Bản án số 775/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 775/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 775/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 775/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị P1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 775/2026/DS-PT
Ngày: 20 -7- 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Minh Trang
Các thẩm phán: Bà Mạc Thị Chiên
Ông Võ Bảo Anh.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Xuân
Lộc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ lý số 934/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về
việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 1011/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 884/2026/QĐ-PT ngày
06/7/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số E, Hẻm C,
đường M, phường N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Dương Thị Phương L, sinh năm: 1993,
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số H, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ. Hoặc Nguyễn Thị
Thúy L1, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (Có đơn
xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Đinh Ngọc Ẩ, sinh năm: 1958 (có mặt).
2. Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1965 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1967 Phùng Thị Ú, sinh năm:
1967 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Ngô Thanh L2, sinh năm: 1978 (Có mặt) Trần Thùy V,
sinh năm: 1977 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, T, thành phố Cần Thơ. Chỗ hiện nay: Số B, ấp N,
xã N, thành phố Cần Thơ.
3. Thị T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Số G đường L, phường B, thành
phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Văn Ú1, sinh năm: 1960 (Có mặt);.
Địa chỉ: ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
4. Ông Lưu Văn L3, sinh năm: 1955 và bà Cao Thị Si . (Có đơn xin xét xử
vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ.
* Do có kháng cáo của nguyên đơn là bà Phạm Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 05/4/2024 và quá trình tố tụng tại Toà án nguyên
đơn Phạm Thị P người đại diện uỷ quyền Dương Thị Phương L,
Nguyễn Thị Thúy L1 đã trình bày:
Vào ngày 09/8/2017 Thị T giới thiệu cho Phạm Thị P mua
mảnh đất gồm thửa 906, 563, 564, 566, tờ bản đồ 05C tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh
Hậu Giang. Trên sở ông Đinh Ngọc Trần Thị Đ hợp đồng uỷ quyền
toàn bộ cho T nên ngày 14/8/2017 T đã chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho P, hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-
SCC/HĐGD. Giá chuyển nhượng các thửa đất trên 700.000.000 đồng, T thoả
thuận nếu không trả tiền gốc, không đóng đủ tiền lãi 03 tháng liên tục thì sau thời
hạn 03 năm bà P có quyền sang tên quyền sử dụng đất nêu trên.
Sau 03 năm T không đóng lãi, không trả tiền gốc, đến khi P tiến hành
thủ tục nhận chuyển nhượng thì mới biết Thu nhận cầm cố đất ông , Đ để
cho vay tiền bằng hình thức uỷ quyền, nếu sau 10 năm không đóng tiền thì bị “nát
vốn”. Bà P có liên hệ ông , bà T tìm cách xử lý nhưng ông , bà T luôn tránh né,
không trả tiền và cũng không giao đất. Vì vậy, P khởi kiện yêu cầu ông , bà Đ
tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng đã
kết ngày 14/8/2017 được Văn phòng C, quyển s 02/2017/CC-SCC/HĐGD.
Buộc ông , bà Đ trách nhiệm bàn giao quyền sử dụng đất làm thủ tục sang
tên quyền sử dụng đất cho bà P.
* Quá trình tố tụng bị đơn ông Đinh Ngọc Ẩ có đơn phản tố ngày 16/7/2024
trình bày:
Ngày 10/8/2017 gia đình gặp khó khăn nên ông cầm cố quyền sử dụng
đất cho Thị T số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn cố 10 năm. Theo tho
thuận nếu ông trả tiền cầm cố trước thời hạn thì bên T phải trả giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lại cho ông và mỗi năm bên T phải trừ số tiền cầm cố
11.000.000 đồng/năm xem như là tiền thuê đất của ông, hai bên làm hợp đồng
3
cầm cố. Đến ngày 14/8/2017 bà T làm thêm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất hẹn ông ra quán phê B, Cần Thơ để ký. Khi ông đến thì khoảng
06 người thanh niên ngồi kế gây áp lực buộc ông phải vào hợp đồng chuyển
nhượng, ông chưa được đọc bất cứ nội dung nào trong hợp đồng chuyển nhượng.
Sau đó T cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông cùng với hợp
đồng chuyển nhượng đi không giao ông bất cứ hợp đồng chuyển nhượng nào
lại cho ông. Đến cuối năm 2017 ông điện thoại bà T thì không liên lạc được, đến
địa chỉ của bà T ở thì không gặp.
Do đó, ông yêu cầu huỷ hợp đồng cầm cố giữa ông với T, ông đồng ý trả
cho T số tiền còn lại (tính đến ngày nộp đơn phản tố 16/7/2024) 33.000.000
đồng, do thời hạn cầm cố còn lại 03 năm, mỗi năm 11.000.000 đồng yêu cầu
huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2017 được Văn phòng
C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD. Yêu cầu Phạm Thị P trả lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 000096 cấp ngày 13/3/1995 cho ông.
* Quá trình tố tụng bị đơn Trần Thị Đ (vợ bị đơn Đinh Ngọc ) trình
bày:
Lâu rồi không nhớ ngày tháng, do cần tiền xoay sở trong gia đình, thông
qua người giới thiệu vợ chồng bà biết bà T, T gợi ý bỏ ra 110.000.000 đồng
lấy bằng khoán đất vợ chồng vay thế chấp tại Ngân hàng ra giữ bằng
khoán, T kêu vợ chồng bà giấy cầm cố đất cho T theo giá T bỏ ra
chuộc Ngân hàng, T nói mỗi năm strừ cho vợ chồng 11.000.000 đồng
đến khi hết nợ thì thôi, cũng trong thời gian này T kêu vợ chồng làm giấy ủy
quyền cho T để T làm hồ đó, do vợ chồng cũng nhờ T mới lấy ra
được bằng khoán nên nghe theo T ủy quyền cho bà T, nội dung ủy quyền T
làm sẵn, sau này kiện ra Tòa án bà mới biết là bà T làm ủy quyền để bán đất của vợ
chồng nên không đồng ý, yêu cầu Tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi cho
bà, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà P.
Đối với phần đất vợ chồng bà đã bán cho ông Ngô Thanh L2, Nguyễn Văn B
Một bà thừa nhận và đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho ông L2ông Bé M. Đối
với yêu cầu phản tố bà đồng ý để cho ông toàn quyền quyết định, bà đề nghị xét
xử vắng mặt bà.
* Tại phiên toà người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị T ông
Võ Văn Ú1 là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Trước đây Thị T cho ông Đinh Ngọc vay 110.000.000 đồng để
chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đang vay thế chấp tại Ngân
hàng ra bà T kêu ông uỷ quyền cho T làm tin nếu ông không trả
vốn lãi như thoả thuận thì T sẽ thực hiện chuyển nhượng quyền sdụng đất lại
cho người khác để thu hồi vốn, do ông không trả nợ vay đúng hạn nên T trên
sở có giấy uỷ quyền của ông , Đ đã vay của bà P số tiền 700.000.000 đồng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kèm theo cho P, số tiền
vay ghi bằng số tiền chuyển nhượng nhưng tiền này bà T không giao lại cho
ông , bà Đ.
Qua sự việc tranh chấp này về ý kiến T như sau: Ông trả vốn vay
110.000.000 đồng cho bà T, bà T không yêu cầu tính lãi suất.
4
Về trách nhiệm của bà T thì bà T sẽ trả vốn 700.000.000 đồng và lãi suất còn
nợ P theo lãi suất nhà nước quy định, thời điểm trả lãi trước đây T cũng
không thống kê được và cũng không nhớ đã đóng lãi cho bà P được bao nhiêu. Đối
với P thì P trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bn
chính lại cho ông Ẩ, bà Đ.
* Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thanh
L2 đơn yêu cầu độc lập trình bày: Ngày 06/4/1995 mẹ ông Đinh Ngọc
Lương Thị T1 sang cho ông Lưu Văn L3 phần đất 04 công tầm lớn bờ kênh
với số vàng 16,5 chỉ vàng 24K (có làm giấy tay), ông L3 đã trả đủ vàng và canh tác
từ năm 1995. Đến ngày 02/6/2020 ông L3 sang lại phần đất này cho ông và vợ ông
Trần Thùy V với số tiền 340.000.000 đồng, làm giấy tay ông đã canh
tác đất tnăm 2020 đến nay. Ngoài ra, vào ngày 01/12/2016 ông sang của ông
, Đ phần đất diện tích 1163m
2
, trong diện tích này 24 mét chiều ngang
giáp quốc lộ F 5 mét ngang giáp kênh Thầy phía sau với giá 500.000.000
đồng, làm hợp đồng giấy tay. Đất tranh chấp giữa các bên dính tới phần đất
của ông đã sang trước đó nên ông yêu cầu Toà án xem xét công nhận 02 hợp đồng
chuyển nhượng giấy tay ngày 01/12/2016 với diện tích 1163,9m
2
hợp đồng
chuyển nhượng giấy tay ngày 02/06/2020 với diện tích 5520m
2
thuộc quyền sở hữu
của ông.
* Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn
B Một đơn yêu cầu độc lập trình bày: Năm 1995 bà Lương Thị T1 thoả
thuận bán cho ông phần đất diện tích ngang 50 t, dài 75,5m, tổng diện tích
3.770m
2
đất toạ lạc tại ấp C, T, huyện C, tỉnh Hậu Giang với giá 10 chỉ vàng
24K, hai bên làm “Tờ nhượng quyền vĩnh viễn” đề ngày 04/02/1995, ông đã
giao đủ vàng nhận đất canh tác từ đó liên tục cho đến nay. Hiện Lương Thị
T1 đã mất và ông Ẩ được nhận thừa kế đứng tên nên ông yêu cầu ông , bà Đ tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất trên cho ông. Ông đồng ý với diện
tích đo đạc thực tế mà ông đang sử dụng và đề nghị xét xử vắng mặt.
* Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Thị Ú
(vợ ông Nguyễn Văn M) trình bày: Tương tự ý kiến yêu cầu độc lập của ông
Bé M và bà có đề nghị xét xử vắng mặt.
* Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Văn L3
cùng vợ Cao Thị S trình bày: Vào ngày 06/4/1995 Lương Thị T1 mẹ ông
Đinh Ngọc chuyển nhượng cho ông phần đất 04 công tầm 03 mét, ngang 16
tầm 02 mét, dài 36 tầm (tầm 03 mét), thêm cái bờ kênh với giá 16,5 chỉ vàng
24K, lúc mua ông trả một lần đủ vàng và nhận đất canh tác, việc sang bán làm
giấy tay đề ngày 06/4/1995, canh tác liên tục đến ngày 02/6/2020 ông chuyển
nhượng lại cho ông Ngô Thanh L2 làm giấy tay với giá 340.000.000 đồng, ông
L2 đã giao đủ tiền ông đã giao đất cho ông L2 canh tác từ năm 2020 đến nay.
Phần đất này ông đã chuyển nhượng lại cho ông L2 nên ông không tranh chấp
hay yêu cầu độc lập gì trong vụ án này, ông xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
* Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thùy
V (vợ ông Ngô Thanh L2) trình bày: Thống nhất với yêu cầu độc lập của ông L2,
thống nhất với các ý kiến trình bày của ông L2 trong vụ án, đồng ý để ông L2
5
thay mặt toàn quyền quyết định, giải quyết tất cả các vấn đcó tranh chấp
trong vụ án và có đề nghị xét xử vắng mặt.
* Tại Bản án thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị P đối với ông Đinh
Ngọc , Trần Thị Đ về việc buộc ông Đinh Ngọc , Trần Thị Đ tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đã ký kết ngày
14/8/2017 được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD. Không chấp
nhận yêu cầu buộc ông Đinh Ngọc , Trần Ngọc Đ1 phải bàn giao quyền sử
dụng đất và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị P.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đinh Ngọc Ẩ
2.1. Tuyên bố: Hợp đồng cầm cố không đề ngày tháng năm “có ghi: Thời
hạn cầm cố 10 năm từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/7/2027” (bút lục 110) giữa
ông Đinh Ngọc Ẩ với bà Lê Thị T bị vô hiệu.
Hậu quả của hợp đồng hiệu: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa ông
Đinh Ngọc với bà Lê Thị T (người đại diện ông Văn Ú1). Theo đó ông
Đinh Ngọc tnguyện nghĩa vụ trả cho Thị T số tiền 110.000.000đ
(Một trăm mười triệu đồng), Thị T không yêu cầu tính lãi suất. Thị T
không nhận đất nên không nghĩa vụ giao trả đất cho ông Đinh Ngọc , Trần
Thị Đ.
Kể từ ngày Thị T đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đinh Ngọc ,
Trần Thị Đ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2.2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2017
được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD giữa ông Đinh Ngọc ,
Trần Thị Đ (đại diện theo ủy quyền hợp đồng Thị T) với bà Phạm Th
P bị vô hiệu.
Hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng hiệu: Hai bên cùng lỗi ngang
nhau nên không bên nào phải bồi thường thiệt hại. Ông Đinh Ngọc , Trần Thị
Đ không nhận tài sản từ Phạm Thị P nên không nghĩa vụ trả cho P.
Phạm Thị P không có nhận quản lý, sử dụng đất của ông , Đ nên không
nghĩa vụ hoàn trả đất cho ông , Đ. Buộc Phạm Thị P nghĩa vụ trả lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000096 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
Cần Thơ cấp ngày 13/3/1995 cho Lương Thị T1 đứng tên chủ sử dụng (đã được
chỉnh lý biến động sang tên ông Đinh Ngọc Ẩ) cho ông Đinh Ngọc Ẩ (bản chính).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Ngô Thanh L2
3.1. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Đinh Ngọc , ông Ngô
Thanh L2, Phạm Thị P (có đại diện Dương Thị Phương L) tại phiên toà:
Công nhận hợp đồng “Tờ sang nhượng đất ngày 01/12/2016” “Tờ chuyển
nhượng đất ngày 02/06/2020”. Công nhận cho ông Ngô Thanh L2 được quyền sở
hữu hợp pháp phần đất tại vị trí số (1) theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất ngày
28/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C, diện tích 797,3m
2
,
6
thuộc một phần thửa 564, tờ bản đồ số 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000096 do ông Đinh Ngọc Ẩ đứng tên chủ sử dụng.
3.2. Đình chỉ xét xử đối với phần đất tranh chấp tại vị trí số (2) phiếu đo đạc
chỉnh thửa đất ngày 28/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
C diện tích 224,9m
2
, thuộc một phần thửa 563, tbản đồ số 02, loại đất CLN giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000096 do ông Đinh Ngọc Ẩ đứng tên chủ dụng.
3.3. Công nhận cho ông Ngô Thanh L2 được quyền sở hữu hợp pháp phần
đất tranh chấp số 1 mãnh trích đo địa chính số 137 2024 ngày 02/12/2024 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C diện tích 5.122,7m
2
thuộc thửa
566 loại đất CLN, tờ bản đồ số 05C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000096 do ông Đinh Ngọc Ẩ đứng tên chủ sử dụng.
(Kèm theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện C ghi ngày 28/3/2025 Mãnh trích đo địa chính số 137-2024 được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 02/12/2024).
Ông Ngô Thanh L2 được quyền liên hệ cơ quan thẩm quyền đthực hiện
việc đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn B Một
Ghi nhận sự tự nguyện tại phiên tòa của ông Đinh Ngọc , Phạm Thị P
(có đại diện Dương Thị Phương L) đồng ý công nhận hợp đồng chuyển nhượng
“Tờ sang đất vĩnh viễn” cho ông Nguyễn Văn B Một được quyền sở hữu hợp pháp
phần đất có diện tích 3307,7m
2
, thửa 566, tờ bản đồ số 02, loại đất CLN thuộc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000096 do ông Đinh Ngọc đứng tên chủ sử
dụng.
(Kèm theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện C ghi ngày 28/3/2025).
Ông Nguyễn Văn M được quyền liên hquan thẩm quyền để thực
hiện việc đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
5. Về giao dịch dân sự giữa bà Phạm Thị P với bà Lê Thị T về hợp đồng cho
vay tài sản tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự quyền kháng
cáo của các đương sự.
* Ngày 08 tháng 4 năm 2026: Nguyên đơn Đinh Thị P1 kháng cáo yêu
cầu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. cho
rằng Tòa án tuyên hủy bỏ hợp đồng cầm cố giữa ông T, đồng thời hủy bỏ
hợp đồng chuyển nhượng giữa T P1 nhưng lại không đưa giải quyết hệ
quả để buộc các bên bà T ông trách nhiệm trả lại cho bà số tiền
700.000.000 đồng tiền lãi theo quy định của Ngân hàng tại từng thời điểm. Nên
bà đề nghị giải quyết lại vụ kiện theo hướng giải quyết để bà nhận lại tiền từ những
người có liên quan trong cùng vụ án.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng o
nhưng xin xét xử vắng mặt.
* Đại diện của Thị T ông Văn Ú1: xác định số tiền đã nhận của
P1 là 700.000.000 đồng, bà T đồng ý trả cho P1 giai đoạn thi hành án ông
7
trả số tiền 110.000.000 đồng, ông cũng đồng ý khi nhận tsẽ thanh toán phần
tiền đó cho P1; số còn lại Tòa án giải quyết luôn thì T P1 sẽ không
phải giải quyết thêm bằng một vụ án khác.
* Bị đơn ông Đinh Ngọc Ẩ: thống nhất với bản án sơ thẩm, Tòa án giải quyết
theo pháp luật thì ông sẽ nộp tiền tại quan thi hành án để nhận lại được giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất như bản án đã tuyên.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2024: theo đó xác định việc hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau giả tạo nhằm che giấu hợp đồng
vay. Tại biên bản hòa giải ngày 03/3/2026 P1 có trình bày qtrình thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau có sở xác định P1 cho
T vay 700.000.000 đồng T phải ký hợp đồng chuyển nhượng đất để đảm
bảo nvay hay nói cách khác hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất hợp
đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản.
Ngoài ra, P1 nhận chuyển nhượng trên giấy tờ nhưng trên thực tế đất một
phần do ông , Đ đã xây dựng nhà từ rất lâu vẫn đang quản lý, sử dụng,
trên một phần đất còn mồ mả người thân ông , Đ chôn cất một phần
ông , Đ đã chuyển nhượng cho ông L2 ông Nguyễn Văn B Một canh tác,
sử dụng giấy tay từ trước.
Chứng cứ lời thừa nhận của P1, T đủ sở xác định các giao dịch
từ ông , Đ đối với T và giao dịch từ T sang P1 giả tạo nhằm che
giấu một giao dịch khác.
vậy, yêu cầu khởi kiện của P1 về việc yêu cầu ông , Đ tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng đã ký kết
ngày 14/8/2017 được Văn phòng Công chứng Nguyễn Xuân T2 buộc ông ,
Đ trách nhiệm bàn giao quyền sử dụng đất làm thủ tục sang tên quyền sử
dụng đất cho P1 là không có căn cứ để chấp nhận.
Bản án thẩm tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
n cứ. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sthì hợp đồng
vay giữa nguyên đơn T vẫn hiệu lực nên cần phải giải quyết khi tuyên
hiệu hợp đồng chuyển nhượng.
Tại phiên tòa thầm đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Ú1 xác định
số tiền vay stiền 110.000.000 đồng với điều kiện ông , Đ phải ký giấy cầm
cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó hợp đồng ủy quyền cho T
được thực hiện các quyền của người có quyền sử dụng đất và bà T cũng vay tiền bà
P1 số tiền 700.000.000 đồng và có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
kèm theo cho P1, stiền vay ghi bảng số tiền chuyển nhượng nhưng tiền này
bà T không có giao lại cho ông Ẩ, bà Đ.
Qua sự việc tranh chấp này về ý kiến T như sau: Ông trả vốn vay
110.000.000 đồng cho T, T không yêu cầu tính lãi suất. Vtrách nhiệm của
bà T thì bà T sẽ trả vốn 700.000.000 đồng và lãi suất còn nợ bà P1 theo lãi suất nhà
8
nước quy định, thời điểm trả lãi trước đây bà T cũng không thống kê được và cũng
không nhớ đã đóng lãi cho bà P1 được bao nhiêu.
Đối với P1 thì P1 trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất bản chính lại cho ông Ẩ, bà Đ.
Như vậy, lời thừa nhận của T cũng đã khẳng định việc vay nợ giữa
P1 là thật lãi nhưng không xác định mức lãi suất các bên cũng
không thể hiện cụ thể về phần lãi suất được tính như thế nào, đã trả được bao
nhiêu.
Nguyên đơn thừa nhận bà T trả lãi cho 4%/tháng đã đóng 3 tháng nên
xác định bà thu đã trả lãi cho nguyên đơn là 140.000.000 đồng (đối với phần lãi bà
T đóng hơn 10 triệu/tháng chưa rõ bà T đóng được trong bao nhiêu tháng nên chưa
sở để tính). Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì cần buộc
T trả lại cho P1 số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng lãi suất 10%/năm của
khoản tiền vay tính từ ngày 14/8/2016 đến ngày xét xử thẩm 30/3/2026 tạm
tính 09 năm 07 tháng 16 ngày tương đương lãi suất 638.944.444 đồng. N
vậy, tổng số tiền bà T còn phải thanh toán cho nguyên đơn 1.198.944.444 đồng.
Do đó bản án thẩm không tuyên buộc bà T trách nhiệm trả số tiền vay lãi
suất cho nguyên đơn là có thiếu sót cần sửa bản án sơ thẩm lại cho phù hợp, kháng
cáo của nguyên đơn sở để chấp nhận. Các phần khác của bản án đã tuyên
là phù hợp nên cần được giữ nguyên.
Từ những phân tích trên, đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên
đơn bà P1, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: sửa một phần bản án
theo nhận định nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hsơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện nguyên đơn; bà Trần
Thị Đ và những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Văn
M, Phùng Thị Ú, ông Lưu Văn L3, Cao Thị S, bà Trần Thùy V vắng mặt
nhưng trước đóđề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ
các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Chứng cứ lời thừa nhận của nguyên đơn Phạm Thị P, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Thu Đ2 sở xác định các giao dịch từ
ông , Đ đối với T giao dịch từ T sang P giả tạo nhằm che đậy
một giao dịch khác. vậy, yêu cầu khởi kiện của bà P về việc yêu cầu ông ,
Đ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng đã
kết ngày 14/8/2017 được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD
buộc ông , bà Đ trách nhiệm bàn giao quyền sdụng đất làm thủ tục sang
tên quyền sử dụng đất cho P không căn cứ để chấp nhận. Nên phần này
giữ nguyên nội dung đã tuyên, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
[2.2] Xét thấy do hợp đồng giả tạo che đậy hợp đồng vay nên P không
được giao nhận đất nên không phải giao trả đất. Ông Đinh Ngọc , bà Trần Thị Đ
9
không có nhận tài sản từ bà P nên không có nghĩa vụ trả gì cho bà P. Bà P đang giữ
giấy chứng nhận quyền sdụng đất bản chính của ông nên buộc P giao lại
giấy chứng nhận quyền sdụng đất bản chính số 000096 cấp ngày 13/3/1995 cho
ông Đinh Ngọc . Xác định hai bên cùng lỗi ngang nhau nên không bên nào
phải bồi thường thiệt hại. Nên phần này giữ nguyên nội dung đã tuyên, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
[2.3] Đối với nghĩa vụ thanh toán, căn cứ lời thừa nhận của các đương sự
tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đủ sở xác định Thị T đã nhận
của P số tiền vay 700.000.000 đồng nhưng đến nay chưa hoàn trả nên phải
nghĩa vhoàn trả số tiền gốc đã vay. Về tiền lãi, do các bên đều xác nhận việc
thanh toán lãi nhưng không thống nhất và không chứng minh được đầy đủ số tiền
lãi đã thanh toán, nên Hội đồng xét xxác định số tiền lãi đã trả theo phạm vi các
bên cùng thừa nhận; đối với phần còn lại, áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định nghĩa vụ trả lãi đối với khoản vay kể từ ngày
nhận tiền đến ngày xét xử sơ thẩm, sau khi khấu trừ số tiền lãi T đã thanh toán
cho bà P theo chứng cứ có trong hồ sơ.
[2.4] Quá trình giải quyết ván cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,
người đại diện theo ủy quyền của bà P và bà T thống nhất xác nhận giữa hai bên có
phát sinh quan hệ vay tài sản; P đã giao cho T số tiền 700.000.000 đồng,
T nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc tiền lãi. Bản thân T kéo dài nên không xác
định được đầy đủ số tiền đã thanh toán. Bà P cũng xác nhận đã nhận tiền lãi của bà
T trong một thời gian, gồm mức lãi 4%/tháng trong khoảng 04 đến 05 tháng và sau
đó tiếp tục nhận các khoản tiền trên 10.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên không xác
định được cụ thể thời gian và số tiền đã nhận.
Như vậy, việc giữa P T tồn tại quan hệ vay tài sản tình tiết c
đương sự đều thừa nhận, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ
luật Tố tụng dân sự:
[2.5] Xét thấy, sau khi tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
hiệu tquyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch vay tài sản bị che
giấu phải được giải quyết trong cùng vụ án nhằm bảo đảm giải quyết triệt để quan
hệ tranh chấp, tránh phát sinh vụ kiện khác giữa cùng các đương sự đối với cùng
một giao dịch. Do đó, việc cấp thấm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất hiệu nhưng tách quan hvay tài sản giữa P T đgiải quyết
bằng vụ án khác chưa bảo đảm giải quyết đầy đủ hậu quả pháp của giao dịch
giả tạo theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.6] Từ những phân tích trên, căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của
bà P, sửa bản án sơ thẩm theo hướng ngoài việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất hiệu còn buộc T nghĩa vụ thanh toán cho Phạm Thị
P số tiền vay gốc tiền lãi theo quy định của pháp luật. Cụ thể về số tiền, được
tính 700.000.000 đồng tiền gốc 638.944.444 đồng tiền lãi (sau khi khấu tr
140.000.000 đồng tiền lãi đã trả), tổng cộng 1.198.944.444 đồng,
[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Giữ nguyên phần quyết định
của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng phần không có kháng cáo, kháng nghị.
10
Sửa phần án phí dân sự thẩm: Thị T phải chịu số tiền tính tròn
47.968.000 đồng tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kháng
cáo nên nguyên đơn không phải chịu án phí.
[5]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lýsử dụng án phí
và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Đinh Thị P1:
Giữ nguyên một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 Cần Thơ và sửa một phần bản án
thẩm về nghĩa vụ trả tiền của bà Lê Thị T:
I. Giữ nguyên một phần bản án sơ thẩm như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị P đối với ông Đinh
Ngọc , Trần Thị Đ về việc buộc ông Đinh Ngọc , Trần Thị Đ tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã kết ngày 14/8/2017
được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD. Không chấp nhận yêu cầu
buộc ông Đinh Ngọc , Trần Ngọc Đ1 phải bàn giao quyền sử dụng đất và làm
thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị P.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đinh Ngọc Ẩ
2.1. Tuyên bố: Hợp đồng cầm cố không đề ngày tháng năm “có ghi: Thời
hạn cầm cố 10 năm từ ngày 14/8/2017 đến ngày 14/7/2027” (bút lục 110) giữa
ông Đinh Ngọc Ẩ với bà Lê Thị T bị vô hiệu.
Hậu quả của hợp đồng hiệu: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa ông
Đinh Ngọc , Trần Thị Đ với Thị T (người đại diện ông Văn Ú1).
Theo đó ông Đinh Ngọc Ẩ, bà Trần Thị Đ tự nguyện có nghĩa vụ trả cho bà Th
T số tiền 110.000.00(Một trăm mười triệu đồng), Thị T không yêu cầu
tính lãi suất. Thị T không nhận đất nên không nghĩa vụ giao trả đất cho
ông Đinh Ngọc Ẩ, bà Trần Thị Đ.
Kể từ ngày Thị T đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đinh Ngọc ,
Trần Thị Đ chậm trả tiền tphải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2.2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/8/2017
được Văn phòng C, quyển số 02/2017/CC-SCC/HĐGD giữa ông Đinh Ngọc ,
Trần Thị Đ (đại diện theo ủy quyền hợp đồng Thị T) với bà Phạm Th
P bị vô hiệu.
Hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng hiệu: Hai bên cùng lỗi ngang
nhau nên không bên nào phải bồi thường thiệt hại. Ông Đinh Ngọc , Trần Thị
11
Đ không nhận tài sản từ Phạm Thị P nên không nghĩa vụ trả cho P.
Phạm Thị P không có nhận quản lý, sử dụng đất của ông , Đ nên không
nghĩa vụ hoàn trả đất cho ông , Đ. Buộc Phạm Thị P nghĩa vụ trả lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000096 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
Cần Thơ cấp ngày 13/3/1995 cho Lương Thị T1 đứng tên chủ sử dụng (đã được
chỉnh lý biến động sang tên ông Đinh Ngọc Ẩ) cho ông Đinh Ngọc Ẩ (bản chính).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Ngô Thanh L2
3.1. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Đinh Ngọc , ông Ngô
Thanh L2, Phạm Thị P (có đại diện Dương Thị Phương L) tại phiên toà:
Công nhận hợp đồng “Tờ sang nhượng đất ngày 01/12/2016” “Tờ chuyển
nhượng đất ngày 02/06/2020”. Công nhận cho ông Ngô Thanh L2 được quyền sở
hữu hợp pháp phần đất tại vị trí số (1) theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất ngày
28/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C diện tích 797,3m
2
,
thuộc một phần thửa 564, tờ bản đồ số 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000096 do ông Đinh Ngọc Ẩ đứng tên chủ dụng.
3.2. Đình chỉ xét xử đối với phần đất tranh chấp tại vị trí số (2) phiếu đo đạc
chỉnh thửa đất ngày 28/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
C diện tích 224,9m
2
, thuộc một phần thửa 563, tbản đồ số 02, loại đất CLN giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000096 do ông Đinh Ngọc đứng tên chủ sử
dụng.
3.3. Công nhận cho ông Ngô Thanh L2 được quyền sở hữu hợp pháp phần
đất tranh chấp số 1 theo mãnh trích đo địa chính số 137 2024 ngày 02/12/2024
của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C diện tích 5.122,7m
2
thuộc
thửa 566 loại đất CLN, tờ bản đồ số 05C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
000096 do ông Đinh Ngọc Ẩ đứng tên chủ sử dụng.
(Kèm theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện C ghi ngày 28/3/2025 Mãnh trích đo địa chính số 137-2024 được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 02/12/2024).
Ông Ngô Thanh L2 được quyền liên hệ cơ quan thẩm quyền đthực hiện
việc đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn B Một
Ghi nhận sự tự nguyện tại phiên tòa của ông Đinh Ngọc , Phạm Thị P
(có đại diện Dương Thị Phương L) đồng ý công nhận hợp đồng chuyển nhượng
“Tờ sang đất vĩnh viễn” cho ông Nguyễn Văn B Một được quyền sử dụng hợp
pháp phần đất diện tích 3.307,7m
2
, thửa 566, tờ bản đồ số 02, loại đất CLN
thuộc giấy chứng nhận quyền sdụng đất số 000096 do ông Đinh Ngọc đứng
tên chủ sử dụng.
(Kèm theo phiếu đo đạc chỉnh thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện C ghi ngày 28/3/2025).
Ông Nguyễn Văn M được quyền liên hquan thẩm quyền để thực
hiện việc đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
II. Sửa một phần bản án sơ thẩm: Giải quyết về giao dân sự giữa bà Phạm
Thị P với bà Lê Thị T về hợp đồng cho vay tài sản, cụ thể như sau:
12
Buộc bà Lê Thị Thu thanh T3 cho bà Phạm Thị P tổng số tiền 1.198.944.444
đồng (Một tỷ, một trăm chín mươi tám triệu, bốn trăm bốn mươi bốn đồng), gồm:
Tiền gốc: 700.000.000 đồng(Bảy trăm triệu đồng); Tiền lãi: 498.944.444 đồng
(Bốn trăm chín mươi tám triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi
bốn đồng).
Kể từ ngày bà Phạm Thị P có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lê Thị T chậm
trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự 2015.
III. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Chi phí ttụng: Giữ nguyên phần quyết định của bản án thẩm vchi phí
tố tụng.
Án phí:
3.1. Buộc nguyên đơn Phạm Thị P phải chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn
đồng). Chuyển số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) Phạm Thị P đã nộp tạm
ứng án phí theo biên lai thu số 0004470 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí, bà Phạm Thị P còn phải
nộp thêm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
3.2. Miễn án phí cho ông Đinh Ngọc , Trần Thị Đ do người cao tuổi
đơn xin miễn.
3.3. Ông Ngô Thanh L2 được nhận lại 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng)
đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004651 ngày 08/7/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (nhận tại Thi hành án
dân sự thành phố C).
3.4. Ông Nguyễn Văn M được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004650 ngày 08/7/2024 của Chi
cục Thì hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang (nhận tại Thi hành án dân sự
thành phố C).
3.5 Thị T phải chịu 47.968.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, chín trăm
sáu mươi tám nghìn đồng)
IV. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Phạm Thị P được
nhận lại 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0006399 ngày 08/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT; (Đã ký)
- TAND khu vực 14 – Cần Thơ;
13
- Phòng THADS khu vực 14 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất