Bản án số 1042/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1042/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1042/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1042/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hay trả giá trị cho bà Nguyễn Thị Mỹ C được quyền sử dụng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.275,833m2 thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1042/2026/DS-PT
Ngày: 18 - 8 - 2026
V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền
sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
yêu cầu công nhận quyền sử
dụng đất”.
CỘNG HÒA HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Thị Minh Trang
Mạc Thị Chiên
Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Nguyễn Đoàn Thiên Giang -Thư viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Phùng Bích
Tuyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 10 & 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
1180/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 7 năm 2026 về việc:“Tranh chấp đòi lại
quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 169/2026/DS-ST ngày 29/04/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1386/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1969 (Có mặt); địa chỉ: Số A,
ấp N, T, Thành phố Cần Thơ.
2
Người đại diện ủy quyền: Ông Trần Khánh B, sinh năm 1989 (Có mặt); địa
chỉ: 2 L, phường P, thành phố Cần Thơ. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 29/7/2026
tại Văn phòng C4, Cần Thơ).
- Bị đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, xã Đ,
Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền: Tăng Thị Thúy N, sinh năm 1974 (Có mặt);
địa chỉ: Số B Đ, phường P, thành phố Cần Thơ. (Hợp đồng ủy quyền ngày
29/7/2026 tại Văn phòng C5, Cần Thơ).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ, thành phố Cần Thơ; địa chỉ:Ấp N, Đ,
thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp: Ông Thành T Trưởng Phòng Kinh Tế Ủy
ban nhân dân Đ người đại diện theo ủy quyền. (Vắng mặt)
2. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1964 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
3. Trần Thị Kim T2, sinh năm 1992 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
4. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1989 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ, Thành
phố Cần Thơ.
Cùng ủy quyền cho: Tăng Thị Thúy N, sinh năm 1974 (Có mặt); địa chỉ:
Số B Đ, phường P, thành phố Cần Thơ.
5. Triệu Thị Kim A, sinh năm 1934 (Vắng mặt); địa chỉ: p N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
6. Nguyễn Thị N1, sinh năm 1963 (Vắng mặt); địa chỉ: p N, xã Đ,
Thành phố Cần Thơ.
7. Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1965 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp L, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
8. Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1967 (Vắng mặt); địa chỉ: Số D, T,
phường C, thành phố Cần Thơ.
3
9. Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1969 (Vắng mặt); địa chỉ: Số F,
đường T, phường P, thành phố Cần Thơ.
10. Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1971 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, xã
Đ, Thành phố Cần Thơ.
11. Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1974 (Vắng mặt); địa chỉ: p N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
12. Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1967 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
13. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1965 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
14. Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm 1967 (Có đơn xin xét x vắng mặt);
địa chỉ: Ấp N, Đ, Thành phố Cần Thơ.
15. Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1968 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
16. Ông Nguyễn Quang V1, sinh năm 1980 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, xã
Đ, Thành phố Cần Thơ.
17. Nguyễn Thị B1, sinh năm 1942 (Có mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
18. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1944 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);địa chỉ:
Ấp N, Đ, Thành phố Cần Thơ.
19. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1946 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
20. Nguyễn Thị Hằng N2, sinh năm 1988 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N,
Đ, Thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
1. Trương Thị M1, sinh năm 1963 (Có mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ, Thành
phố Cần Thơ.
2. Ông Tăng Văn S1, sinh năm 1974 (Vắng mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
Thành phố Cần Thơ.
4
3. Ông Nguyễn Thành C2, sinh năm 1963 (Có mặt); địa chỉ: Ấp N, Đ,
thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyễn Thị Mỹ C nguyên đơn Nguyễn Thị
Đ bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 07/5/2024 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ C trình bày:Vào năm
1969, lúc sinh ra thì cha mất, còn mẹ bỏ đi để lại chung sống với ông
nội ông Nguyễn Văn T6 Phạm Thị Hoằng . sinh sống với ông nội
cho đến năm 12 tuổi thì nghỉ học đi làm mướn, làm thuê ai kêu thì làm đó để
phụ giúp ông nội. Do đó, trong năm này bà được ông bà nội tiến hành tặng cho
một phần đất diện tích 1,5 công tầm cấy ơng đường 2.000m
2
tại thửa 730
tờ bản đồ 01, tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố Cần Thơ việc cho đất này được
ông, nội thông báo trước s chứng kiến của những người trong thân tộc
những người cùng địa phương biết rõ. Đến năm 1989, C 21 tuổi lập gia đình,
trước khi v nhà chồng thì nhờ ruột Nguyễn Thị Đ quản canh c
dùm sau này ông nội mất thì dùng để chôn cất thờ cúng, cho khai thác
hoa lợi trên phần đất của nhưng không được đăng chủ quyền, sang bán cho ai
khác, khi nào cần thì lấy lại. Đến năm 2019 âm lịch, Đ tranh chấp với ông
Nguyễn Hoàng S về việc ông S nhờ đường đi từ nhà ông S ra lộ đi ngang thửa
730. Đ không đồng ý cho rằng phần ông S nhờ làm đường đi trên đất của
C, nên cần ý kiến của C. Sau đó, Đ có nhờ Ban nhân dân mời C về
giải quyết sự việc. Đến ngày Vào ngày 09/9/2019 âm lịch thì bà C về giải quyết sự
việc. C cũng thống nhất cho ông S làm đường đi nhờ qua phần đất đã
được ông nội cho nên sự việc tranh chấp mới kết thúc. hoàn toàn không biết
việc Đ tự ý đăng được cấp quyền sử dụng toàn bộ thửa 730 như trên. Đến
năm 2024 khi về địa phương yêu cầu Đ giao trả đất thì mới phát hiện.
Tại phiên tòa thẩm nguyên đơn thay đổi một phần khởi kiện, cụ thể:
+ Buộc Đ nghĩa v trả lại cho C phần đất diện tích theo đo đạc
thực tế 1.275,833m
2
thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp N, Đ,
thành phố Cần Thơ tổng diện tích đo đạc thực tế 3.827,5m
2
.
+ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 767858, số vào sổ giấy
chứng nhận 000219 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh c Trăng (cũ) cấp giấy
5
chứng nhận ngày 02/01/1992 tại thửa 730, tờ bản đ số 01, diện tích 4.160m
2
, tọa
lạc tại ấp N, Đ, thành phố Cần Thơ.
+ Công nhận cho C được quyền sử dụng phần đất diện tích theo đo đạt
thực tế 1.275,833m
2
thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp N, Đ,
thành phố Cần Thơ.
* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Thị Đ trình
bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp, trước đây của cha mẹ ruột của
cụ Nguyễn Văn T6, sinh năm 1910 cụ Nguyễn Thị H3, sinh năm 1907 (Hiện
nay đều đã chết). con út trong gia đình, chung sống với cha mẹ từ nhỏ, phụng
dưỡng cha mẹ đến khi cuối đời. Từ năm 1978, thì cha mẹ nói do là con gái
do chăm nom cha mẹ chưa lấy chồng nên đã cho toàn b phần đất trên. Đến
năm 1990 thì chính sách của Nhà nước tiến hành đo đất cho cả để cấp giấy
nên cha cho được đứng ra đăng đứng tên quyền sử đất đã cho đất cho
từ trước. Đất gốc của cha mẹ bà nhưng cha mẹ chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đến năm 1990, mới được cấp giấy lần đầu. thống
nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn C việc C cháu nội của cha mẹ
ruột của cụ T7 cụ H3 cùng chung sống với hai cụ từ nhỏ, đến năm
C được 21 tuổi thì lập gia đình theo chồng. Tuy nhiên, hoàn toàn không
biết sự việc C được cha mẹ của cho đất như C trình bày thực tế trực
tiếp chung sống với cha mẹ n nếu sự việc này t đã chứng kiến biết rõ.
Do đó, việc C cho rằng được ông nội cho đất nhưng không cung cấp được tài
liệu, chứng minh việc tặng cho này cũng như nội dung trình bày của C việc
trước khi C về bên gia đình chồng sinh sống nhờ Đ quản lý, canh tác dùm
phần đất khoảng 1,5 công, sau này ông nội chết t chôn cất th cúng,
được khai thác hoa lợi trên phần đất này nhưng không được đăng chủ quyền,
không được quyền sang bán cho ai khác, khi nào cần thiết t C lấy lại sử dụng
hoàn toàn không đúng sự thật việc này không có. C cũng thừa nhận sự
việc này thực hiện bằng lời nói không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh. C cũng không chứng minh được việc quản đất ổn định, liên tục
công khai Đ người trực tiếp quản lý, sử dụng đất ổn định liên tục trên 30
năm. Do đó, bị đơn hoàn toàn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
6
* Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị Đ
Tăng Thị Thúy N trình bày: Toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp của bà Đ
trên sở trước đây Đ chung sống với cha mẹ ruột cụ T6 cụ H4. Đến năm
1990 khi Nhà nước chính sách đo đạc cấp quyền sử dụng đất thì Đ các
người con được cha mẹ cho đất riêng theo phần từng người nên xin đăng
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1992. Sau khi được cấp
quyền sử dụng t Đ tiến hành xây cất n trồng cây lâu năm trên đất. Đến
nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Đ chưa bị quan nào hủy hay thu
hồi do việc cấp giấy trái pháp luật. Việc C cho rằng được cụ T6 cụ H4 cho ½
diện tích của thửa 730 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh như biên bản họp gia tộc phân chia đất hay biên bản bàn giao đất gì. Ngoài ra,
về tính hợp pháp của nội dung trình bày của Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Văn
M không khách quan T5 người không biết chữ, ông M người bị tai
biến lời trình bày của người làm chứng ông T9 cũng con ruột của T5, chữ
viết trong bản tường trình của những người bày cùng một nét chữ. Đối với nội
dung biên bản xác minh của Tòa án đối với ông Nguyễn Thành C2 thì ông Công
trình B2 chỉ nghe nói lại việc C được cụ T6 cụ H4 cho ½ diện tích đất thửa
730 chứ hoàn toàn không trực tiếp tham gia chứng kiến việc họp gia tộc phân chia
đất cho C như phía nguyên đơn trình bày.
* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị B1 trình bày: Nguồn gốc thửa 730, tờ
bản đố 01; tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố Cần Thơ hiện đang tranh chấp giữa
C Đ trước đây của cha mẹ ruột Đ ông Nguyễn Văn T6 bà
Phạm Thị H4 (Nguyễn Thị H3). Cha mẹ chết hoàn toàn không để lại di chúc.
Tuy nhiên, khi còn sống thì cha mẹ của đã tiến hành tặng cho phần đất nêu trên
cho C Đ mỗi người ½ diện tích đất tương ứng khoảng 1,5 công. Việc cho
đất không làm văn bản. Tuy nhiên, cha gọi tất cả các người con lại theo hình
thức hợp gia đình thông báo việc chia đất cho Đ và C mỗi người ½ thửa
đất tức 1,5 công sự việc này toàn không ai ý kiến hay tranh chấp
trước đó cha cũng đã chia đất cho từng người anh em rồi. Phần 03 công còn lại
này thì chia cho C Đ do Đ con gái út còn C cháu nội ruột của
ông T7. Tuy nhiên, thời điểm nay C vừa lập gia đình n C i vẫn để
phần đất mình được cho lại cho Đ được quản lý, hưởng hoa lợi trên đất các
cây trồng C đã trồng khi còn sống chung với ông T7. Khi nào, C cần thì sẽ
7
lấy lại đất. Tôi hoàn toàn không biết việc Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất trên từ trước đến nay gia đình, dòng họ ai cũng nghĩ Đ
C mỗi người được 1,5 công trong tổng diện tích thửa đất. Trong vụ án này,
hoàn toàn không tranh chấp hay yêu cầu độc lập gì, tuy nhiên xác định toàn
bộ sự việc nguyên đơn trình bày đúng việc bà Đ được cấp quyền sử dụng toàn
bộ thửa 730 không đúng quy định.
* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng C1 trình bày: Nguồn gốc phần
đất trên trước đây của ông ngoại ruột Đ ông T6 H4. Khi ông
T6, H4 còn sống t Đ C1 cùng sống chung nhà với ông trên phần
đất này. Sau đó, nội chết trước, C1 Đ tiếp tục chung nhà với ông
nội của bà. Trước khi C1 lập gia đình riêng thì ông nội tôi có gọi tất cả con cháu
lại theo hình thức họp gia đình thông báo việc chia thửa đất 730 làm hai, cụ thể
cho Đ C1 mỗi người được 1,5 công. Thời điểm này bà C1 vẫn sống chung
nhà cụ ông T6 Đ. Sau đó, khi chuẩn bị lập gia đình, trước ngày cưới t
C1 nhờ con dòng họ đến nhà để thông báo việc do lập gia đình và theo chồng
nên phần đất được ông T7 cho sẽ để cho Đ quản lý, canh tác hưởng huê lơi
trên đất, khi nào cần t C1 sẽ lấy lại đất. do C1 được cụ T6 cụ H4 cho
đất do cha C1 mất sớm, mẹ thì bệnh nơi khác, không ai chăm sóc nên
ông nội đưa C1 về nuôi dưỡng. Khi C1 được khoảng 12 tuổi thì bắt đầu
lao động mưu sinh trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng ông nội của cho đến khi
C1 lập gia đình theo chồng; Đ chung sống với ông nội nhưng không
chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo. Do đó, C1 mới được chia ½ diện tích đất.
hoàn toàn không biết việc Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
đất trên từ trước đến nay gia đình, dòng họ ai cũng nghĩ Đ C1 mỗi
người được 1,5 công trong tổng diện tích thửa đất. Đ tự ý đi đăng không
thông báo cho ai nên từ trước đến nay cũng không ai tranh chấp gì. Trong
vụ án này, bà hoàn toàn không tranh chấp hay yêu cầu độc lập gì, tuy nhiên
xác định toàn bộ sự việc nguyên đơn trình bày đúng việc Đ được cấp
quyền sử dụng toàn bộ thửa 730 không đúng quy định.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2026 của Tòa án, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng S trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh
chấp hiện nay giữa C1 Đ trước đây của ông ngoại ông cụ T6 cụ
8
H4 (đều đã chết). Sinh thời, khi ông ngoại ông còn sống thì C1 Đ sống
chung nhà với hai cụ trên đất. Sau đó, C1 lập gia đình về T thì Đ lại
quản nhà đất. Ông hoàn toàn không tranh chấp đối với thửa 730 vì trước
đây khi C1 và Đ còn sống chung nhà thì ông ngoại của ông đã nói cho
C1 Đ phần đất này, nhưng chia cụ thể cho mỗi người như thế nào thì ông
không rõ. Trước đây ông không biết việc Đ được cấp quyền sử dụng thửa 730,
khoảng thời gian gần đây thì mới biết. Con đường tông từ lộ đến trước nhà của
ông do ông xây dựng. Khi ông làm đường đi này, lúc đỗ đá t ông T1, Đ
không cho đây là đất thuộc phần C1. Khi đó, ông S1 ông T9 ra cự cãi với
gia đình Đ, sau đó việc hòa giải êm xuôi nên ông mới làm được đường đi sử
dụng đến nay.
* Tại Tờ tường trình ngày 12/3/2026 gửi qua dịch vụ bưu chính theo dấu
bưu phẩm ngày 13/3/2026 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Hoàng S được Văn phòng C6 chứng thực chữ nội dung trình bày: Ông con
ruột của Nguyễn Thị N3 (mẹ ông chị ruột của Đ), (còn C1 con ruột của
người thứ 9) giữa ông bà Đ, C1 không mâu thuẫn hay xích mích,
con với 2 bên. Ông trình bày toàn bộ sự việc ông hiểu biết n sau: Nhà ông phía
sau nhà của bà Đ, nhà ông muốn đi ra lộ phải đi nhờ qua phần đất của Đ mới đi
ra đến lộ chính. Vào tháng 08/2024 con gái ông Nguyễn Thị Hoàng B3 nước
ngoài về thấy đường đất bùn lầy nên ông con ông đến nhà ông Đ xin
tráng xi măng đi qua phần đất của Đ ra đến lộ, được Đ đồng ý nên ông thuê
người đến tráng đường đi. Việc này chỉ thỏa thuận giữa ông Đ chứ xảy ra
không phải tranh chấp ông Đ cũng không ra ấp hay thưa kiện hết,
cũng không chuyện ông C2 đến hòa giải hay giải quyết cũng không việc
C1 đến cho phép ông làm đường đi đất tranh chấp do Đ đứng tên quyền
sử dụng đất. Do vậy, việc ông C2, C1, M1, B1, ông T9, ông S1, C1
khai năm 2020 sự việc tranh chấp giữa ông với Đ C1 hoàn toàn
không có, sai sự thật. Vào năm 2020, ông hoàn toàn không tranh chấp với
Đ C1 ông C2 cũng không nhờ ấp, giải quyết. Còn việc thỏa thuận
xin tráng đường đi từ nhà ông ra lộ chỉ thỏa thuận giữa ông, con ông bà Đ vào
tháng 08/2024 sau khi Đ đồng ý t ông tiến hành thuê thợ làm ngay, hoàn toàn
không mặt những người còn lại. Đối với những người con của ông, ngoại
ông ông T6 H4 lúc sinh thời ông, đã chia cho những người con ông
H5, N3, B1, ông S2 mỗi người một phần đất năm 1990 - 1992 đều được
9
đo đạc, làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng một ngày với việc đo đạc,
làm giấy của Đ, mọi người đều mặt để chỉ ranh đất. Đối với ông S2 cậu
ruột của ông chết định chôn cất phần đất của Đ nhưng Đ không đồng ý do
ông S2 đã được ông ngoại ông cho nơi khác rồi.
* Tại Tờ tường trình ngày 12/3/2026 gửi qua dịch vụ bưu chính theo dấu
bưu phẩm ngày 13/3/2026 được Văn phòng công chứng Trần Văn N4 chứng thực
chữ tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng
V trình bày: Ông em ruột của C1, anh con của C1 là cháu ruột của
Đ, giữa ông Đ, C1 không mâu thuẫn hay xích mích, con với 2
bên. Ông trình bày toàn bộ sự việc ông hiểu biết như sau: Năm 1969 khi sinh
C1 thì cha C1 chết còn mẹ tôi bỏ đi nên C1 được ông bà nội ông
Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Đến khi C1 khoảng 21 tuổi lập gia đình t về bên
chồng sống cho đến nay, thửa đất tranh chấp hiện nay do Đ trực tiếp quản lý,
canh tác được ông nội chia cho nên năm 1990 Nhà nước chính sách cấp
quyền sử dụng đất cho cả nên Đ đăng quyền sử dụng thửa đất nêu trên.
Thời điểm đó ông làm ấp đội ấp N được Ban N5 phân công đưa đoàn đo đạc đi đo
đạc cấp quyền sử dụng đất cho toàn xã. Khi đưa đoàn tiến hành đo đạc thửa đất của
Đ có những anh chị em của Đ ông H5, N4, B1, ông S2 mặt để chỉ
ranh đất các thửa đất của những người này cũng được đo đạc cùng ngày với thửa
đất của Đ. Cán bộ huyện L trực tiếp tiến hành đo đạc ông Nguyễn Xuân T8,
cán bộ ấp ông tham gia. Khi đo đạc thì không ai ý kiến gì, không ai tranh
chấp. Đến tháng 01/1992 Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các
anh chị em của Đ đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng ngày
cũng không ai đứng ra tranh chấp. Khoảng năm 2009 gia đình Đ xây nhà trên
đất nhưng cũng không ai tranh chấp. Gia đình Đ sử dụng thửa đất này trên 30
năm không ai tranh chấp. Ông khẳng định C1 hoàn toàn không được ông nội
chia đất chỉ Đ được chia phần đất này nên việc C1 đòi Đ trả lại ½
diện tích thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01 đất tọa lạc ấp N, Đ, thành phố Cần
Thơ theo ông C1 đã sai hoàn toàn không đúng đạo đức, do Đ đã công
nuôi dưỡng C1 từ khi mẹ C1 b đi cho đến khi C1 lấy chồng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa thẩm, thì ông V trình bày việc khi tiến hành thủ
tục đo đạc thì ông cùng đoàn đo đạc hỏi ông T7, Đ những người anh chị
em trong gia đình việc phần đất Đ đang tranh chấp không sợ có sự tranh
10
chấp giữa bà C1 Đ. Ông V xác định chỉ hỏi ý kiến của ông T6, Đ và
những người mặt để chỉ ranh nhưng không mặt C1 việc chỉ ranh cũng
không lập văn bản gì.
* Tại Tờ tường trình ngày 15/02/2026 gửi qua dịch vụ bưu chính theo dấu
bưu phẩm ngày 16/3/2026 của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị T5 trình bày: con ruột ông T7 H4. Đối với phần đất đang tranh
chấp giữa châu Đ thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01; thì ông biết nguồn
gốc đất mấy trước đây của ba ông T6 H4. Tuy nhiên, đối với phần
đất này trước đây khi còn sống ba đã cho C1 bà Đ mỗi người một nửa
trên phần diện tích đất này từ khi C1 được 12 tuổi. cam kết phần đất nêu trên
ba đã đồng ý cho C1 đẹp mỗi người một nữa khi ba còn
sống. C1 cháu của lúc 12 tuổi đã canh tác trên phần đất này trồng
cây ăn trái, đến năm C1 21 tuổi thì đi lấy chồng thì lúc đó ba kêu các
anh em lại làm chứng cho Đ được khai thác, bán huê lợi trên mặt đất giữ
đất cho C1 với điều kiện không được làm bất cứ giấy t hoặc sang bán cho ai,
khi nào C1 cần sử dụng thì Đ trách nhiệm trả lại cho C1. Vào ngày
18/01/1990 thì qua đời, C1 yêu cầu anh em chôn trên
phần đất của C1.
* Tại Tờ tường trình ngày 15/02/2026 gửi qua dịch vụ bưu chính theo dấu
bưu phẩm ngày 16/3/2026 ngày 24/4/2026 của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Văn M trình bày:Ông là con ruột ông T6 bà H4. Đối với phần
đất đang tranh chấp giữa châu Đ thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01 thì
ông biết khi còn sống ba ông đã cho phần C1 Đ mỗi người một nửa.
Khi ba ông cho đất bà C1 Đ t gọi tất cả anh chị em ông lại làm
chứng không giấy tờ chỉ cho bằng miệng. Khi C1 đi lấy chồng thì cũng
kêu anh em dòng họ lại để bà C1 gửi đất lại cho Đ giữ dùm, được bán cây
trái trên mặt đất với điều kiện Đ không được làm bất cứ giấy tờ hay sang bán,
khi nào cần thì C1 lấy lại sử dụng. Vào ngày 18/01/1990 thì ông qua đời,
ông C1 yêu cầu anh em ông chôn ông trên phần đất của C1.
* Tại Tờ tường trình ngày 12/3/2026 gửi qua dịch vụ bưu chính theo dấu
bưu phẩm ngày 04/3/2026 của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị Hằng N2 được Văn phòng C6 chứng thực chữ nội dung trình bày: Vào
ngày 22/02/2024, chuyển nhượng một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01,
11
đất tọa lạc tại ấp N, Đ, L, Sóc Trăng nay Đ thành phố Cần Thơ diện tích
ngang 10,6m x dài 28m với số tiền 100.000.000 đồng. Chuyển nhượng làm giấy
tay ông Nguyễn Thành C2 Trưởng ban nhân dân chứng kiến vào
giấy chuyển nhượng. Phần đất chuyển nhượng thuộc bên phần đất của bà Đ
không tranh chấp với C1. đã trả tiền đầy đủ cho Đ cũng đã nhận
đất nhưng chưa tách quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng đất không thuộc
phần C1 đang tranh chấp nên không ý kiến gì, sau này giữa Đ sẽ
thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định. Đối với việc C1 yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do Đ đứng tên không đồng ý theo bà biết
đất này Đ sinh sống, được đứng tên quyền sử dụng đất trên 30 năm.
không yêu cầu khác.
* Đối với những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Triệu Thị Kim
A, Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Chí H, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị
Thanh H1, ông Nguyễn Thanh H2, ông Nguyễn Quốc T4, Nguyễn Thị Bích L,
ông Nguyễn Quang V1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ, thành phố Cần Thơ: Từ
khi Tòa án thụ vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc đưa người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, nhưng tất cả các đương sự nêu
trên không ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ tất cả c đương sự nêu
trên để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ
hòa giải nhưng tất cả vẫn vắng mặt không do cũng không cung cấp cho
Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn cũng không khởi kiện yêu cầu độc lập trong vụ án.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 169/2026/DS-ST ngày 29/04/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 9- Cần Thơ đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. ng nhận cho
Nguyễn Thị Mỹ C được quyền sử dụng diện tích 1.275,833m
2
thuộc một phần
thửa đất số 730, tờ bản đồ s 01, tọa lạc tại ấp N, Đ, thành ph Cần Thơ, trong
đó:
+ Ổn định giao cho Nguyễn Thị Đ được quyền s dụng đất sở hữu
cùng toàn bộ cây trồng, tài sản trên đất diện tích đo đạc thực tế 3.827,5m
2
; tại
thửa số thửa 730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại p N, Đ, thành phố Cần Thơ theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 767858 do Ủy ban nhân dân huyện L,
tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 02/01/1991 cho Nguyễn Thị Đ, số đo tứ cận:
12
Hướng Đông giáp lộ đal số đo 4,57m + 1,33m + 1,83m + 4,63m + 4,53m +
11,22m và giáp rạch số đo 12,57m + 12,12m giáp lộ đal số đo 9,85m +
9,09m; Hướng Tây giáp đất Nguyễn Thị Hồng C1 số đo 11,29m + 14,81m
giáp đất ông Nguyễn Hoàng S số đo 33,12m; Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn
Thành C2 số đo 33,05m giáp đất ông Nguyễn Hoàng S số đo 57,31m;
Hướng Bắc giáp đất Nguyễn Thị B1 số đo 87,68m.
(Đính kèm kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện L (Nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực
XXIV) ngày 22/4/2025).
1.2. Buộc bị đơn Nguyễn Thị Đ nghĩa vụ trả cho nguyên đơn
Nguyễn Thị Mỹ C g trị diện tích đất 1.275,833m
2;
thuộc một phần thửa đất s
730, tờ bản đ số 01, tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố C số tiền 178.663.867
đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi
bảy đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số A 767858 do y ban nhân dân huyện L,tỉnh c Trăng (cũ)
cấp ngày 02/01/1991, cho Nguyễn Th Đ đứng tên tại thửa số 730, tờ bản đ số
01, diện tích 4.160m
2
, mục đích sử dụng T/Lnk; tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố
Cần Thơ.
3. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận cho
Nguyễn Thị Mỹ C được quyền sử dụng phần đất diện tích theo đo đạc thực tế
1.275,833m
2
thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố Cần
Thơ.
Ngoài ra bản án tuyên về quyền kháng cáo, chi phí tố tụng và tiền án phí.
* Ngày 11/5/2026, bị đơn Nguyễn Thị Đ: kháng cáo toàn bộ bản án dân
sự thẩm đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ngày 12/5/2026, nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ C: kháng cáo một phần
bản án dân sự thẩm đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án đ nghị chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
13
* Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn: Vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, yêu cầu
chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu nhận giá trị phần đất.
* Đại diện uỷ quyền của bị đơn: Vẫn giữ yêu cầu kháng cáo cho rằng
nguyên đơn không chứng minh được yêu cầu khởi kiện, đề nghị bác yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ theo thủ tục phúc thẩm tại phiên tòa
hôm nay, đương sự Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét kháng cáo của nguyên đơn bị đơn
thấy rằng:
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn C, bị đơn Đ những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày trong vụ án đều thừa nhận phần
đất tranh chấp nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T6 (chết năm 1991) Phạm
Thị H4 (Nguyễn Thị H3, chết năm 1990). Ông T6 H4 08 người con chung.
Bị đơn C con của ông Nguyễn Văn C3 (đã chết).
Căn cứ vào hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Đ do Văn
phòng đăng đất đai tỉnh S (cũ) cung cấp, thấy rằng việc Đ được cấp quyền sử
dụng đất tranh chấp trên sở đơn xin đăng quyền sử dụng đất của bà Đ
ngày 20/9/1991 khai trong hộ 02 nhân khẩu, diện tích đất 4.160m
2
, loại đất
ruộng L+T+N,T+N, nguồn gốc chiếm dụng ruộng đất đất cũ. Sau đó, Đ được
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp quyền sử dụng phần đất trên
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 767858, cấp ngày 02/01/1992. Sau
khi được cấp quyền sử dụng thì Đ vẫn quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục trên
30 năm không ai tranh chấp, ngăn cản hay giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất bị quan thẩm quyền xác định cấp trái pháp luật.
Tòa án cấp thẩm nhận định sau khi cụ T6 cụ H4 qua đời, Đ đã quản
lý, sử dụng đất ổn định đến nay. C từ khi về n chồng đến nay không trực tiếp
quản lý, sử dụng đất hay đăng quyền sử dụng. Đ ng không thừa nhận việc
C cho rằng được cụ T6 cụ H4 cho 1/2 diện tích thửa đất số 730 nêu trên
Đ hoàn toàn không biết việc này trong q trình chung sống, đồng thời bà C cũng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ như văn bản tặng cho, hay biên bản thỏa
thuận bàn giao đất đúng sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, cấp thẩm
lại căn cứ lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị B1
14
(bút lục số 213, 214), C (bút lục số 220); người làm chứng ông Tăng Văn S1
(bút lục 229-230), ông Tăng Văn T9 (bút lục 133-134), Trương Thị M1 (bút lục
137-138) để xác định việc tặng cho đất bằng lời nói từ ông T6 H4 sang
cho C chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, công nhận cho C được
quyền sử dụng diện tích thuộc một phần thửa đất số 730 chưa đúng quy định
pháp luật. Bởi lẽ:
Thời điểm cụ T6 cụ H4 còn sống, hai cụ chưa xác lập hay đứng tên hợp
pháp QSD đất đối với thửa 730. Việc bị đơn Nguyễn Thị Đ khai đăng vào
ngày 20/9/1991 khai lần đầu, trên cơ sở nguồn gốc chiếm dụng đất cũ (BL59-
60). Bị đơn Đ sử dụng phần đất liên tục trên 30 năm không ai phát sinh tranh
chấp, hơn nữa thời hiệu về yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ T6 cụ H4
đều đã hết. Nguyên đơn không chứng minh được đây di sản của cụ T6, cụ H4 để
lại, cũng không có bất kỳ một giấy tờ hay văn bản nào thể hiện việc tặng cho đất.
Ngược lại bị đơn đã được xác lập, đăng hợp pháp quyền sử dụng đất từ năm
1991, các trình tự thủ tục đều đảm bảo theo quy định pháp luật nên việc Tòa án cấp
thẩm phân chia phần đất tranh chấp, công nhận ½ đất cho nguyên đơn C
sai sót, đánh giá không đúng bản chất, nội dung v án, làm ảnh hưởng đến
quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy bị đơn Đ kháng cáo đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ để xem xét, chấp nhận;
ngược lại, do yêu cầu kháng cáo của b đơn được chấp nhận nên không sở để
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị: áp dụng khoản 2, Điều 308, Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015: Sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, qua kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần
Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục t tụng: Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn bị đơn đều
đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật về người kháng cáo, thời hạn kháng
cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273
276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
15
Người quyền lợi, nghĩa v liên quan Triệu Thị Kim A, Nguyễn Thị
N1, ông Nguyễn Chí H, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị Thanh H1, ông
Nguyễn Thanh H2, ông Nguyễn Quốc T4, Nguyễn Thị Bích L, ông Nguyễn
Quang V1, ông Nguyễn Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
không do; người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đ; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Hồng C1, Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Văn M đơn đ nghị xét
xử vắng mặt; người làm chứng ông Tăng Văn S1 đã được triệu tập hợp l nhưng
vắng mặt đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, cấp phúc thẩm xét
xử vắng mặt đối với những người tham gia tố tụng nêu trên.
[2]. Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn bị
đơn đều kháng cáo. Xét kháng cáo của các đương sự thuộc phạm vi xét xử phúc
thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ phần bản án thẩm liên quan
đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3]. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự
đều thống nhất thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố
Cần Thơ nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn T6 cụ Phạm Thị H4 (còn gọi
Nguyễn Thị H3), cha mẹ của Đ ông Nguyễn Văn C3, cha của C1. Đây
tình tiết, sự kiện các bên đều thừa nhận nên không phải chứng minh theo khoản
2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc các đương sự thống nhất thửa
đất nguồn gốc của cụ T6, c H4 chỉ xác định được nguồn gốc ban đầu của thửa
đất, không đồng nghĩa với việc xác định cụ T6, cụ H4 đã tặng cho C1 ½ quyền
sử dụng thửa đất. Việc hay không việc tặng cho, nội dung tặng cho, diện tích,
ranh giới thời điểm tặng cho những tình tiết C1 phải chứng minh theo quy
định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, bởi đây căn cứ trực tiếp để C1 yêu
cầu công nhận quyền sử dụng đất đòi lại đất từ Đ.
[4]. C1 trình bày, t nhỏ sống cùng cụ T6 cụ H4; khi khoảng 12
tuổi, cụ T6 cụ H4 cho Đ mỗi người ½ thửa đất số 730 bằng lời nói,
những người trong thân tộc chứng kiến. C1 cho rằng do công chăm
sóc, phụng dưỡng cụ T6 cụ H4 nên được cho đất.
[4.1]. Xét lời trình bày này, thấy rằng ngoài lời trình bày của chính C1, hồ
vụ án không tài liệu, chứng cứ trực tiếp nào th hiện cụ T6 cụ H4 đã thực
hiện việc tặng cho C1 ½ thửa đất số 730. Không giấy tờ thể hiện việc tặng
16
cho; không biên bản giao nhận đất; không tài liệu xác định phần diện tích, vị
trí, ranh giới c thể C1 được cho; không tài liệu thể hiện C1 đã khai,
đăng quyền sử dụng đất đối với phần đất cho rằng đã được tặng cho.
[4.2]. Trong khi đó, tài liệu trong hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thể hiện ngày 20/9/1991 Đ đơn xin đăng quyền sử dụng đất đối với
thửa số 730, diện tích 4.160m
2
, khai trong hộ 02 nhân khẩu; sau đó Đ
được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số A 767858, số vào sổ 000219 ngày 02/01/1992 đối với toàn bộ thửa
đất.
[4.3]. Thời điểm bà Đ đăng quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng
nhận sau thời điểm C1 cho rằng đã được tặng cho đất. Tuy nhiên, C1
không tài liệu chứng minh đã đăng ký, khai hoặc ý kiến phản đối việc
Đ đăng toàn bộ thửa đất.
[4.4]. Từ năm 1989, C1 lập gia đình về T sinh sống; Đ tiếp tục
chung sống với cụ T6, cụ H4, trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Sau khi cụ T6 cụ
H4 qua đời, Đ tiếp tục quản lý, s dụng đất thực hiện các nghĩa vụ đối với
Nhà nước trong thời gian dài.
Như vậy, quá trình quản lý, sử dụng đăng đất trên thực tế thể hiện
Đ là người trực tiếp xác lập thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với toàn
bộ thửa 730 từ thời điểm đăng năm 1991, được cấp giấy chứng nhận năm 1992
liên tục quản lý, sử dụng đến nay. Việc C1 không trực tiếp quản lý, sử dụng
đất trong thời gian dài không đương nhiên làm mất quyền nếu C1 thực sự đã
được tặng cho; tuy nhiên, đây tình tiết cần được xem xét cùng với toàn bộ chứng
cứ để đánh g việc tặng cho C1 trình bày thực sự xảy ra hay không. Xét
toàn bộ chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy chưa đủ căn cứ xác định cụ T6 cụ H4
đã tặng cho C1 ½ thửa đất số 730 n C1 trình bày.
[5]. Về các lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm
chứng: Hồ vụ án lời khai của B1, C1, ông S1, ông T9, M1 ông
C2 về việc c T6 cụ H4 cho C1 Đ mỗi người một phần đất. Tuy
nhiên, cần đánh giá cụ thể giá trị chứng minh của từng lời khai.
[5.1]. Đối với ông Nguyễn Thành C2, ông xác định biết việc cụ T6 c H4
cho C1 một phần đất nhưng không chứng kiến trực tiếp chỉ nghe nói lại.
vậy, lời khai của ông C2 chỉ nguồn chứng cứ gián tiếp.
17
[5.2]. Đối với ông Nguyễn Hoàng S, tại Biên bản ghi lời khai ngày
05/3/2026, ông S trình bày nguồn gốc đất của cụ T6 cụ H4; ông bà ngoại
nói cho C1 Đ phần đất này nhưng ông không biết cụ thể chia cho mỗi
người như thế nào. Sau đó, tại Tờ tường trình ngày 12/3/2026, ông S thay đổi nội
dung trình bày, phủ nhận việc năm 2020 tranh chấp liên quan đến việc làm
đường xác định việc làm đường chỉ được thỏa thuận giữa ông với Đ vào năm
2024; đồng thời trình bày cụ T6, cụ H4 đã chia đất cho những người con những
người này đều được đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, lời khai của ông S sự thay đổi v những tình tiết quan trọng của
vụ án. Mặt khác, ông S cũng không phải nời trực tiếp chứng kiến việc cụ T6
cụ H4 thực hiện việc giao đất cho C1, không xác định được cụ thể diện tích
ranh giới phần đất C1 được cho. Do đó, xem xét lời khai ngày 05/3/2026
hay Tờ ờng trình ngày 12/3/2026 thì cũng không đủ sở để xác định việc tặng
cho quyền s dụng đất đối với C1 đã thực tế xảy ra.
[5.3]. Đối với lời khai của những người khác, phần lớn cũng chỉ xác định
nguồn gốc đất của cụ T6, cụ H4 hoặc nghe lại việc cụ T6, cụ H4 cho đất cho C1
Đ, nhưng không người nào đưa ra được tài liệu hoặc thông tin cụ thể,
thống nhất về thời điểm, diện tích, ranh giới và việc giao nhận phần đất C1
cho rằng nh được tặng cho.
Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ phải được
đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; phải xem xét từng chứng cứ, sự
liên quan giữa các chứng cứ giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Do đó,
không thể chỉ căn cứ vào sự tương đồng trong lời khai của một số người để kết
luận đã việc tặng cho quyền sử dụng ½ thửa đất cho C1, trong khi các chứng
cứ khách quan khác trong hồ lại thể hiện quá trình đăng ký, cấp giấy chứng
nhận sử dụng đất của Đ.
[6]. Đối với sự kiện ông Nguyễn Hoàng S làm lối đi qua phần đất tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án thể hiện khoảng năm 2019 âm lịch việc ông S làm lối
đi từ nhà ra đường phát sinh ý kiến giữa gia đình ông S với Đ; sau đó C1
ý kiến đồng ý cho ông S làm lối đi. Thấy rằng, sự kiện này nếu xảy ra cũng
chỉ sự việc phát sinh trong quá trình sử dụng đất thỏa thuận về việc đi lại.
Việc C1 đồng ý cho ông S làm lối đi không đương nhiên chứng minh C1
người quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ phần đất nơi lối đi. Mặt khác,
nội dung về sự kiện làm đường được những người tham gia trình bày không hoàn
18
toàn thống nhất về thời điểm, hoàn cảnh người tham gia. Riêng ông S sự thay
đổi đáng kể giữa lời khai ngày 05/3/2026 Tờ tường trình ngày 12/3/2026. Do đó,
không căn cứ s dụng sự kiện này như một chứng cứ độc lập để xác định C1
đã được cụ T6, cụ H4 tặng cho ½ thửa đất từ năm 1989.
[7]. Về việc áp dụng Án lệ số 03/2016/AL: Tòa án cấp thẩm để xác định
việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T6, cụ H4 với C1 Đ hiệu lực
pháp luật. Xét thấy: việc áp dụng án lệ trong trường hợp này chưa phù hợp.
[7.1]. Án lệ số 03/2016/AL xác định trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng
người con một diện tích đất; người được cho đã xây dựng nhà kiên cố trên đất để
làm nơi ở; trong quá trình xây dựng cha mẹ những người khác trong gia đình
không phản đối; người được cho s dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định,
khai đất được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất thì s xác định việc
tặng cho đã hoàn thành. nh tiết của vụ án này không tương đồng với tình huống
nêu trong án lệ.
[7.2]. Đối với ông C2, ông xác định biết việc c T6 cụ H4 cho bà C1 một
phần đất nhưng không chứng kiến trực tiếp chỉ nghe nói lại. vậy, lời khai
của ông C2 chỉ nguồn chứng cứ gián tiếp, không đủ để xác định cụ T6 cụ H4
đã trực tiếp thực hiện việc tặng cho C1 ½ thửa đất.
[7.3]. Đối với ông S, tại Biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2026, ông S trình
bày nguồn gốc đất là của cụ T6 cụ H4; ông ngoại i cho C1 Đ
phần đất này nhưng ông không biết cụ thể chia cho mỗi người n thế nào. Sau đó,
tại Tờ tường trình ngày 12/3/2026, ông S thay đổi nội dung trình bày, phủ nhận
việc năm 2020 tranh chấp liên quan đến việc làm đường xác định việc làm
đường chỉ được thỏa thuận giữa ông với Đ vào năm 2024; đồng thời trình bày
cụ T6, cụ H4 đã chia đất cho những người con những người này đều được đo
đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, lời khai của ông S sự
thay đổi về những tình tiết quan trọng của vụ án. Mặt khác, ông S cũng không phải
người trực tiếp chứng kiến việc cụ T6 cụ H4 thực hiện việc giao đất cho bà
C1, không xác định được cụ thể diện tích ranh giới phần đất C1 được cho.
Do đó, không đủ sở để xác định việc tặng cho quyền sử dụng đất đối với C1
đã thực tế xảy ra.
[7.4]. Đối với lời khai của những người khác, phần lớn cũng chỉ xác định
nguồn gốc đất của cụ T6, cụ H4 hoặc nghe lại việc cụ T6, cụ H4 cho đất cho C1
Đ, nhưng không người nào đưa ra được tài liệu hoặc thông tin cụ thể,
19
thống nhất về thời điểm, diện tích, ranh giới và việc giao nhận phần đất C1
cho rằng nh được tặng cho.
[7.5]. Đối với C1, không trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất mình
cho rằng được tặng cho; không xây dựng nhà, công trình trên phần đất này; không
khai, đăng quyền sử dụng đất; không được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất đối với phần đất yêu cầu công nhận. Ngược lại, Đ nời trực
tiếp quản lý, sử dụng đất; đã thực hiện việc đăng quyền sử dụng đất từ năm
1991 được cấp giấy chứng nhận đối với toàn bộ thửa 730 từ năm 1992, sau đó
tiếp tục quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài.
Như vậy, những tình tiết thực tế làm sở cho việc xác định việc tặng cho
trong Án lệ số 03/2016/AL không tương đồng với vụ án này. Do đó, không thể chỉ
dựa vào án lệ để suy đoán việc tặng cho quyền sử dụng đất cho C1 khi chứng
cứ trong hồ chưa đủ xác định việc tặng cho thực tế đã xảy ra.
[8]. Về chi phí tố tụng: do sửa án nên sửa lại phần tuyên về chi phí này.
Do C1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên C1 phải chịu toàn bộ chi phí
tố tụng 25.716.757 đồng.
[9]. V án phí dân sự thẩm: Đây tranh chấp quyền sử dụng đất nên tính
án phí không giá ngạch, cấp thẩm tính án phí chưa phù hợp nên cần điều
chỉnh lại án phí đã tuyên. Nguyên đơn C1 phải chịu 300.000 đồng án phí; Bị
đơn Đ không phải chịu án phí.
[10]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn do không được chấp nhận
kháng cáo nên phải chịu theo quy định, bị đơn được chấp nhận kháng cáo nên
không phải chịu án phí.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
20
1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hay trả giá trị
cho Nguyễn Thị M C được quyền sử dụng phần đất diện tích theo đo đạc
thực tế 1.275,833m
2
thuộc thửa 730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp N, Đ,
thành phố Cần Thơ.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số A 767858 do y ban nhân dân huyện L,tỉnh c Trăng (cũ)
cấp ngày 02/01/1991, cho Nguyễn Th Đ đứng tên tại thửa số 730, tờ bản đ số
01, diện tích 4.160m
2
, mục đích sử dụng T/Lnk; tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố
Cần Thơ.
3. Công nhận cho Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng đất và sở hữu cùng
toàn bộ cây trồng, tài sản trên đất diện tích đo đạc thực tế 3.827,5m
2
; tại thửa số
730, tờ bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp N, Đ, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số A 767858 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng
(cũ) cấp ngày 02/01/1991 cho Nguyễn Th Đ, số đo tứ cận: Hướng Đông
giáp lộ đal số đo 4,57m + 1,33m + 1,83m + 4,63m + 4,53m + 11,22m giáp
rạch s đo 12,57m + 12,12m giáp lộ đal số đo 9,85m + 9,09m; Hướng
Tây giáp đất Nguyễn Thị Hồng C1 số đo 11,29m + 14,81m giáp đất ông
Nguyễn Hoàng S số đo 33,12m; Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Thành C2
số đo 33,05m giáp đất ông Nguyễn Hoàng S số đo 57,31m; Hướng Bắc giáp
đất Nguyễn Thị B1 số đo 87,68m.
(Đính kèm kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện L (Nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực
XXIV) ngày 22/4/2025).
4. Về chi phí t tụng: Nguyên đơn C1 phải chịu tổng chi phí
25.716.757 đồng; số tiền này C1 đã nộp xong.
5. Về án phí dân s thẩm: Nguyên đơn C1 phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) nguyên đơn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) bao gồm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0006702 ngày 30/9/2024 của Thi
hành án dân sự thành phố Cần Thơ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án s 0012105 ngày 11/12/2025 của Thi
hành án dân sự thành phố Cần Thơ; như vậy C1 được nhận lại 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng).
21
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn C1 phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã đóng theo Biên lai thu
số 0009658 ngày 15 tháng 05 năm 2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ
thành án phí phúc thẩm.
Tường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự t người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 8 Luật Thi nh án dân sự; Thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Điều 36 Luật Thi hành án
dân sự.
7. Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
18/8/2026).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 9 - Cần Thơ;
- P.THADS khu vực 9 - Cần Thơ;
- Lưu hồ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất