Bản án số 828/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 828/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 828/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 828/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: trần hữu th "tranh chấp quyền sử dụng đất" trần thị h
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 828/2026/DS-PT Bản án số 828/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 828/2026/DS-PT Bản án số 828/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 828/2026/DS-PT
Ngày: 22-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Bà Phạm Thị Hồng Vân
Thư phiên tòa: Ông NTấn Tài Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 134/2026/TLPT-DS ngày 09 tháng 3 năm
2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2025/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2026/QĐ-PT ngày 08/4/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trn Hu T, sinh năm 1959.
Địa ch: Khu ph L, phường T, tnh Tây Ninh a ch cũ: Khu ph L, phường
T, th xã T, tnh Tây Ninh); có mt.
2. B đơn:
2.1. Bà Trn Th H, sinh năm 1960; địa ch: khu ph G, phường T, tnh Tây
Ninh a ch : Khu ph G, phường T, th xã T, tnh Tây Ninh); có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của H: Ông Nguyễn Ngọc Hải Đ, sinh năm
1990; địa chỉ: Ấp T, H, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 12/01/2026);
có mặt.
2
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp cho Trn Th H các lut
Trn Ngọc Đ1, Trn Nguyt M Công ty Trách nhim hu hn S1 thuc Đoàn
luật sư thành phố H; có mt.
2.2. Ông Nguyễn Trường C, sinh năm 1971; đa ch: khu ph G, phường T,
tnh Tây Ninh a ch cũ: Khu ph G, phường T, th T, tnh Tây Ninh); xin
vng mt.
3. Người có quyn li, nghĩa v liên quan:
3.1. Ông Trn Hu L, sinh năm 1943; đa ch: S C, Kênh T, phường T,
Thành ph H Chí Minh a ch cũ: S C, Kênh T, phường H, qun T, Thành
ph H Chí Minh); vng mt.
3.2. Bà Trn Th Kim D, sinh năm 1959; địa ch: Khu ph T, png G, tnh
Tây Ninh a ch cũ: Khu ph T, phường G, th xã T, tnh Tây Ninh); vng mt.
3.3. Bà Nguyn Th Kim C1, sinh năm 1953; địa ch: Ấp B, xã Đ, tỉnh Tây
Ninh a ch : Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); vng mt.
3.4. Ông Trn Hu H1, sinh năm 1951; địa ch: p A, A, tnh Tây Ninh
a ch cũ: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An); vng mt.
3.5. Ông Trn Hu T1, sinh năm 1961; địa ch: Khu ph L, phường T, tnh
Tây Ninh a ch cũ: Khu ph L, phường T, th xã T, tnh Tây Ninh); vng mt.
3.6. Bà Trn Th Tuyết H2, sinh năm 1964; đa ch: Khu ph A, phường A,
tnh Tây Ninh a ch cũ: Khu ph A, phường A, th xã T, tnh Tây Ninh); vng
mt.
3.7. Nguyn Th Kim T2, sinh năm 1957; địa ch: S B Hu Giang,
phưng B, Thành ph H Chí Minh a ch cũ: S B Hậu Giang, Phường E, Qun
F, Thành ph H Chí Minh); vng mt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu L, Trần Thị Kim D, ông
Trần Hữu H1, ông Trần Hữu T1, bà Trần Thị Tuyết H2, bà Nguyễn Thị Kim T2,
bà Nguyn Th Kim C1: Ông Trần Hữu T3 là nguyên đơn trong vụ án; ông T3
mặt.
3.8. Bà Trần Thị T4, sinh năm 1964; cùng địa chỉ bà H; có mặt.
3.9. Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp D, T, tỉnh Tây Ninh;
xin vắng mặt.
3.10. Bà Trần Ngọc C2, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh;
xin vắng mặt.
Ngưi bo v quyn và li ích hp pháp cho Trn Ngc C2 là các luật
Trn Ngọc Đ1, Trn Nguyt M Công ty Trách nhim hu hn S1 thuc Đoàn
luật sư thành phố H, có mt.
3.11. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp D, T, tnh Tây Ninh;
xin vắng mặt.
3
3.12. Anh Nguyễn Ngọc Thanh Đ2, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh
Tây Ninh; xin vắng mặt.
3.13. Chị Nguyễn Ngọc Thanh T6, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh
Tây Ninh; xin vắng mặt.
3.14. Chị Nguyễn Ngọc Thanh H3, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp D, T, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông
Trần Hữu T3 trình bày:
Ông yêu cầu H ông C trả lại cho ông quyền sử dụng đất (QSDĐ)
chiều ngang 16,6 m x chiều dài 32 = 531,2 m
2
trong thửa 31, 32 tờ bản đồ số 03,
tọa lạc tại khu phố G, phường T, tnh Tây Ninh (nay đo đạc thc tế là 244,0 m
2
).
Bởi vì, nguồn gốc đất là của cha, mẹ ông là cụ Trần Gia Q ã chết năm 1983)
cụ Võ Thị C3 (đã chết năm 2005) nhận chuyển nhượng của cụ Đinh Văn H4 vào
ngày 11/3/1954, hai bên lập văn bản là Tờ Bán Đứt Đất được Hội đồng hương
chính G xác nhận. Theo Quyết định số 472/QĐ-UB ngày 14/8/1998 của Ủy
ban nhân dân huyện T gia đình ông đã lấy lại được 14,5 m cặp tỉnh lộ 6 theo Bản
án số 51/2022/DS-ST ngày 30/9/20222 của TAND tỉnh Tây Ninh và Bản án số
508/2023/DS-ST ngày 27/7/2023 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện phần đất n lại 16,6 m cặp tỉnh lộ 6 mà bà H, ông C (con của cụ M1,
cụ M1 đã chết) đang ở là đất của cha, mẹ ông mua của cụ Đinh Văn H4 như trên.
Vào khoảng năm 1970 cha, mẹ ông cho gia đình cụ M1 ở đậu trên đất nhưng ông
không rõ diện tích, không nói rõ thời hạn, không lập giấy tờ cho ở đậu.
Cha mẹ ông không cho đất cũng như không chuyển nhượng đất cho gia
đình cụ M1, H, ông C. Cha, mẹ ông chết không đlại di chúc nên đây tài
sản chung của anh chị em của ông gồm: Trần Hữu T3, Trần Hữu L, Trần ThKim
D, Nguyễn Thị Kim C1, Trần Hữu H1, Trần Hữu T1, Trần Thị Tuyết H2, Nguyễn
Thị Kim T2.
Do trước đây ông sinh sống tại Thành phHồ Chí Minh, đến khoảng năm
2000 ông về sinh sống tại T, Tây Ninh đến nay. Lúc đó, ông phát hiện trên phần
đất tranh chấp này đã 01 nhà tình nghĩa trên đất. Năm 2005, mẹ ông khởi
kiện đến Sở địa chính Tây Ninh rất nhiều hộ đậu tn phần đất của cha, mẹ ông.
Trên đường đến giải quyết tại Sở địa chính thì hộ ông Hà Văn K1 do ông K1 đi
diện, ông K1 chết đột ngột nên mẹ ông dừng việc khởi kiện. Sau đó, mẹ ông cũng
chết trong năm 2005. Năm 2023, ông bắt đầu tranh chấp đến nay. Ông thống nhất
kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá tài sản tranh chấp.
Nay ông rút một phần yêu cầu khởi kiện như sau:
Đối với phần đt tranh chấp có nhà tình nghĩa diện tích 20,3 m
2
gắn liền thì
ông không tranh chấp để cho bđơn tiếp tục sử dụng. Nvậy, phần đất tranh
chấp còn lại 244,0 m
2
- 20,3 m
2
= 223,7 m
2
thì bị đơn phải trả lại hiện trạng đất
4
thực tế cho ông.
Ông đồng ý thanh toán giá trị các tài sản gắn liền với đất cho bị đơn theo giá
hội đồng định giá đã định. Chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Ngoài ra, ông còn là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu L,
Trần Thị Kim D, ông Trần Hữu H1, ông Trần Hữu T1, bà Trần Thị Tuyết H2, bà
Nguyễn ThKim T2. Ý kiến của ông L, D, ông H1, ông T1, H2, T2
cùng ý kiến với ông.
Ông Bùi Phúc T7 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn H trình bày:
H thừa nhận vị trí đất tranh chấp như ông T3 trình bày đúng. Tuy nhiên,
phần đất gia đình cụ M1 (mẹ của H, ông C đậu) trên đất của gia đình ông T3
đã được giải quyết tại Quyết định số 472/QĐ-UB ngày 14/8/1998 của Ủy ban
nhân dân huyện T; Bản án thẩm số 51/2022/DS-ST ngày 30/9/20222 của
TAND tỉnh Tây Ninh và Bản án phúc thẩm số 508/2023/DS-ST ngày 27/7/2023
của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng thời, tại 02 bản án trên Tòa cũng tuyên hủy một phần giấy chứng nhận
QSDĐ đối với diện tích đất 116 m
2
do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho cụ M1
xong. Phần diện tích đất được cấp còn lại chưa có văn bản của cơ quan Nhà nước
thẩm quyền thu hồi hoặc hủy bỏ giấy chứng nhận QSDĐ của cụ M1. H
đang giữ bản chính 02 giấy chứng nhận QSDĐ trên, không thế chấp cho tổ chức,
cá nhân nào.
Nguồn gốc phần đt tranh chấp do gia đình phía bị đơn khai phá bồi lấp
san mặt bằng đất ao sâu, phía sau là đất thổ mộ hiện tồn tại rất nhiều ngôi
mộ. Gia đình H đã sinh sống ổn định trên phần đất tranh chấp từ năm 1954 đến
nay. Phần đất tranh chấp còn lại hiện nay là do 03 chị em ruột của H bà H,
ông C và bà Trần Thị T4 cùng sử dụng chung.
Nay H không đồng ý trả đất theo u cầu của ông T3. Bởi vì, gia đình của
H sử dụng liên tục, công khai, ngay tình trên 30 năm. Do đó, Nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Trần Thị M1 đúng theo quy định tại
Điều 26 của Luật đất đai năm 2013 (nay là Điều 17 của Luật đất đai năm 2024).
Mặc dù, gia đình của chị em H không còn nơi nào khác nhưng H
không đt tình huống nếu Tòa t xử chấp nhận yêu cầu của ông T3 thì gia đình
bà H yêu cầu ông T3 phải bồi thường chi phí bồi lấp đất, gìn giữ đất.
Bị đơn ông C trình bày trong hồ sơ vụ án: Ông có cùng ý kiến với bà H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T4 trình bày: Thống nhất
ý kiến với ông T7 vừa trình bày trên. Phần đất tranh chấp là của cha, mẹ bà là cụ
Nguyễn Văn S cụ Trần Thị M1 để lại. Cha mẹ chết không để lại di chúc;
hiện tại gia đình bà chưa phân chia tài sản thừa kế. vậy, phần đất tranh chấp là
tài sản thừa kế chưa phân chia của 06 người con của cha, mẹ gồm: Ông Nguyễn
Ngọc T8 (đã chết, để lại vợ Nguyễn Thị T5 03 người con Nguyễn Ngọc
Thanh Đ2, Nguyễn Ngọc Thanh H3, Nguyễn Ngọc Thanh T6); Nguyễn Thị K,
5
Trần Ngọc C2, Trần Thị H, bà Trần Thị T4, ông Nguyễn Trường C. Bà có
cùng ý kiến với bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc C2 trình bày trong h
sơ vụ án: Thống nhất ý kiến với H và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị T5,
anh Nguyễn Ngọc Thanh Đ2 trình bày thống nhất trong hồ sơ: cùng ý kiến như
bà H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Ngọc Thanh T6, chị
Nguyễn Ngọc Thanh H3: Không trình bày ý kiến đối vi yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Những người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Trần ThH
Trần Ngọc C2 trình bày:
Nguyên đơn khởi kiện đòi diện tích đất thuộc các thửa 31, 32 cùng tờ bản đồ
03, đất tọa lạc tại khu phố G, phường T, tỉnh Tây Ninh không căn cứ để chấp
nhận, bởi:
1. Bà Trần Thị M1 quản lý sử dụng canh tác diện tích đất thuộc các thửa 31,
32 ổn định, liên tục từ năm 1954 đến nay 72 năm, đã được cấp Giấy CNQSDĐ
hợp pháp.
2. C3 không chứng cứ giấy tờ hp pháp để xác định diện tích đất tranh
chấp thuộc chủ quyền hợp pháp của bà C3.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp như: T bán đứt đất ngày 11/3/1954 giữa
người mua Trần Gia Q1 người bán Đinh Văn H4 nguyên đơn cung cấp bản
photocopy không có giá trị pháp lý.
Ngoài Tờ bán đứt đất ngày 11/3/1954, nguyên đơn không tài liệu có giá
trị nào khác như bằng khoán trước 1975, giy tờ đăng , sổ mục để chứng
minh đất tranh chấp là của bà C3.
3. Việc đòi đất của bà C3 đối với M1 đã được gii quyết bác đơn đòi lại
đất tại Quyết định số 472/UB-QĐ ngày 14/8/1998 của Ủy ban nhân dân huyện T,
tỉnh Tây Ninh đã có hiệu lực từ năm 1998:
4. Bà C3 và ông T3 không có quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp, đất
tranh chấp này có mục đích sử dụng đất Nông nghiệp, phi nông nghiệp từ 1954
đến nay.
5. Căn cứ Án lsố 33/2020/AL, khoản 2 Điều 107; khoản 1 Điều 46 Luật
đất đai 2003; Điều 95, Điều 170 Luật Đất đai 2013 xác định bà Trần Thị M1 quản
sử dụng canh tác diện tích đất tranh chấp ổn đnh, liên tục từ năm 1954 đến nay
72 năm, đã được cấp Giấy CNQSDĐ hợp pháp, nên căn cứ để chấp nhận
đơn kháng cáo của của bà Trần Thị H và bà Trần Ngọc C2.
6. Bản án sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu
T3 không xem xét quá trình quản sử sụng đất mục đích sử dung đất
6
nông nghiệp ổn định lâu dài từ 1954 đến 2026 là 72 năm của gia đình bị đơn.
7. Tổng diện tích M1 để lại thửa 31, thửa 32 tổng diện tích 631,6m²,
qua 2 vụ án xét xử Toàn bộ nhà đất, tài sản còn lại sau giải tỏa làm đường ĐT
787B Tòa án đã giải quyết giao hầu hết 339,7m²/360m² cho Nguyên đơn Thoại
chỉ để lại 20,3m² cho gia đình bđơn thờ cúng lit Trần Thị R không phù hợp
pháp luật, trong đó:
+ 301m² Nhà Nước thu hồi làm đường ĐT 787B.
+ 116m² Bản án phúc thẩm 508/2023/DS-PT ngày 27/7/2023 buộc giao trả
cho gia đình nguyên đơn T3.
+ 223,7m² Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 tiếp
tục buộc bị đơn, liên quan trả tiếp cho gia đình nguyên đơn T3.
+ 20,3m² diện tích đất còn lại duy nhất, trên đất là căn nhà tình nghĩa thì đ
lại cho bị đơn Trần Thị H, Nguyễn Trường C, Trần Thị T4 thờ cúng Liệt sĩ Trần
Thị R.
+ Trong khi gia đình bị đơn đến 03 người gồm: Trần Thị H, Nguyễn
Trường C Trần Thị T4 đang sinh sống trên đất, những người này thuộc đối
tượng gia đình công đang thờ cúng Liệt sĩ Trần Thị R, hoàng cảnh gia đình
thuộc trường hợp nghèo khó, buôn bán nhỏ (bún rêu) để sinh sống.
8. Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh giải quyết buộc gia đình bị đơn trả cho gia đình
nguyên đơn diện tích 223,7m², thuộc thửa 31 diện tích 133m² đất vườn, thửa 32
diện tích: 90,7m² đất nuôi trồng thủy sản tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại Khu phố G,
phường T, tỉnh Tây Ninh vi phạm khoản 4 Điều 6 Quyết định 49/2024/QĐ-
UBND ngày 15/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về tách thửa đối với đất nông
nghiệp tối thiểu 500m².
Từ lý lẽ và chứng cứ trình bày trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
Chấp nhận đơn kháng cáo của Trần Thị HTrần Ngọc C2;
Sửa Bản án dân sự thm số 340/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trần Hữu T3.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2025/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T3 tranh chấp QSDĐ đối
với bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C.
2. Buộc Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C, Trần Thị T4, bà Trần
Ngọc C2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Ngọc Thanh Đ2, chị
Nguyễn Ngọc Thanh T6, chị Nguyễn Ngọc Thanh H3 trả lại cho ông Trần Hữu
T3, ông Trần Hữu L, bà Trần Thị Kim D, bà Nguyễn Thị Kim C1, ông Trần Hữu
H1, ông Trần Hu T1, Trần Thị Tuyết H2, Nguyễn Thị Kim T2 diện tích
7
đất 223,7 m
2
trong thửa 31, 32 tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khu phố G, phường T,
tỉnh Tây Ninh. Tứ cận:
Hướng Đông giáp thửa 33 dài 13,45m + 3,76m.
Hướng Tây giáp thửa thửa 31 dài 0,56m + 4,14m; giáp đường ĐT 782 nhựa
dài 12,3m.
Hướng Nam giáp thửa 32 dài 8,60m; giáp thửa 31 dài 4,13m + 5, 01m +
4,75m.
Hướng Bắc giáp đường đất dài 11,20m.
(Trong đó thửa 32 là 90,7 m
2
loại đt nuôi trồng thủy sản, thửa 31 133m
2
loại đất vườn).
Phần đt tranh chấp trên do Trần Thị M1 đứng tên Giấy chứng nhận
QSDĐ số 00996 QSDĐ/130/2004/-CT(HL) ngày 22/4/2004 đối với thửa đất
số 31, diện tích 517m
2
(phần tranh chấp diện tích 133 m
2
loại đất vườn); Giấy
chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H02358
ngày 27/6/2008 đối với thửa đất số 32, diện tích 114,6m
2
(phần tranh chấp diện
tích 90,7m
2
loại đất nuôi trồng thủy sản).
(Kèm theo sơ đồ đất tranh chấp).
Kiến nghị với quan nhà nước thẩm quyền làm thtục thu hồi Giấy
chứng nhận QSDĐ số 00996 QSDĐ/130/2004/QĐ-CT(HL) ngày 22/4/2004 đối
với thửa đất số 31, diện tích 517m
2
(phần tranh chấp diện tích 133m
2
loại đất
vườn) và Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất: H02358 ngày 27/6/2008 đối với thửa đất số 32, diện tích 114,6m
2
(phần tranh
chấp diện tích 90,7 m
2
loại đất nuôi trồng thủy sản) cùng do Trần Thị M1 đứng
tên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự phù hợp với bản
án này.
3. Ghi nhận ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu L, Trần Thị Kim D,
Nguyễn Thị Kim C1, ông Trần Hữu H1, ông Trần Hữu T1, Trần Thị Tuyết H2,
Nguyễn Thị Kim Thu T9 đồng ý thanh toán giá trị các tài sản gắn liền với đất
cho Trần Thị H tổng giá trị 10.516.220 (Mười triệu, năm tm mười sáu
nghìn, hai trăm hai mươi) đồng.
Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
Ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu L, Trần Thị Kim D, bà Nguyễn Thị Kim
C1, ông Trần Hữu H1, ông Trần Hữu T1, bà Trần Thị Tuyết H2, Nguyễn Thị
Kim T2 được sở hữu toàn bộ các tài sản gắn liền với diện tích đất tranh chấp
223,7m
2
trong thửa 31, 32 nêu trên.
8
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Hữu T3 về vic tranh chấp
diện tích đất 20,3 m
2
trong thửa số 31 tờ bản đồ số 03 khu phố G, phường T, tỉnh
Tây Ninh đối với bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền, thời hạn kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 15/01/2026, bị đơn ông Nguyễn Trường C, những người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc C2 Nguyễn Thị K kháng cáo yêu cầu sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại din theo ủy quyền của H, C2 giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương s chấp hành đúng quy đnh
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của các ông bà: Trần Thị H, Trần Ngọc
C2, Nguyễn Thị K đủ điu kin để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
các ông bà Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn Thị K. Cải sửa Bản án Dân sự sơ
thẩm số 340/2026/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 12, tỉnh Tây Ninh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của các ông Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn Thị K
thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người
kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được
về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ông Trần
Hữu T3 yêu cầu bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C, Trần Thị T4, bà Trần
Ngọc C2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Ngọc Thanh Đ2, chị
Nguyễn Ngọc Thanh T6, chị Nguyễn Ngọc Thanh H3 trả lại cho ông Trần Hữu
T3, ông Trần Hữu L, bà Trần Thị Kim D, bà Nguyễn Thị Kim C1, ông Trần Hữu
H1, ông Trần Hu T1, Trần Thị Tuyết H2, Nguyễn Thị Kim T2 diện tích
đất 223,7 m
2
trong thửa 31, 32 tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khu phố G, phường T,
tỉnh Tây Ninh. Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
thụ giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với phần đất tranh chấp nhà tình
nghĩa diện tích 20,3m
2
gắn liền vi đất, đcho bị đơn tiếp tục sử dụng. Xét việc
9
rút một phần yêu cầu khi kiện của nguyên đơn hoàn toàn tự nguyện phù
hợp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên
cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu trên là phù hợp.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của các ông Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn
Thị K, thấy rằng:
Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên a hôm nay ông T3 cho rằng:
Cha, mẹ ông T3 cụ Q và cụ C3 cho cụ M1 (mẹ của bà H, ông C, bà T4) ở tm
trên thửa đất tranh chấp, không lp thành văn bản. Người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn H cho rằng: Nguồn gốc phn đất tranh chấp do gia đình bà
H khai phá bồi lp san mặt bằng vì đất ao sâu, phía sau đất thổ mộ hiện
tồn tại rất nhiều ngôi mộ. Gia đình bà H đã sinh sống ổn định trên phần đất tranh
chấp từ năm 1954 đến nay (sử dng liên tục, ngay tình, trên 30 năm). Phần đất
tranh chấp còn lại hiện nay do 03 chị em ruột của H H, ông C
Trần Thị T4 cùng sử dụng chung.
Tại biên bản lấy lời khai ban đầu của bà H (BL 77), lời khai ban đầu của bà
T4 em ruột của H (BL78), lời khai ban đầu của ông T7 (BL 55) trình bày
thống nhất với nhau như sau: Phn đất ông T3 tranh chấp có nguồn gốc của cha,
mẹ ông T3, gia đình H không có đất nên ở nhờ trên đất từ năm 1954 đến nay.
Tại bản sao hồ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho cụ Trần Thị M1 do Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực T cung cấp thể hiện: Cụ Trần Thị M1
được cụ Trần Gia Q (cha của ông T3) cho đất từ năm 1954 (BL 138 ngày
23/10/2001; BL 131 ngày 22/3/2004).
Tại BL 135 ngày 07/7/1989 cụ Thị C3 (mẹ của ông T3) đã ký xác nhận
nội dung: “Khoảng năm 1954-1955 vợ chồng tôi mua miếng đất của ông
Đinh Văn H4 để lập nhà máy X lúa. Khi đó chúng tôi có cho ông Nguyễn Văn S
vợ Trần Thị M1 miếng đất cất nhà hầu trông coi nhà máy. Nay tôi làm
giấy này để xác nhận rõ căn nhà của bà Trần Thị M1 ở hiện nay cất trên đất được
vợ chồng tôi mua cho từ năm 1955”.
Qua đối chiếu nội dung giữa các BL 131, 138 với BL 135 thống nhất quá
trình sử dụng đất của gia đình bị đơn từ khoảng năm 1954 -1955 đến nay.
Từ những phân tích trên sxác định: Các thửa đất tranh chấp nguồn
gốc của cha mẹ ông T3 cho gia đình H từ năm 1954. Gia đình H đã cất
nhà và sinh sống trên các thửa đất tranh chấp hơn 70 năm không phát sinh tranh
chấp. Do đó có cơ sở xác định gia đình bà H đã sinh sống tn các thửa đất tranh
chấp ổn định lâu dài. Vì thế, căn cứ vào các Điều 50, 105 Luật đất đai năm 2003,
Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các
thửa đất tranh chấp cho bà M1 là đúng qui định pháp luật.
Qua phân tích trên cho thấy: Cấp thẩm chỉ căn cứ vào nguồn gốc các thửa
đất tranh chấp của cha mẹ ông T3 không căn cứ vào quá trình quản sử
dụng các thửa đất tranh chấp để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T3, buộc
gia đình bà H trả các thửa đất tranh chấp là không có căn cứ.
10
[3] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của các ông Trần Thị
H, Trần Ngọc C2, Nguyễn Thị K; Chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại din
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa; Chấp nhận quan điểm o
chữa của người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho các ông Trần Thị H, Trần
Ngọc C2, Nguyễn Thị K; Cải sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của các ông bà Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn Thị K nên các ông
Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn Thị K không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng ngh
có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Chấp nhận kháng cáo của các ông Trần Thị H, Trần Ngọc C2, Nguyễn
Thị K.
3. Sửa Bản án Dân sự thẩm số 340/2025/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 27, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 157,
165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 50, 105 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
3.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu T3 tranh chấp
quyền sử dụng đất đối với bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C về việc buộc
Trần Thị H, ông Nguyễn Tờng C, Trần Thị T4, Trần Ngọc C2, Nguyễn
Thị K, Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Ngọc Thanh Đ2, chị Nguyễn Ngọc Thanh
T6, chị Nguyễn Ngọc Thanh H3 trả lại cho ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu L,
Trần Thị Kim D, Nguyễn Thị Kim C1, ông Trần Hữu H1, ông Trần Hữu
T1, Trần Thị Tuyết H2, bà Nguyễn Thị Kim T2 diện tích đất 223,7 m
2
trong
11
thửa 31, 32, cùng tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại khu phố G, phường T, tỉnh Tây
Ninh. Tứ cận:
Hướng Đông giáp thửa 33 dài 13,45m + 3,76m.
Hướng Tây giáp thửa thửa 31 dài 0,56m + 4,14m; giáp đường ĐT 782 nhựa
dài 12,3m.
Hướng Nam giáp thửa 32 dài 8,60m; giáp thửa 31 dài 4,13m + 5,01m +
4,75m.
Hướng Bắc giáp đường đất dài 11,20m.
(Trong đó thửa 32 là 90,7 m
2
loại đt nuôi trồng thủy sản, thửa 31 133m
2
loại đất vườn).
Phần đt tranh chấp trên do Trần Thị M1 đứng tên Giấy chứng nhận
QSDĐ số 00996 QSDĐ/130/2004/-CT(HL) ngày 22/4/2004 đối với thửa đất
số 31, diện tích 517m
2
(phần tranh chấp diện tích 133m
2
loại đất vườn); Giấy
chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H02358
ngày 27/6/2008 đối với thửa đất số 32, diện tích 114,6m
2
(phần tranh chấp diện
tích 90,7m
2
loại đất nuôi trồng thủy sản).
3.2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Hữu T3 về việc tranh chấp
diện tích đất 20,3m
2
trong thửa số 31 tờ bản đồ số 03 khu phố G, phường T, tỉnh
Tây Ninh đối với bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trường C.
4. Chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá
tài sản tranh chấp, trích lục hồ vi số tiền 21.060.000 (Hai mươi mốt triệu,
không trăm sáu mươi nghìn) đồng, ông Trần Hữu T3 phải chịu, ông T3 đã nộp
xong.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Hữu T3 phải chịu án phí dân s thẩm nhưng ông T3 người
cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm nên ông T3 không phải nộp án phí dân
sự sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các ông Trần Thị H, Trần Ngọc C2,
Nguyễn Thị K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trần Thị H người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm nên không phải hoàn lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho bà H.
Hoàn lại tạm ứng án phí phúc thẩm cho: Ông Nguyễn Trường C số tiền
300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002509,
ngày 02/02/2026 của Thi hành án n sự tỉnh Tây Ninh; Bà Nguyễn Thị K số tiền
300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002511,
ngày 02/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
12
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi
hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 12- Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng KTNV;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 828/2026/DS-PT Bản án số 828/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 828/2026/DS-PT Bản án số 828/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất