Bản án số 778/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 778/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 778/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 778/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà V khởi kiện ông M yêu cầu trả lại đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 778/2026/DS-PT Bản án số 778/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 778/2026/DS-PT Bản án số 778/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 778/2026/DS-PT
Ngày: 27 - 8 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Thành Đăng
Ông Lê Văn Phận
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Trúc - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ số: 14/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 01
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 198/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 458/2026/QĐ-PT
ngày 14 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Trương Thị M, sinh năm 1957, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long;
2. Bà Trương Thị L, sinh năm 1952, vắng mặt.
3. Ông Trương Văn C, sinh năm 1960, có mặt;
4. Ông Trương Văn B, sinh năm 1965, vắng mặt.
5. Ông Trương Văn L1, sinh năm 1969, có mặt.
6. Bà Trương Thị C1, sinh năm 1984, vắng mặt.
2
Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
7. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Trương Thị V (chết):
7.1. Bà Lê Thị Bé H, sinh năm 1970, vắng mặt.
7.2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1974, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
7.3. Ông Văn M1, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh Vĩnh
Long, vắng mặt.
8. Ông Trương Thanh T1, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh Vĩnh
Long, vắng mặt.
9. Ông Trương Thanh Y, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh Vĩnh
Long, vắng mặt.
10. Trương Hoàng T2, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp H, H, tỉnh Vĩnh
Long, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Trương Thị M, bà Trương Thị L,
ông Trương Văn C, ông Trương Văn B, ông Trương Văn L1, bà Trương Thị C1,
ông Trương Thanh T1, ông Trương Thanh Y, Trương Hoàng T2: Ông
Trần D, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
- Bị đơn: Ông Châu Văn M2, sinh năm 1950; Địa chỉ: ấp A, A, tỉnh
Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Châu Văn M2: Châu Ngọc T3,
sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Châu Văn M2: ông Đào
Công H1, T4 giúp viên pháp lý - Trung tâm T9 tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Châu Thanh T5, sinh năm 1980, vắng mặt.
2. Bà Châu Ngọc T3, sinh năm 1983, có mặt.
3. Ông Châu Thanh T6, sinh năm 1985, vắng mặt.
4. Ông Lê Văn M1, sinh năm 1976, vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1980, vắng mặt.
6. Anh Châu Minh P, sinh năm 2003, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Châu Thanh T5, anh Châu Minh P:
3
Châu Ngọc T3, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Châu Văn M2 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Châu Ngọc T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2024 của các nguyên đơn, biên bản hòa
giải ngày 12/9/2025 trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào năm 1976, ông Trương Văn M3 bà Nguyễn Thị S nhận
chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T8 phần đất khoảng 2000m
2
toạ lạc tại xã A,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay A, tỉnh Vĩnh Long) với giá 1.800.000đ (một
triệu tám trăm ngàn đồng), khi mua bán ông M3S có thỏa thuận sẽ cho bà T8
ở lại trên phần đất cho đến khi T8 chết, hai bên có lập giấy mua bán vào ngày
20/6/1976 bên mua, bên bán người làm chứng Đinh Thị M4 cùng tên.
Đến năm 1994, Nhà nước có chủ trương kê khai đăng ký nên ông M3S đã kê
khai đăng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất
này tạo thành hai thửa 99, 100 cùng tbản đồ số 24 nay thửa 273, tờ bản đồ
18. Đến năm 2013 S, ông M3 chết, 10 người con của ông M3 S là:
M, bà L, ông C, ông B, ông L1, bà C1, ông T5, ông Y, bà T2 và bà V có nhu cầu
sử dụng đất nên đã yêu cầu ông Châu Văn M2 (rể T8) chị Châu Ngọc T3
(cháu ngoại bà T8) di dời nhà trả đất nhưng ông M2 và chị T3 không đồng ý.
Do đó, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận thửa đất 237, tờ bản
đồ số 18, tọa lạc tại A, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng của ông M3 và
S, yêu cầu ông M2 các con của ông M2 ông Châu Thanh T5, Châu
Ngọc T3, ông Châu Thanh T6, anh Châu Minh P trả lại cho nguyên đơn diện
tích đất qua đo đạc thực tế 186.4m
2
thuộc một phần thửa số 237, các nguyên đơn
đồng ý trả giá trị căn nhà cho ông M2 theo định giá là 59.819.000 đồng và hỗ tr
thêm chi phí di dời tài sản cá nhân cho ông M2 là 20.000.000 đồng. Các nguyên
thống nhất để ông L1 được quyền sdụng toàn bộ thửa đất số 237 đăng
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống nhất với kết quả đo đạc ngày
02/12/2024 diện tích thửa đất tranh chấp số 237 là 1.918,5m
2
loại đất trồng
cây lâu năm, thống nhất kết quả định giá ngày 26/02/2025 làm cơ sở cho Tòa án
giải quyết vụ án.
* Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 22/10/2024, ngày 04/3/2025 của bị đơn,
biên bản hòa giải ngày 12/9/2025 trong quá trình giải quyết vụ án, Châu
Ngọc T3 người đại diện theo ủy quyền của ông Châu Văn M2 đồng thời
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
4
Thửa đất số 99, 100 cùng tờ bản đồ số 24 nay là thửa 237 có nguồn gốc của
ngoại Nguyễn Thị T8 để lại, lúc T8 còn sống sử dụng vào mục
đích cất nhà để ở, khi T8 chết thì để lại cho cha mẹ Trần Thị Ngọc L2
Châu Văn M2 tiếp tục ở. Khi bà T8 còn sống thì trên căn nhà hiện nay
cha là ông M2 đang ở. không nghe bà ngoại nói lại có bán đất cho ông
M3, S; còn việc cho nhờ hay không thì không biết. T8 chết năm
2003, 01 người con duy nhất Trần Thị Ngọc L2 L2 cũng chết năm
2015, chồng Châu Văn M2 cùng các con T3, Trần Hoàng M5 (đã
chết nhưng các con không chung nhà), Châu Thanh T5, Châu Thanh T6
chứ không còn người con nào khác. Việc ông M3, S sử dụng đất này từ thời
gian nào thì không biết nhưng khi 13 tuổi tthấy căn ncủa V
(con ông M3) đó rồi, còn V sử dụng đất vào mục đích nữa không thì
cũng không nhớ, chỉ nhớ hình như chăn nuôi bò. Sự việc giữa T8 với
bà S có mua bán đất với nhau hay không thì bà không biết nhưng bà V ở trên đất
này thì vẫn hòa thuận với bên gia đình bà. Khi ông M3, bà S kê khai đăng ký đất
thể hiện đất ông của ông M3 S để lại nhưng nay lại nói mua của T8
không đúng. Do vậy, yêu cầu công nhận cho ông M5 được quyền sử dụng
thửa đất số 237 và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ ông Trương Văn M3, bà Nguyễn Thị S sang cho ông Châu
Văn M2 đứng tên, yêu cầu ông L1 di dời nhà tiền chế, nđi nơi khác trả lại
cho ông M2 diện tích đất 237.4m
2
thuộc một phần thửa 237 (hiệu D, A của
họa đồ), yêu cầu ông Lê Văn M1 và bà Nguyễn Thị T7 di dời nhà ở, nhà vệ sinh,
nhà tiền chế đi nơi khác trả lại diện tích đất 150.6m
2
thuộc một phần thửa 237
(ký hiệu C, E, F của họa độ) cho ông M2, ông M2 đồng ý trả giá trị nhà ở, nhà
vệ sinh, nhà tiền chế cho ông M1 và bà T7 theo giá Hội đồng định giá đã định.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/9/2025 ông Văn M1 trình bày: Ông
con của V, hiện nay vợ chồng ông đang sinh sống trong căn nhà của mẹ
ông V đlại ông sửa chữa lại, nếu yêu cầu của các cậu các ông
(các nguyên đơn) được chấp nhận thì ông sẽ tự giải quyết với các cậu các dì theo
quy định. Còn yêu cầu của ông M2 được chấp nhận thì ông yêu cầu ông M2 trả
giá trị bằng tiền đối với tài sản trên đất cho ông.
* Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/11/2024, Biên bản định
giá ngày 26/02/2025, Họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 02/12/2024 thể
hiện, thửa đất 237 tổng diện tích 1.918.5m
2
, trên phần đất tranh chấp nhà
của ông L1 (A) trị giá 90.475.00 đồng, nhà của ông M2 (B) trị 59.819.000
đồng, nhà của ông M1 (C, E) trị giá 40.415.000 đồng nhà kho của ông L1
(D) trị giá 91.907.000 đồng, ngoài ra còn chuồng của ông M1 (3). Các
đương sự thống nhất giá đất 2.200.000đ/m
2
, giá đất trồng cây lâu năm
1.700.000đ/m
2
.
5
Tại bản án dân sự thẩm số: 198/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã xử:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trương Thị L, Trương Thị M,
Trương Hoàng T2, Trương Thị C1, ông Trương Văn C, ông Trương Thanh
T1, ông Trương Văn B, ông Trương Thanh Y, ông Trương Văn L1 về việc tranh
chấp quyền sử dụng đất đối với ông Châu Văn M2, ông Châu Thanh T5,
Châu Ngọc T3, ông Châu Thanh T6, anh Châu Minh P.
Buộc ông Châu Văn M2, ông Châu Thanh T5, bà Châu Ngọc T3, ông Châu
Thanh T6, anh Châu Minh P phải trả lại cho bà Trương Thị L, bà Trương Thị M,
Trương Hoàng T2, Trương Thị C1, ông Trương Văn C, ông Trương
Thanh T1, ông Trương Văn B, ông Trương Thanh Y, ông Trương Văn L1, ông
Văn T, bà Thị H, ông Lê Văn M1 diện tích đất qua đo đạc thực tế
186.4m
2
(vị trí số 2, 4 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 237 tờ bản đồ số 18
tọa lạc tại A, tỉnh Vĩnh Long (có họa đồ ngày 02/12/2024 của Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre, nay Chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai khu vực 25 kèm theo).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Châu Văn M2 về việc yêu cầu
ông Trương Văn L1 di dời nhà tiền chế, nhà đi nơi khác trả lại diện tích đất
237.4m
2
(ký hiệu D, A của họa đồ) thuộc một phần thửa số 237 tờ bản đồ số 18
tọa lạc tại xã A, tỉnh Vĩnh Long.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Châu Văn M2 về việc yêu cầu
ông Lê Văn M1, Nguyễn Thị T7 trả lại diện tích đất 150.6m
2
(ký hiệu C, E, F
của họa độ) thuộc một phần thửa số 237 tờ bản đồ số 18 tọa lạc tại A, tỉnh
Vĩnh Long.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền nghĩa v
liên quan đến thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09/10/2025 bị đơn ông Châu Văn M2
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Châu Ngọc T3 đơn kháng cáo yêu
cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trương Văn M3, Trương Văn L1 Văn
M1 điều chỉnh qua tên ông Châu Văn M2.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm: chị T3 xác định chị và ông M2 kháng cáo yêu cầu
công nhận cho ông M2 được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất s237, yêu cầu
ông L1, ông M1 di dời nhà và toàn bộ tài sản trên đất đi nơi khác để trả thửa đất
237 lại cho ông M2, ông M2 đồng ý trả giá trị nhà và tài sản gắn liền với đất cho
6
ông L1, ông M1 theo giá Hội đồng định giá đã định. Người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp cho ông M2 đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M2.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông M2 chị T3, tuy nhiên nguyên đơn tự nguyện tách cho ông M2 một
nền nhà có lối đi ra đến đường công cộng tổng diện tích 145m
2
trên thửa đất 237
(phấn 1-2 của họa đồ) để ông M2 có chỗ ở ổn định đồng thời nguyên đơn còn hỗ
trợ cho ông M2 80.000.000 đồng để ông M2 di dời nqua phần đất nguyên
đơn tách cho ông M2, trường hợp ông M2 không muốn tiếp tục trên thửa đất
237 thì nguyên đơn sẽ hỗ trợ cho ông M2 250.000.000 đồng để ông M2 tìm chỗ
ở mới, nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng, ông L1 tự di dời toàn
bộ tài sản có trên phần đất 1-2 của họa đồ để giao đất cho ông M2 sử dụng.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: từ khi thụ lý cho đến khi xét xThẩm
phán được phân ng giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ
luật ttụng dân sự; tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xđã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương smặt thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông M2 chị T3, sửa
bản án thẩm theo hướng ghi nhận stự nguyện của nguyên đơn việc tách
cho ông M2 145m
2
đất thuộc thửa 237 hỗ trợ cho ông M2 80.000.000 đồng
chi phí di dời nqua phần đất 1-2 của họa đồ, chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
Người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: ngày 28/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long
tuyên án thẩm đến ngày 09/10/2025 bị đơn ông Châu Văn M2 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Ngọc T3 kháng cáo còn trong thời hạn
theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, đơn kháng cáo của đương sự
đúng về hình thức, rõ về nội dung và ông M2 thuộc trường hợp được miễn đóng
tạm ứng án phí, bà T3 đã đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được xem xét theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Các đương sự thống nhất trình bày: vợ chồng ông Trương Văn M3 (chết
năm 2011) Nguyễn Thị S (chết 2013) tất cả 10 người con gồm:
Trương Thị L, bà Trương Thị M, Trương Hoàng T2, Trương Thị C1, ông
7
Trương Văn C, ông Trương Thanh T1, ông Trương Văn B, ông Trương Thanh
Y, ông Trương Văn L1 bà Trương Thị V (bà V chết năm 2024, chồng V
đã chết, V có 03 người con gồm: Thị H, Văn T Văn M1); bà
T8 (chết năm 2003) một người con duy nhất là Trần Thị Ngọc L2 (chết
năm 2015), bà L2 có chồng ông Châu Văn M2, con Trần Hoàng M5 (đã
chết), Châu Thanh T5, Châu Ngọc T3 và Châu Thanh T6.
[3] Về nguồn gốc đất.
Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 237 tờ bản đồ số 18
(trước đây là thửa 99, 100 cùng tờ bản đồ số 24) trước đây là của bà Nguyễn Thị
T8. Nguyên đơn cho rằng phần đất này ông M3 và bà S mua của bà T8 vào năm
1976 có lập Tờ bán đất giồng vào ngày 20/6/1976 (bút lục 132) trong đó
S, T8 tên người làm chứng Đinh Thi M6 tên, ông M3 đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 nên yêu cầu công nhận
thửa đất này của nguyên đơn (các con của ông M3 bà S). Bị đơn không
thừa nhận việc bà T8 bán đất cho bà S, không thừa nhận chữ ký tên trong tờ bán
đất giồng là do bà T8 nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng thửa đất này cho
ông M5 (rể bà T8).
Xét thấy, Tờ bán đất giồng lập 20/6/1976 có người mua tên Nguyễn Thị
S, người bán tên Nguyễn Thị T8, người làm chứng tên Đinh Thị M4 mặc
không xác nhận của chính quyền đại phương, những người tên trong
văn bản gồm S, bà T8 và bà M4 đều đã chết nên không xác định được chữ ký
phải của T8 hay không. Tuy nhiên, xét về quá trình quản lý, sử dụng
đăng ký, kê khai thì vào năm 1996 ông M3 đăng khai được UBND
huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 143 ngày
26/6/1997. Trong quá trình giải quyết vụ án, T3 thừa nhận từ năm 13 tuổi
(năm 1996) thì đã thấy V (con ông M3) sinh sống canh tác trên phần đất
này. Tại biên bản xác minh ngày 26/8/2025 (bút lục số 106) thì những người
sinh sống ở gần phần đất tranh chấp đều xác nhận: V về cất nhà sinh sống
trồng trọt, chăn nuôi trên phần đất này đến nay trên 40 năm, khi đó T8
L2 còn sống nhưng không thấy T8 L2 phản đối, gia đình T8 thì chỉ
sử dụng phần đất phạm vi căn nhà, hai bên gia đình không cự cải gì. Ngoài
ra, thấy rằng khi ông L1 cất nhà, làm nhà kho trên phần đất này phía gia đình bà
T8 không ai ngăn cản, gia đình T8 cũng không đăng ký, khai chỉ sử
dụng đất trong phạm vi căn ncủa T8 để lại, phần còn lại của thửa đất thì
gia đình ông M3 bà S sử dụng. Từ đó, cho thấy lời trình bày của nguyên đơn cho
rằng bà S ông M3 đã mua (nhận chuyển nhượng) phần đất này của T8
cho T8 lại đến hết đời theo như thỏa thuận tại Tờ bán đất giồng lập ngày
20/6/1976 là có căn cứ.
8
Tòa án cấp thẩm công nhận toàn bộ thửa đất số 237 thuộc quyền sử
dụng của bên nguyên đơn căn cứ. Ông M5 T3 kháng cáo cho rằng,
T8 không bán đất cho vợ chồng ông M3 S nên yêu cầu công nhận
cho ông M5 được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất 237, nhưng không xuất trình
được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên kháng
cáo không được chấp nhận. Quan điểm người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho ông M5 không có căn cứ chấp nhận.
[4] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn tự nguyện tách cho ông
M5 một phần đất diện tích 145m
2
trên thửa 237 để ông M5 cất nhà ở ổn định
hỗ trợ cho cho ông M5 số tiền 80.000.000 đồng để ông M5 di dời nqua phần
đất nguyên đơn tự nguyện cho ông M5. Xét thấy sự tự nguyện của nguyên
đơn không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức hội lợi cho
ông M5 nên được chấp nhận.
[5] Chi phí tố tụng tổng cộng 22.806.450 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu,
nguyên đơn đã nộp đủ.
[6] Án phí thẩm: ông M5 phải chịu án phí không giá ngạch, tuy nhiên
ông là người cao tuồi nên được miễn, các đương sự khác không phải chịu.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án thẩm nên người kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long căn cứ chấp
nhận
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Châu Văn M2
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Châu Ngọc T3.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
Áp dụng các điều 164, 166, 468 Bộ luật Dân sự 2015; các điều 26, 31, 131
Luật đất đai 2024; các điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của bị đơn.
9
1. Công nhận cho những người thừa kế của ông Trương Văn M3
Nguyễn Thị S gồm: Trương Thị L, Trương Thị M, Trương Hoàng T2,
Trương Thị C1, ông Trương Văn C, ông Trương Thanh T1, ông Trương Văn
B, ông Trương Thanh Y, ông Trương Văn L1 và người thừa kế của Trương
Thị V (ông Văn T, Thị H ông Văn M1) được quyền sử dụng
1.773,4m
2
đất (trong đó gồm: 250m
2
đất tại nông thôn 1523,4m
2
đất trồng
cây lâu năm) thuộc một phần thửa số 237, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại A, tỉnh
Vĩnh Long, theo họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 02/12/2024 và ngày
09/6/2026 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre (nay
là Chi nhánh Văn phòng Đ) gồm phần: 1-1, 2, 3, 4 của họa đồ.
2. Công nhận cho ông Châu Văn M2 được quyền sử dụng 145m
2
đất (trong
đó gồm: 50m
2
đất tại nông thôn và 95m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc một
phần thửa số 237, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại A, tỉnh Vĩnh Long, theo họa đồ
hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 02/12/2024 và ngày 09/6/2026 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre (nay Chi nhánh Văn
phòng Đ) là phần 1-2 của họa đồ.
3. Buộc ông Châu Văn M2, anh Châu Thanh T5, chị Châu Ngọc T3 anh
Châu Thanh T6 di dời nhà ra khỏi phần đất ký hiệu số 2 diện tích 183m
2
của của
họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 02/12/2024 ngày 09/6/2026 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre (nay Chi nhánh
Văn phòng Đ) để trả đất lại cho nguyên đơn.
4. Buộc ông Trương Văn L1 di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất 1-2 diện
tích 145m
2
của họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 02/12/2024 ngày
09/6/2026 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre (nay
là Chi nhánh Văn phòng Đ) để giao đất cho ông M2 sử dụng.
5. Buộc những người thừa kế của ông Trương Văn M3 và bà Nguyễn Thị S
gồm: Trương Thị L, bà Trương Thị M, Trương Hoàng T2, Trương Thị
C1, ông Trương Văn C, ông Trương Thanh T1, ông Trương Văn B, ông Trương
Thanh Y, ông Trương Văn L1 người thừa kế của Trương Thị V (ông
Văn T, Thị H ông Văn M1) có nghĩa vụ trả cho ông Châu Văn
M2 số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự năm 2015.
6. Chi phí tố tụng: tổng cộng 22.806.450 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu,
nguyên đơn đã nộp đủ.
10
7. Đương sđược công nhận quyền sử dụng đất quyền, nghĩa vụ đăng
ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật.
8. Án phí sơ thẩm:
Ông Châu Văn M2 được miễn toàn bộ.
Hoàn trả bà Trương Hoàng T2, Trương Thị C1, ông Trương Văn B, ông
Trương Thanh Y, ông Trương Văn L1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005293 ngày 13/10/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Vĩnh Long.
9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả Châu Ngọc T3 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005573 ngày
14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp
luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- VP TAND TỈNH Vĩnh Long;
- TAND Khu vực 8 - VL;
- Phòng THADS KV 8 -VL;
- Đương sự; Lưu hồ sơ.
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 778/2026/DS-PT Bản án số 778/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 778/2026/DS-PT Bản án số 778/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất