Bản án số 631/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 631/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 631/2026/DS-PT ngày 24/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 631/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 631/2026/DS-PT Bản án số 631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 631/2026/DS-PT Bản án số 631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 631/2026/DS-PT
Ngày: 24-7-2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Tính.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng;
Ông Nguyễn Chí Dững;
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 24 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 364/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 6 năm 2026 về việc tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1164/2026/QĐ-PT
ngày 16 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố
D, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Duy M, sinh năm
1976. Địa chỉ: A N, Khu phố A, phường L, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
2. Bị đơn: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số A N,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1987. Địa
chỉ: Khu phố G, phường G, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bđơn: Luật Nguyễn N
Công ty L3 (có mặt).
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Kiều H2, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số F T, khu phố D,
phường L, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Khu phố L, phường S, tỉnh Đồng Tháp (có
mặt).
3.2. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ.
Đại diện theo pháp luật: Ông L - Giám đốc. Địa chỉ: Q, khu phố T,
phường T, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).
3.3. Văn Phòng C1. Địa chỉ: Số A N, khu phố H, phường S, tỉnh Đồng
Tháp. Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Phú M1 - Trưởng Văn phòng (xin vắng
mặt).
3.4. Ông Nguyễn Thành M2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu phố M, phường
S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.5. Nguyễn Thị Xuân L1, sinh năm 1966. Địa chỉ: p A, X, tỉnh
Đồng Tháp (vắng mặt).
3.6. Ông Nguyễn Quốc Â, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu phố L, phường S,
tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.7. Ông Nguyễn Trọng H3, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu phố L, phường
S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.8. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khu phố L, phường S,
tỉnh Đồng Tháp.
3.9. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố L, phường S, tỉnh
Đồng Tháp.
3.10. Anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu phố L, phường S,
tỉnh Đồng Tháp.
3.11. Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố L, phường
S, tỉnh Đồng Tháp.
3.12. Chị Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố N, phường
S, tỉnh Đồng Tháp.
3.13. Anh Nguyễn Trọng H4, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố M,
phường S, tỉnh Đồng Tháp.
3.14. Chị Nguyễn Thụy Sanh D, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu phố M,
phường S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị G, Nguyễn Thanh B,
Nguyễn Xuân V, Nguyễn Trọng N1, Nguyễn Hoàng N2, Nguyễn Trọng H4,
Nguyễn Thụy Sanh D: Ông Phạm Duy M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A, N,
khu phố A, phường L, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
3.15. Chị Liễu Thùy D1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số D, P, phường
P, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
3
3.16. Ông Liễu Hồng P, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu phố N, phường S,
tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của ông P: Huỳnh Thị H1, sinh năm 1987. Địa
chỉ: Khu phố G, phường G, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
3.17. Ông Phạm Văn P1 (M2), sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu phố N,
phường S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.18. Nguyễn Thị Minh N3, sinh m 1936. Địa chỉ: Khu phố L,
phường S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.19. Ông Nguyễn Hữu P2, sinh năm 1965. Địa chỉ: Khu phố L, phường S,
tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.20. Bà Nguyễn Thị Mai H5, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố L,
phường S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.21. Bà Nguyễn Thị Mai H6, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu phố L,
phường S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.22. Bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu phố L, phường
S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.23. Ông Nguyễn Xuân V1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu phố L, phường
S, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
3.24. Trung Tâm Cung ứng dịch vụ ng phường S, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành T2 Giám đốc. Địa chỉ: Khu phố
H phường S tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
4Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H, người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H đại diện theo ủy quyền là ông
Phạm Duy M trình bày: Năm 1997, bà Nguyễn Thị C đại diện hộ gia đình được
Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00034
ngày 07 tháng 9 năm 1997 với diện tích 17.409m
2
gồm các thửa 83, 85, 200,
202, 203, 367, 368, 1197, tờ bản đồ BD-C1. Địa chỉ c thửa đất: Ấp L, B,
thị G nay khu phố L, phường S, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 24 tháng 8 năm
2004, C đại diện hộ gia đình được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 00549 đối với thửa 206 với diện tích 3.445m
2
, tờ bản
đồ BD-C1.
Ngày 04 tháng 9 năm 2018, C, H2, ông Â, ông H3 t ý chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 367, 1197 và 206 với diện tích 13.351m
2
cho
Nguyễn Thị Phương T với số tiền 737.765.000 đồng.
Sau đó gia đình phát hiện và bà H có gặp bà T để trao đổi hủy hợp đồng, trả
bà T tiền thì không được bà T đồng ý.
4
Với các căn cứ sau:
Đất cấp cho hộ các thành viên trong hộ gồm H, ông O, H1, bà G,
anh V, anh H5, chị N2, chị D không đồng ý sang nhượng, không biết về việc
sang nhượng, hộ 13 thành viên năm 1997 năm 2004 hộ 08 thành viên.
Năm 2018, bà H1 chết, bà H1 là thành viên hộ và hoàn toàn không có bất kỳ thủ
tục nào để thể hiện khai hàng thừa kế của H1. C không tên vào
đơn xin xác nhận thành viên hộ chữ Chính đó không phù hợp với chữ
của C. T người trực tiếp làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất
không được sự đồng ý của tất cả thành viên hộ nên ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của họ;
Hợp đồng chuyển nhượng đã sai từ gốc ban đầu thì không được xem là hợp
pháp để cho rằng việc chị D1 đứng tên quyền sử dụng đất người hợp pháp
ngay tình.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24 tháng 8 năm
2004 giữa Nguyễn ThC, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông
Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T;
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 296 (Thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531 (Thửa cũ 367), thửa đất
129 (Thửa 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07 tháng 9 năm 1997
giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn
Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T;
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05642, CS05643, CS05644,
CS05645 với diện tích 13.351m
2
do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh G cấp
ngày 18 tháng 9 năm 2018 cho T đứng tên;
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06244, CS06245, CS06247,
CS06246 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 18 tháng 6 năm 2019
cho chị L2 Thùy Dung đứng tên.
Bà H sẽ hoàn trả cho bà T số tiền 737.765.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày
nhận tiền ký hợp đồng đến ngày xét xử với lãi suất do Nhà nước quy định.
* Bị đơn Nguyễn Thị Phương T đại diện theo ủy quyền Huỳnh
Thị H1 trình bày: Vào năm 2018, ông Phạm Văn P1 tự M2 m đến T
ông Liễu Hồng P, ông M2 cho biết hộ gia đình Nguyễn Thị C vay tiền của
ngân hàng nhưng không khả năng thanh toán tiền vay lãi nên hộ gia đình
C muốn bán một phần tài sản đang thế chấp tại ngân hàng để thanh toán nợ
cho ngân hàng, phần còn lại lấy về đề gia đình C quản sử dụng. Do đó,
5
ngày 09/5/2018, ông M2 đồng ý đặt cọc 150.000.000 đồng để mua 02 thửa đất
của hộ bà C với diện tích tạm tính như sau:
Thửa thứ nhất: 8.848m² giá 50.000.000 đồng/1.000m²; Thửa thứ hai:
6.000m² với giá 65.000.000 đồng/1.000m²; Tổng diện tích 02 thửa là: 14.848m²;
Theo giấy biên nhận giao tiền cọc ngày 09/5/2018, người giao tiền ông
Phạm Văn M3, người nhận tiền là bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Kiều H2 và ông
Nguyễn Quốc Â.
Hai bên thỏa thuận: Trong vòng 07 ngày kể từ ngày đặt cọc sẽ giao số tiền
còn lại khi địa chính đo đạc tính theo diện tích hiện tại. Nếu bên mua đổi ý
không mua sẽ mất cọc bên bán không bán nữa sđền gấp đôi số tiền cọc đã
nhận:
Sau khi đặt cọc xong, ông M3 gặp khó khăn trong việc chuẩn bị tiền, ông
biết ông không khả năng thanh toán số tiền còn lại lo svviệc sẽ mất
luôn số tiền đã đặt cọc nên ông M3 muốn chuyển nhượng tiền cọc đó qua cho bà
T để tiếp tục thực hiện giao dịch chuyển nhượng 02 thửa đất đó với hộ C.
Sau đó T, ông M3, ông P đã gặp m việc trực tiếp với gia đình C gồm
bà C, H2, ông Â, ông H3 để xác nhận lại việc gia đình C đồng ý cho
chuyển tiền cọc và đổi tên người mua từ ông M3 qua bà.
Ngày 16/5/2018, T và ông M3 đi cùng C, H2, ông H3 đến ngân
hàng. Tại đây, T đã giao số tiền 650.000.000 đồng cho hộ C để hộ C
thanh toán tiền gốc, lãi cho ngân hàng và nhận lại quyền sử dụng đất đã thế chấp
về làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T theo đúng thỏa thuận.
Sau đó, quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất h C T đã
được thực hiện theo đúng thủ tục luật định: Đã đăng đo đạc đất để xác định
cụ thể phần đất mà hộ bà C đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bà (có bản vẽ hiện
trạng các thửa đất chuyển nhượng);
Sau gần 04 tháng thực hiện thủ tục đo đạc thì mới có bản vẽ, sau khi có bản
vẽ thì ngày 04/9/2018, hai bên đã tiến hành thủ tục kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại Văn phòng C1 đối với 04 thửa đất
gồm thửa đất 403 (thửa cũ 206), thửa đất 296 (thửa cũ 83), thửa đất 531 (thửa
367) và thửa đất 129 (thửa cũ 368), có làm giấy giao nhận tiền chuyển nhượng là
800.000.000 đồng với tổng diện tích chuyển nhượng là 13.351m² (gồm 04 thửa).
Hộ C đã bàn giao đất cho ngay sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển
nhượng.
Ngày 18/9/2018, T đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất đối với 04 thửa đất nêu trên theo giấy chứng nhận số CS05642, CS05643,
CS05644, CS05645.
Năm 2019, do nhu cầu cần vốn làm ăn kinh doanh n T đã sang
nhượng lại 04 thửa đất trên cho chị Liễu Thùy D1. Ngày 28/5/2019, bà T chị
D1 đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, bàn giao đất. Ngày 18/6/2019, chị Liễu
6
Thùy D1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất
nêu trên. T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị
Ngọc H vì các lý do sau:
Nguồn gốc của các thửa đất tranh chấp gồm thửa 403 (thửa 206) theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00549/LH.QSDĐ do Ủy ban nhân dân
huyện G cấp ngày 24/8/2004 thửa 296 (số thửa 83), thửa 531 (số thửa
cũ là 367), thửa 129 (số thửa cũ là 368) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00034/LH.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 7/9/1997 quyền
sử dụng đất của cá nhân bà Nguyễn Thị C;
Bên cạnh đó, các con bà C H2, ông Â, ông H3 cũng đã tự nguyện
vào văn bản, hợp đồng chuyển nhượng, việc đo đạc, nhận tiền cọc, hợp đồng
chuyển nhượng diễn ra một thời gian dài;
Nguyễn Thị Ngọc H những thành viên khác không bất cứ ý kiến
hay phản đối hay cho rằng quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong suốt
quá trình 12 năm C bảo lãnh khoản vay cho ông H3 sau đó C là người
vay thế chấp ngân hàng đối với hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kể trên
tại Ngân hàng nghiệp triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh T. Quá
trình vay suốt 12 năm, qua nhiều đợt vay không thấy H những người liên
quan có ý kiến, cùng trả nợ.
Năm 2018, khi C không n khả năng trả nợ ngân hàng, các thửa đất
trong hai giấy chứng nhận kể trên (bao gồm 4 thửa hiện đang tranh chấp với
còn lại 2.330m² “trong đó 288m² đất nông thôn" của các thửa 200,
203 và thửa 1197) là toàn bộ tài sản thế chấp cho khoản vay của bà C sẽ bị ngân
hàng bán hết, để xử thu hồi nợ. Một lần nữa H cũng không ý kiến, cũng
không khiếu nại, cũng không kiện thưa gì, cũng không đứng ra trả nợ.
Quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà hộ C đã được
thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Quá trình chuyển
nhượng đã diễn ra công khai, kéo dài hơn 05 tháng mà Nguyễn Thị Ngọc H
hoàn toàn không có bất kỳ ý kiến phản đối hay tranh chấp gì.
Nguyên đơn bà H chỉ dựa vào duy nhất một lý do là thiếu thành viên không
tên chuyển nhượng là khởi kiện yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng
không thỏa đáng, không có cơ sở để được chấp nhận. Bởi lẽ:
Trong trường hợp thiếu thành viên là lỗi hoàn toàn từ phía hộ bà C gian dối
không khai báo chứ không phải lỗi của bà. Hộ gia đình C thì C các
thành viên trong hộ mới biết buộc phải biết bao nhiều người con
hộ bao nhiêu người, còn bà T chỉ người ngoài, không quen không biết
một ai trong gia đình C nên biết hộ C gồm những ai, bao nhiêu thành
viên.... Do đó, lỗi do hộ C cố tình không trung thực, khai gian, khai thiếu,
nhưng nguyên đơn lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận, trả lại số tiền: 737.765.000
đồng và tiền lãi cho bà T thì bà T không đồng ý.
Việc nhận tiền, bàn giao đất, cơ quan nhà nước đã cấp giấy chứng nhận cho
bà T và bà T đã chuyển nhượng cho người khác là đúng trình tự thủ tục theo quy
7
định pháp luật.
Hộ C đã nhận tiền chuyển nhượng đất được sử dụng vào nhu cầu, mục
đích chung cho cả hộ gia đình bà C, dù có thành viên không ký tên nhưng những
thành viên đó cũng đã gián tiếp sử dụng tiền chuyển nhượng quyền sdụng đất
từ T. Như vậy yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của T
không thỏa đáng.
Căn cứ toàn bộ quá trình giao dịch thực tế cho thấy: Số tiền bà chuyển cho
hộ C dùng để thanh toán các khoản vay của hộ C với ngân hàng nhận
lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp trước đó và đó cũng là
toàn bộ tài sản của C hộ C, nhờ khoản tiền của chuyển kịp thời
cho hộ C nên đến thời điểm hiện tại hộ C mới còn 2.330đất thuộc các
thửa đất 200, thửa đất 203, thửa đất 1197 01 căn nhà nhưng trên thực tế
một dãy nhà nghỉ B1 Nhà Nghỉ K" (trong đó 288m² đất ONT, đất giá trị
nhất) để chia thừa kế do hiện nay C đã mất. Một lần nữa, người hưởng lợi
bà C và hộ bà C (trong đó có các con bà C mà cụ thể là có bà H và bà H2,...). Từ
các sở nêu trên cho thấy việc thiếu thành viên không tên không làm thay
đổi bản chất của giao dịch, mục đích giao dịch.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập Nguyễn
Kiều H2 trình bày: Năm 2018, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không
tiền để trả nợ Ngân hàng nên mẹ bà, bà, ông Â, ông H3 thống nhất sang
nhượng đất nêu trên cho T với số tiền 800.000.000 đồng, gia đình nhận
tiền xong thì cho ông  130.000.000 đồng, còn lại trả nợ Ngân hàng bị thiếu
nên sang nhượng thêm 01 căn nhà cho người khác mới đủ trả nợ;
Tổng diện tích đất hộ gia đình được cấp là 20.854m
2
, năm 2004 đã
chuyển nhượng cho ông Dương Hoàng D2, diện tích 4.959m
2
, hộ thống nhất,
không ý kiến gì. Ngoài ra, hộ bà không còn thửa đất nào khác.
Thửa đất 206, diện tích 3.445m
2
trước đây C tặng cho ông B trước khi
được cấp giấy nên năm 1997 hộ ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất lần đầu. Sau đó, C thấy gia đình ông B trên thửa đất này làm ăn không
được nên kêu ông B đổi lại đất ra chỗ khác để sinh sống nên năm 2004 hộ ông B
mới chuyển nhượng trả lại thửa đất 206 cho C, không nhận tiền gì, còn
do gì bà C đại diện hộ đứng tên, bà không biết.
Bà là người trực tiếp đến Văn phòng C1 để ký tên sang nhượng, phần bà ký
tên đồng ý sang nhượng thì không ý kiến nhưng khi phát sinh tranh chấp
thì bà thay đổi ý kiến và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như sau:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003420 ngày 28 tháng
5 năm 2019 của Văn phòng C1 giữa chị Nguyễn Thị Phương T, anh Liễu Hồng
P với chị Liễu Thùy D1;
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06244 (thửa đất 296),
CS06245 (thửa đất 129), CS06247 (thửa đất 531), CS06246 (thửa đất 403) do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 18 tháng 6 năm 2019 cho chị L2
Thùy Dung đứng tên;
8
H2 đồng ý cùng các thành viên còn lại trong hộ trả cho T stiền
737.765.000 đồng.
Ngày 27/10/2025, bà H2 khởi kiện độc lập bổ sung yêu cầu:
Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC- SCC/ HĐGD ngày 04/9/2018 của Văn phòng C1 đối với thửa đất số
403 (thửa 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00549/LH.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24/8/2004 giữa
Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn Trọng
H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC- SCC/ HĐGD ngày 04/9/2018 của Văn phòng C1 đối với thửa đất số
296 (thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất số 531 (thửa cũ 367); thửa đất số 129
(thửa 368), tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00034/LH.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07/09/1997 giữa bà
Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông Trọng H3 với bà
Nguyễn Thị Phương T.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05642, CS05643, CS05644,
CS05645 với diện tích 13.351m
2
Ủy ban nhân dân thị xã G cấp ngày
18/9/2018 cho bà T đứng tên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Liễu Thùy D1 trình bày:
Chị D1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của H H2 chị D1
người thứ ba sang nhượng ngay tình, hợp pháp. Chị nhận chuyển nhượng các
thửa đất năm 2019, thời điểm chị nhận chuyển nhượng không biết các thửa đất
tranh chấp. Mặc chị là em ruột của ông Liễu Hồng P, chị T chị dâu của chị
nhưng chị mua đúng quy định, pháp luật không cấm anh, chị em được quyền
mua đất của nhau. Chị cũng đã đến Chi nhánh n phòng đăng đất đai kiểm
tra biết được đất không tranh chấp. Việc vay ngân hàng của gia đình C
diễn ra trong thời gian dài, H2 tên nhận tiền chuyển nhượng lại cho rằng
không nhận tiền không đúng. Khi vay ngân cũng 04 người tên. Chị
Phương T mua đất cũng 04 người ký. Nay lại thấy giá thị trường cao lại đi khởi
kiện. Chị nhận chuyển nhượng 04 thửa đất trên giá 2.000.000.000 đồng. Nếu
hủy hợp đồng thì chị không yêu cầu giải quyết hậu quả, chị sẽ thỏa thuận với
T và ông P.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị H1 trình bày:
Thống nhất cùng lời trình bày của bị đơn Nguyễn Thị Phương T.
* Theo bản tự khai của Nguyễn Thị G, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Xuân
V, Nguyễn Trọng N1, Nguyễn Hoàng N2, Nguyễn Trọng H4, Nguyễn Thụy
Sanh D trong quá trình tố tụng đại diện người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Phạm Duy M trình bày: Thống nhất ý kiến của H.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn O, ông Nguyễn
Thành M2, Nguyễn Thị Xuân L1 trình bày: Quyền sử dụng đất cấp cho hộ
9
ch04 thành viên hộ ký tên sang nhượng nên trước yêu cầu khởi kiện của
bà H, tất cả thống nhất ý kiến của bà H.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn
Trọng H3 trình bày: Do hoàn cảnh khó khăn túng quẩn nên chuyển nhượng đất
cho T với giá hời không thông qua hết thành viên hnay đnghị Tòa
án xét xử theo pháp luật.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn P1 trình bày:
Ông với anh Nguyễn Trọng H3 bạn quen thân với nhau. Trước đây, gia
đình anh H3 thể chấp đất đai cho hàng A chi nhánh T để vay tiền. Sau đó,
gia đình không ai có khả năng bỏ tiền ra chi trả khoản nợ cho ngân hàng cho nên
gia đình ông H3, H2, C, ông  kêu ông bán đất. Ông đặt cọc số tiền
150.000.000 đồng (Một trăm m mươi triệu đồng), có ký giấy nhận tiền.
Nhưng sau đó, ông không khả năng mua, nên ông giới thiệu cho
Nguyễn Thị Phương T mua.
Sau đó, ông và bà T đem số tiền 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi
triệu đồng ) cùng hộ gia đình ông H3 lên hàng A chi nhánh T trả nợ ngân hàng
cho gia đình C, ông H3 và chuộc sổ đất về.
Sau khi chuộc sổ về thì hộ gia đình C, ông H3, H2, ông  T
cùng ra phòng ng chứng thực hiện thủ tục mua bán theo quy định nước. Ông
đã nhận lại đsố tiền đặt cọc 150.000.000 đồng từ T, nên trong ván này
ông không có yêu cầu gì. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt
quá trình giải quyết vụ án cho đến khi vụ án được xét xử xong ở cấp thẩm
phúc thẩm nếu có đương sự kháng cáo.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh N3, ông
Nguyễn Hữu P2, Nguyễn Thị Mai H5, Nguyễn Thị Mai H6, bà Nguyễn
Thị Mai T1, ông Nguyễn Xuân V1 cùng trình bày: N4 vợ sau của ông O.
Các ông bà là con bà N4 và ông O, không ý kiến hay yêu cầu gì.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ
phần Á trình bày: Hiện nay Chị Nguyễn Thị Phương T anh Liễu Hồng P trả
nợ xong nên Ngân hàng không ý kiến hay yêu cầu gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Nông nghiệp và Môi trường
tỉnh Đ trình bày: Về trình tự, thủ tục giải quyết hồ chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ hộ Nguyễn Thị C sang bà Nguyễn Thị Phương T, từ Nguyễn Thị
Phương T, ông Liễu Hồng P sang chị Liễu Thùy D1 đúng trình tự, thủ tục quy
định.
* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị Phương T
trình bày: Theo bản án dân sự thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Công, tỉnh Tiền Giang hiệu lực pháp luật xác
định các thửa đất 200, tờ bản đồ BD-C1, diện tích 189 m², đất Q; Thửa đất 203,
tờ bản đồ BD-C1, diện tích 1.438m²; Thửa đất 1197, tờ bản đồ BD-C1, diện tích
703 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00034/LH ngày 7/9/1997là
của cụ C, không phải của vợ chồng cụ C không phải đất hộ nên các thửa
10
đất 296 (Thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531 (Thửa cũ 367), thửa đất 129
(Thửa 368) được cụ C đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng
thời điểm cùng chung đơn đăng ký với các thửa đất 200,thửa đất 203, thửa
đất 1197 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00034/LH ngày 7/9/1997,
chứng tỏ nguồn gốc các thửa đất 296, tờ bản đồ số 04; thửa đất 531, thửa đất
129 cũng là của cụ C, không phải của vợ chồng cụ C không phải đất hộ.
Đối với thửa đất 403, thời điểm hông B tặng cho C tặng cho nhân
C nên ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là con giao lại mẹ,
không có tiền và người ký nhận chuyển nhượng là cá nhân bà C nên đề nghị Hội
đồng xét xkhông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị
Ngọc H không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập, độc lập bsung của
Nguyễn Kiều H2.
* Bản án dân sự thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp đã quyết định: Căn cứ Điều 500,
Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật
tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24 tháng 8 năm
2004 giữa Nguyễn ThC, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông
Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T;
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 296 (Thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531 (Thửa cũ 367), thửa đất
129 (Thửa 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07 tháng 9 năm 1997
giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn
Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T;
1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05642 thửa
đất số 129, Giấy chứng nhận svào sCS05643 thửa đất số 296, Giấy chứng
nhận số vào sổ CS05644 thửa đất số 403 và Giấy chứng nhận số vào sổ
CS05645 thửa đất số 531 ngày 18/9/2018 Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất với tổng diện tích 13.351m
2
cho bà Nguyễn Thị Phương T.
11
1.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06244 thửa đất số
296, Giấy chứng nhận svào sổ CS06245 thửa đất số 129, Giấy chứng nhận s
vào sổ CS06246 thửa đất số 403 Giấy chứng nhận số vào sCS06247 thửa
đất số 531 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 18 tháng 6 năm
2019 cho chị Liễu Thùy D1.
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số 004361, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của
Văn phòng C1 đối với thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp
ngày 24 tháng 8 năm 2004 giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông
Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của bà
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số 004361, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của
Văn phòng C1 đối với thửa đất 296 (Thửa 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531
(Thửa 367), thửa đất 129 (Thửa 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày
07 tháng 9 năm 1997 giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn
Quốc Â, ông Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T;
2.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của bà
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ CS05642 thửa đất số 129, Giấy chứng nhận số vào sổ CS05643 thửa
đất số 296, Giấy chứng nhận số vào sổ CS05644 thửa đất số 403 Giấy chứng
nhận số vào sổ CS05645 thửa đất số 531 ngày 18/9/2018 Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu n
tài sản khác gắn liền với đất, tổng diện tích 13.351m
2
cho Nguyễn Thị
Phương T.
2.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số 003420 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của n phòng C1 giữa Nguyễn
Thị Phương T, anh Liễu Hồng P với chị Liễu Thùy D1;
2.5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của bà
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CS06244 thửa đất số 296, Giấy chứng nhận số vào sổ CS06245 thửa đất số
129, Giấy chứng nhận số vào sổ CS06246 thửa đất số 403 Giấy chứng nhận
số vào sổ CS06247 thửa đất số 531 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp
ngày 18 tháng 6 năm 2019 cho chị Liễu Thùy D1.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí,
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
12
Ngày 19 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kiều H2 kháng cáo bản án thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Nguyễn Kiều H2 yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa bà Nguyễn Thị Phương TLiễu Thùy D1. Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Phạm Duy M tranh luận:
Nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo.Các
phần đất chuyển nhượng đang tranh chấp cấp cho hộ bà Nguyễn Thị C, vào năm
1997 thành viên trong hộ C có 13 thành viên, vào năm 2004 thành viên hộ bà
C 08 thành viên. Trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 04.9.2018 giữa hộ
C Nguyễn Thị Phương T chỉ bốn thành viên gồm C, ông Â, ông H3
H2 ký. Các thành viên trong hộbà C còn lại gồm H, ông , H1, G,
anh V, anh H5, chị N2, chị D không đồng ý sang nhượng, không biết về việc
sang nhượng. Bà C là người trực tiếp làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất mà
không được sự đồng ý của tất c thành viên hộ nên ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của họ nên hợp đồng trên bị vô hiệu. Do hợp đồng chuyển nhượng từ hộ bà
C sang T hiệu nên việc T chuyển nhượng cho Liễu Thùy D1 em
ruột của ông Liễu Hồng P (chồng bà T) là không khách quan, không thể xem bà
D1 là người thứ ba ngay tình trong giao dịch chuyển nhượng nêu trên. Tất cả các
thành viên trong hộ bà C từ trước đến nay đều không thừa nhận các thửa đất cấp
cho hộ Nguyễn Thị C tài sản nhân của bà C. Từ các căn cứ nêu trên, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị
Ngọc H, sửa bản án dân sự thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà H.
Luật Nguyễn N bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Nguyễn
Thị Phương T trình bày: Theo bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày
20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Công, tỉnh Tiền Giang hiệu
lực pháp luật xác định các thửa đất 200, tờ bản đồ BD-C1, diện tích 189 m², đất
Q; Thửa đất 203, tờ bản đồ BD-C1, diện tích 1.438m²; Thửa đất 1197, tờ bản đồ
BD-C1, diện tích 703 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00034/LH ngày 7/9/1997là của nhân cụ C, không phải của vợ chồng cụ C
không phải đất hộ nên các thửa đất 296 (Thửa 83), tờ bản đồ số 04; thửa
đất 531 (Thửa cũ 367), thửa đất 129 (Thửa cũ 368) được cụ C đăng cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời điểm cùng chung đơn đăng với
các thửa đất 200, thửa đất 203, thửa đất 1197 thuộc giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 00034/LH ngày 7/9/1997, chứng tỏ nguồn gốc các thửa đất 296, tờ
bản đồ số 04; thửa đất 531, thửa đất 129 cũng là của nhân cụ C. Đối với thửa
đất 403, thời điểm hông B tặng cho C tặng cho nhân C. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H
13
H2, giữ y án sơ thẩm.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Huỳnh Thị H1 tranh luận: Tôi
nhất với ý kiến của luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho T. Tôi bổ
sung thêm một căn cứ lúc T chuyển nhượng phần đất tranh chấp đang được
hộ cụ C thế chấp vay Ngân hàng và toàn bsố tiền chuyển nhượng dùng vào
việc trả khoản nợ vay chung của hộ nên việc các thành viên còn lại trong hộ
không ký hợp đồng chuyển nhượng không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Khi
cụ C chết các con yêu cầu chia thừa kế đều khẳng định tuy đất cho hộ nhưng
tài sản cá nhân của cụ C.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều H2 tranh luận: Tôi
vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, tôi thống nhất với ý kiến của ông Phạm Duy M
đại diện cho bà H đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn
phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 148, Khoản 1 Điều
308 Bộ luật tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Kiều H2.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 140/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3
năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem t tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Cấp thẩm xác định quan hpháp
luật trong vụ án tranh chấp dân sự về “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” là có căn cứ.
[2]. Xét thời hạn kháng cáo: Ngày 16 tháng 03 năm 2026, Toà án nhân Khu
vực 2 - Đồng Tháp ban nh Bản án dân sự thẩm số 140/2026/DS-ST, đến
ngày 19 tháng 3 m 2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kiều H2 đơn kháng cáo. Như vậy,
kháng cáo của H H2 còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét.
[3]. Xét nội dung kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu Hội đồng xét
xử sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà như sau:
14
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24 tháng 8 năm
2004 giữa Nguyễn ThC, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông
Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 296 (Thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531 (Thửa cũ 367), thửa đất
129 (Thửa 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07 tháng 9 năm 1997
giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn
Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
[3.1]. Về hình thức: Cả hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nêu trên được lập thành văn bản đã được công chứng tại Tổ chức hành nghề
công chứng có thẩm quyền nên đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[3.2]. Về nội :
[3.2.1]. Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Cụ Nguyễn Thị C đại diện hộ đứng tên các thửa đất: Thửa đất 85, diện tích
1.256m
2
, đất lúa; thửa đất 200, diện tích 189m
2
, đất quả; thửa đất 202, diện tích
1.343m
2
, đất lúa; thửa đất 203, diện tích 1.438m
2
, đất lúa; thửa đất 1197, diện
ch 703m
2
, đất thổ + quả (thổ cư là 288m
2
); thửa đất 367, diện tích 8.884m
2
, đất
lúa; thửa đất 368, diện tích 464m
2
, đất quả; thửa đất 83, diện tích 3132m
2
, đất
quả, tờ bản đồ BD-C1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00034/LH QSDĐ
do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07/9/1997 cho hộ Nguyễn Thị C.
Tổng diện tích đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị C năm 1997 là 17.409m
2
.
Theo bản án dân sự thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Công, tỉnh Tiền Giang đã có hiệu lực pháp luật đã
nhận định: Xét nguồn gốc các thửa đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 00034/LH.QSDD ngày 07 tháng 9 năm 1997 mặc được cấp
cho hộ gia đình nhưng những người con của cụ C đều xác định đây đất của
ông nội (cha mẹ chồng của cụ C) cho cụ C. Trong đơn đăng cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/4/1997 do cụ Nguyễn Thị C đứng tên,
trong mục tên chồng ghi Nguyễn Quốc Â. Tại Công văn số 334/UBND ngày
20/11/2003 của Ủy ban nhân dân B xác định ông  con trai của cụ C
không phải là chồng. Do đó, đất này được xác định là của cụ C, không phải của
vợ chồng cụ C không phải đất hộ”. Trong ván này, các đương sự xác
định các thửa đất tranh chấp di sản Chính chết để lại tuy cấp cho hộ nhưng là
tài sản nhân của cụ C, Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu chia đất trong hộ
cũng không được chấp nhận nhưng bà không kháng cáo thể hiện thừa
nhận các thửa đất trên là tài sản cá nhân của cụ C.
15
Thửa đất 206, diện tích 3.445m
2
, đất lúa, tbản đồ BD-C1, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 00549/LH QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp
ngày 24/8/2004 cho hộ Nguyễn Thị C. Đối với thửa đất 403 (Thửa 206),
cấp đất ngày 24 tháng 8 năm 2004, ghi là con giao lại mẹ không có tiền, mặc
khi cấp đất cho cụ C cấp hộ, Tòa án cấp thẩm đã văn bản gửi Ủy ban
nhân dân phường S cung cấp do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thể hiện tặng cá nhân cụ C nhưng khi cấp đất lại cấp hộ thì Ủy ban trả lời do
không lưu trữ hồ nên không biết. Quá trình giải quyết, hộ ông B thừa nhận
tặng thửa đất 206 cho cụ C không phải chuyển nhượng, theo h cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện nguồn gốc do hộ ông Nguyễn Thanh B
tặng cho cụ C, nội dung ghi là con giao lại mẹ không tiền đã thể hiện hộ ông
B chỉ tặng cho nhân cC không tặng cho hộ cC, nên trong hợp đồng ghi
bên nhận chuyển nhượng là cụ Nguyễn Thị C và ghi nội dung là con giao lại mẹ.
[3.2.2]. Quá trình sử dụng đất:
Tổng diện tích của hộ C được cấp năm 1997 năm 2004 20.854m².
Ngày 17/3/2004: Hộ C đồng ý chuyển nhượng cho ông ơng Hoàng D2
tổng diện tích 4.959m² gồm trọn thửa đất 85, diện tích 1.256m², đất lúa; thửa đất
202, diện tích 1.343m², đất lúa và một phần thửa đất 83, diện tích 2890m² (trong
tổng diện tích 3.132m), đất quả, tờ bản đồ BD-C1, giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số 00034/LH do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07/9/1997 cho hộ
Nguyễn Thị C.
Như vậy, diện tích còn lại của hộ C 12.450m², theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 00034/ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07/9/1997
cho bà Nguyễn Thị C + Thửa đất 206, diện tích 3.445m², tổng là 15.895m².
Ngày 16/5/2018, T và ông M2 đi cùng C, H2, ông H3 đến ngân
hàng. Tại đây, bà T đã giao số tiền 650.000.000 đồng cho hộ C để hộ C
thanh toán tiền gốc, lãi cho ngân hàng và nhận lại quyền sử dụng đất đã thế chấp
về làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T theo đúng thỏa thuận.
Sau đó, quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất h C T đã
được thực hiện theo đúng thủ tục luật định: Đã đăng đo đạc đất để xác định
cụ thể phần đất mà hộ bà C đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bà (có bản vẽ hiện
trạng các thửa đất chuyển nhượng). Sau gần 04 tháng thực hiện thủ tục đo đạc
thì mới có bản vẽ, sau khi có bản vẽ thì ngày 04/9/2018, hai bên đã tiến hành thủ
tục kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại n
phòng C1 đối với 04 thửa đất gồm thửa đất 403 (thửa 206), thửa đất 296
(thửa 83), thửa đất 531 (thửa 367) thửa đất 129 (thửa 368), làm
giấy giao nhận tiền chuyển nhượng 800.000.000 đồng với tổng diện tích
chuyển nhượng 13.351m² (gồm 04 thửa). Hộ bà C đã bàn giao đất cho
ngay sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng.
Ngày 18/9/2018, T đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
16
đất đối với 04 thửa đất nêu trên theo giấy chứng nhận số CS05642, CS05643,
CS05644, CS05645.
Như vậy, hộ C chuyển nhượng đất cho T mục đích chuyển nhượng
đất để thanh toán nợ cho Ngân hàng, nợ chung của hộ gia đình nên tất cả các
thành viên trong hộ đều trách nhiệm trả nợ. Cụ C, H2, ông  ông H3
thực hiện chuyển nhượng đất cho T nhằm mang lại lợi ích chung cho hộ
gia đình không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên còn
lại trong hộ.
[3.3]. Từ phân tích nêu trên cho thấy tuy cấp đất ghi cho hộ bà Nguyễn Thị
C nhưng nguồn gốc đất đã được chứng minh của nhân cụ Nguyễn Thị C
n việc cụ C, H2, ông  ông H3 thực hiện việc chuyển nhượng các thửa
đất 403 (thửa 206), thửa đất 296 (thửa 83), thửa đất 531 (thửa 367)
thửa đất 129 (thửa 368) cho T vào ngày 04/9/2018 hoàn toàn hợp pháp.
Mặc khác, trong trường hợp này nếu đất cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị C nhưng
đất đã thế chấp Ngân hàng để vay vốn phục vụ nhu cầu thiết yếu của các thành
viên trong hộ việc chuyển nhượng đất nhằm mục đích trả nợ vay Ngân hàng
thì việc thiếu thành viên trong hộ ký hợp đồng chuyển nhượng không ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên đó nên hợp đồng vẫn phát sinh
hiệu lực.
[4]. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà H và bà H2:
Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05642 thửa đất
số 129, Giấy chứng nhận svào sổ CS05643 thửa đất số 296, Giấy chứng nhận
số vào sổ CS05644 thửa đất số 403 và Giấy chứng nhận số vào sổ CS05645 thửa
đất số 531 ngày 18/9/2018 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với
tổng diện tích 13.351m
2
cho bà Nguyễn Thị Phương T.
Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06244 thửa đất số 296,
Giấy chứng nhận số vào sổ CS06245 thửa đất số 129, Giấy chứng nhận số vào
sổ CS06246 thửa đất số 403 và Giấy chứng nhận số vào sổ CS06247 thửa đất số
531 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 18 tháng 6 năm 2019 cho
chị Liễu Thùy D1.
Như đã phân tích tại mục [3] do xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất từ cụ C, H2, ông  ông H3 đối với các thửa đất 403 (thửa
206), thửa đất 296 (thửa cũ 83), thửa đất 531 (thửa cũ 367) và thửa đất 129 (thửa
368) cho T vào ngày 04/9/2018 hoàn toàn hợp pháp. Ngày 18/9/2018,
T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất đối với 04 thửa đất
nêu trên theo giấy chứng nhận số CS05642, CS05643, CS05644, CS05645. Bà T
được cấp đất hợp pháp nên quyền của chủ sử dụng đất chuyển nhượng
các thửa đất trên cho bà L2 Thùy Dung là hoàn toàn hợp pháp nên không căn
cứ hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho D1 theo u cầu
khởi kiện của H và bà H2.
17
[5]. Nguyễn Thị Ngọc H bà Nguyễn Kiều H2 kháng cáo nhưng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không
căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo. Cấp sơ thẩm đã làm nội dung vụ án,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn H người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập H2 căn cứ nên Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[6]. Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Tháp căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận.
[7]. Ván phí dân sự phúc thẩm: H H2 không được chấp nhận
kháng cáo nên người phải chịu 300.000 đồng án phí. Bà H2 là người cao tuổi đã
đơn xin miễn tạm ứng án phí án phí nên miễn án phí cho H2. H
được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0003949 ngày 19.03.2026 của quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên
bà H đã nộp xong án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật sự năm 2015;
Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản 1 Điều 227
khoản 1 Điều 228 Bộ luật tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Uỷ ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng o của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H;
Không chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Kiều H2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 140/2026/DS-ST ngày
16 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361, quyển số
03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1 đối với
thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24 tháng 8 năm
2004 giữa Nguyễn ThC, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông
Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Ngọc H về
việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004361,
quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Văn phòng C1
đối với thửa đất 296 (Thửa cũ 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531 (Thửa 367),
thửa đất 129 (Thửa cũ 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
18
số 00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 07 tháng 9 năm
1997 giữa Nguyễn ThC, bà Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn Quốc Â, ông
Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05642 thửa
đất số 129, Giấy chứng nhận svào sCS05643 thửa đất số 296, Giấy chứng
nhận số vào sổ CS05644 thửa đất số 403 và Giấy chứng nhận số vào sổ
CS05645 thửa đất số 531 ngày 18/9/2018 Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất với tổng diện tích 13.351m
2
cho bà Nguyễn Thị Phương T.
1.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Ngọc H về việc
yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06244 thửa đất số
296, Giấy chứng nhận svào sổ CS06245 thửa đất số 129, Giấy chứng nhận s
vào sổ CS06246 thửa đất số 403 Giấy chứng nhận số vào sCS06247 thửa
đất số 531 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 18 tháng 6 năm
2019 cho chị Liễu Thùy D1.
1.5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số 004361, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của
Văn phòng C1 đối với thửa đất 403 (Thửa cũ 206), tờ bản đồ số 04, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 00549/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp
ngày 24 tháng 8 năm 2004 giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông
Nguyễn Quốc Â, ông Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
1.6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của bà
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số 004361, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 9 năm 2018 của
Văn phòng C1 đối với thửa đất 296 (Thửa 83), tờ bản đồ số 04; thửa đất 531
(Thửa 367), thửa đất 129 (Thửa 368) tờ bản đồ số 08, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 00034/LH.QSDD do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày
07 tháng 9 năm 1997 giữa Nguyễn Thị C, Nguyễn Kiều H2, ông Nguyễn
Quốc Â, ông Nguyễn Trọng H3 với bà Nguyễn Thị Phương T.
1.7. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của bà
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ CS05642 thửa đất số 129, Giấy chứng nhận số vào sổ CS05643 thửa
đất số 296, Giấy chứng nhận số vào sổ CS05644 thửa đất số 403 Giấy chứng
nhận số vào sổ CS05645 thửa đất số 531 ngày 18/9/2018 Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu n
tài sản khác gắn liền với đất, tổng diện tích 13.351m
2
cho Nguyễn Thị
Phương T.
1.8. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
19
đất số 003420 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của n phòng C1 giữa Nguyễn
Thị Phương T, anh Liễu Hồng P với chị Liễu Thùy D1.
1.9. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập và độc lập bổ sung của
Nguyễn Kiều H2 về việc yêu cầu: Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CS06244 thửa đất số 296, Giấy chứng nhận số vào sổ CS06245 thửa đất số
129, Giấy chứng nhận số vào sổ CS06246 thửa đất số 403 Giấy chứng nhận
số vào sổ CS06247 thửa đất số 531 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp
ngày 18 tháng 6 năm 2019 cho chị Liễu Thùy D1.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu số tiền
900.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (sáu
trăm nghìn đồng) theo biên lai số 43849 ngày 15/6/2020 của Chi cục Thi hành
án dân sự thị Công. Như vậy, Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp thêm số
tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn án phí cho bà Nguyễn Kiều H2.
Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm được
khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu 0003949 ngày
19/03/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự./.
Án tuyên lúc 14 giờ 35 phút kết thúc lúc 14 giờ 50 phút cùng ngày
24/7/2026, mặt H, H2, chị H1, chị D1 luật N, các đương sự còn
lại vắng mặt.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 2 Đồng Tháp.
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hữu Tính
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 631/2026/DS-PT Bản án số 631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 631/2026/DS-PT Bản án số 631/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất