc một phần thửa 482 cho bà H.
3.1.3. Không chấp nhận yêu cầu của Ngô Kim H về việc yêu cầu hủy
một phần hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ cụ Trần
Thị H1 với chị Nguyễn Thanh T được UBND L chứng thực đối với diện tích
đất 972m
2
thuộc một phần thửa 482.
3.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thanh T gồm:
3.2.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa chị Nguyễn
Thanh T với Ngô Kim H đối với phần đất diện tích 972m
2
thuộc một phần
thửa 482, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.972m
2
tọa lạc tại ấp P, L, thị xã C, tỉnh
Tiền Giang (nay là khu phố P, phường C, tỉnh Đồng Tháp) vô hiệu.
3.2.2. Bà Ngô Kim H có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận QSD đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số bìa 542006, số vào sổ cấp
GCN: CS11405 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T6 cấp ngày 13/5/2022
cho chị Nguyễn Thanh T đối với thửa 482, tờ bản đsố 16, diện tích 2.780,4m
2
tọa lạc tại ấp P, L, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố P, phường C,
tỉnh Đồng Tháp).
Nếu NKim H không giao trả bản chính giấy chứng nhận QSD đất
trên thì chị Nguyễn Thanh T được quyền liên hệ với các quan có thẩm quyền
để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định tại khoản 8 Điều
1 ngày 15/11/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ.
3.3. Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của cụ Trần Thị H1 vviệc yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/01/2022 giữa hộ cụ Trần Thị
H1 với chị Nguyễn Thanh T yêu cầu chị T giao trả diện tích đất 734,7m
2
thuộc một phần thửa 482, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.780,4m
2
tọa lạc tại ấp P,
18
L, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố P, phường C, tỉnh Đồng Tháp)
theo như Phiếu kết quả đo đạc ngày 17/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất thị C (nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực VII, tỉnh
Đồng Tháp). Trong trường hợp cụ Trần Thị H1 tranh chấp với chị Nguyễn
Thanh T thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật
3.4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thanh T trả lại cho cụ Trần
Thị H1 số tiền 300.000.000 đồng.
3.5. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thanh T hỗ trợ cho Ngô
Kim H số tiền 200.000.000 đồng.
3.6. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Ngô Kim H và cụ Trần Thị H1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- H4 lại chị Nguyễn Thanh T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng,
theo biên lai thu số 0018664, ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực B thuộc
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
4. Án phí dân sphúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Bà Ngô Kim H và cụ Trần Thị H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6
Điều 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sđược thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc B - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc B - Đng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất