Bản án số 255/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 255/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 255/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 255/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 255/2026/DS-PT Bản án số 255/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 255/2026/DS-PT Bản án số 255/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 255/2026/DS- PT
Ngày 25/8/2026
V/v tranh chấp lối đi chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên t: Bà Triệu Thị Luyện.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Chuyền, bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư phiên toà: Khánh Quỳnh– Thư Toà án nhân n tỉnh
Bắc Ninh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Thân Mạnh Thắng
- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/8/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 190/2026/TLPT-DS ngày 24/7/2026
về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
Do bản án dân sự thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 239/2026/QĐ-PT ngày
03/8/2026,Quyết định hoãn phiên tòa số 287/2026/QĐ-PT ngày 17/8/2026, giữa:
Nguyên đơn:
1. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh
2. Chị Lương Thị T, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Số nhà H, Khu phố A, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh ơng Gia Q, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn H, Đ, tỉnh Bắc
Ninh. (vắng mặt)
2. Anh Lương Gia Q1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, Đ, tỉnh Bắc
Ninh. (vắng mặt)
2
3. Chị Lương Thị T2 (tức T3), sinh năm 1987; địa chỉ: Số A, đường số H,
phường B, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
4. Anh Lương Gia T4, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn H, Đ, tỉnh Bắc
Ninh. (vắng mặt)
5. Chị Đào Thị T5, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn H, Đ, tỉnh Bắc Ninh.
(có mặt)
6. Chị Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn H, Đ, tỉnh Bắc Ninh.
(vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của T1, anh T4, chị Đào T5, chị H: Anh
Lương Gia Q, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)
7. UBND xã Đ, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
* Người kháng cáo: Bị đơn – anh ơng Gia Q (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự thẩm số 66/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tài liệu trong hồ thì nội
dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện, qtrình tố tụng tại phiên tòa, nguyên đơn là chị
Nguyễn Thị L và chị Lương Thị T thống nhất trình bày:
Gia đình các chị là những hộ dân sống ở thửa đất số 47, 48, tờ bản đồ số 22
thôn H, G (cũ) nay là thôn H, Đ giáp với thửa số 57 của gia đình anh
Lương Gia Q. Để đi vào những thửa đất của gia đình các chị thì 1 lối đi
chung bên cạnh thửa đất của anh Q, thửa đất của gia đình anh Q nằm ở đầu ngõ,
đầu lối đi. Lối đi chung này được hình thành từ nhiều chục năm về trước
được những gia đình sinh sống phía trong lối đi sử dụng ổn định, tôn tạo để
việc đi lại thuận lợi. m 2019, thôn tông hoá lối đi, gia đình anh Q đã ngăn
cản nên thôn chưa đổ được bê tông hết chiều rộng lối đi này, năm 2023, gia đình
anh Q xây dựng công trình trên thửa đất số 57 lấn ra lối đi chung, không xây
đúng ranh giới đất nên phát sinh tranh chấp với các hộ gia đình trong ngõ. Các
hộ dân trong ngõ sử dụng chung lối đi này đã trao đổi với gia đình anh Q, nhưng
gia đình anh Q không nghe tiếp tục xây dựng. Anh Q cho rằng gia đình đã
xây dựng đúng mô mốc, ranh giới đất của mình từ xưa đến nay, thậm chí còn
xây thụt lại so với mốc. Do vậy, các h gia đình trong ngõ anh Q không
thương lượng được nên đã phát sinh tranh chấp. Khi phát sinh tranh chấp thì
thôn, xã đã hoà giải nhưng không kết quả. Do vậy các chị khởi kiện: Đề nghị
Toà án công nhận phần đất diện tích 14,6m
2
theo kết quả đo đạc của Toà án
lối đi chung. Buộc gia đình anh Q phải tháo dỡ các công trình, tài sản trên
phần đất thuộc lối đi chung này để trả lại lối đi chung cho các hdân cùng sử
dụng.
3
Bị đơn là anh Lương Gia Q trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 57 tờ bản đồ số 22 tại H, xã G (cũ) của gia đình anh
của ông Lương Gia T6 đổi cho bố anh ông Lương Gia Đ năm 1990. Gia
đình anh quản lý, sử dụng đất ổn định từ đó đến nay không tranh chấp với ai.
Năm 2000, thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ
ông Lương Gia Đ với diện tích 476m
2
.
Lối đi chung hiện đang tranh chấp lối đi được hình thành từ khi nào anh
không biết nhưng năm 1990 gia đình anh tiếp quản thửa đất thì đã lối đi này.
Ban đầu, lối đi một đường mòn nhỏ, không rộng như hiện nay. Gia đình anh
không tranh chấp với bất kỳ hộ gia đình nào trong ngõ về lối đi. m 2023, khi
anh xây dựng nhà công trình trên đất thì phát sinh tranh chấp với các hdân
trong ngõ này. Các hộ dân cho rằng gia đình anh lấn ra lối đi chung. Thực tế gia
đình anh không lấn ra lối đi chung chút nào đã xây dựng thụt vào rất nhiều
so với ranh giới đất. Do vậy, việc các hộ dân khởi kiện anh tranh chấp lối đi
chung không đúng. Trên phần diện tích đất 14,6m
2
hiện các hộ dân khởi
kiện tranh chấp với anh 01 móng tường được gia đình anh xây dựng năm
2023 cùng thời điểm xây dựng nhà. Móng tường này đang xây dựng dở dang
được 2 -3 hàng gạch (xây chưa đều, chưa đủ, chưa xong) thì phát sinh tranh
chấp nên anh không tiếp tục xây dựng nữa.
Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị L, chị T các hộ gia
đình trong ngõ. Phần diện tích 14,6m
2
anh xác định đất của gia đình anh. Đề
nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, chT. Anh xác định
đồ mà toà án đã đo vẽ không đúng với hình dạng, ranh giới thửa đất của
gia đình anh từ năm 1990.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T1, chị Đào T5, anh T4, chị H
uỷ quyền cho anh Q,đồng ý với lời trình bày của anh Q. Đề nghị Toà án không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, chị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Q1 trình bày: Thửa đất số 57
hiện gia đình anh đang quản lý, sử dụng do bố anh ông Lương Gia Đ đổi cho
em trai Lương Gia T6 từ khoảng năm 1990. Sau khi đổi đất, được ông T6 chỉ
mốc thì bố anh xây dựng tường bao quanh thửa đất không có tranh chấp với
bất kỳ ai hàng xóm, đồng thời xây nhà trên đất và cả gia đình anh sinh sống
trên đất đến hiện nay. Thửa đất không có biến động gì. Năm 2000, thửa đất được
cấp giấy chứng nhận mang tên hộ ông Lương Gia Đ thửa 57. Thời điểm này
thửa đất được cấp theo diện các hộ gia đình tự khai thửa đất được đo đạc
bằng thước dây thủ công, không được đo đạc bằng máy móc. Lối đi bên cạnh
thửa đất số 57 hiện đang tranh chấp với những người dân trong thôn là một lối đi
nhỏ, mặt đường bằng đất, không rộng rãi như hiện nay. Lối đi này hình thành từ
4
lâu, khi nhà anh đến trên đất thì đã lối đi này rồi. Do ban đầu lối đi thấp
hơn đất nhà anh nhưng đến khoảng năm 2005, ngõ tôn tạo đổ đường cao hơn đất
nhà anh nên bờ tường nhà anh đã bị đổ về trong thửa đất 57, gia đình kinh tế khó
khăn nên không xây dựng lại được nữa cắm rào giữ đất (hàng rào cây
găng và một scây khác) hiện tại còn móng tường tồn tại đến hiện nay. Đây là
ranh giới đất nhà anh từ trước đến nay. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của chL, chị T. Trường hợp ngõ vẫn muốn mở rộng đường đi thời điểm này thì
nên cử người đến gặp mẹ anh và gia đình anh trao đổi cụ thể. Nếu ngõ không cử
người đến thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, anh
và gia đình chấp hành và theo kiện đến cùng. Trong thời gian Toà án tạm ngừng
phiên toà để anh thu thập chứng cứ móng tường nhưng tại phiên toà hôm
nay, anh không giao nộp được chứng cứ chứng minh có móng tường cũ gia đình
anh xây dựng từ năm 1990 trên phần đất tranh chấp.
UBND Đ trình bày: Lối đi chung hiện chị L, chị T đang tranh chấp với
anh Lương Gia Q lối đi được hình thành từ lâu đời tồn tại đến hiện nay.
Lối đi nằm giữa 2 thửa đất số 57 và 55 tờ bản đồ số 22 tại thôn H, xã G (cũ) nay
Đ. Thời điểm năm 2000 - 2002, nhà nước thực hiện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì lối đi được thể hiện trên bản đồ địa chính được phê duyệt
ngày 30/10/2002.
Năm 2019, thực hiện chuẩn hoá bản đồ, lối đi này cũng được thể hiện trên
bản đồ địa chính năm 2019. Hình thể, vị trí, kích thước lối đi thể hiện trên bản
đồ năm 2002 và 2019 không có sự biến động.
Quá trình các bên phát sinh tranh chấp, UBND G (cũ) nay Đ đã
tiến hành hoà giải nhưng không thành. Anh Q cho rằng lối đi hiện chị T, chị L
khởi kiện diện tích khoảng 15m
2
thuộc thửa đất số 57 của gia đình anh.
Hiện chị T, chị L khởi kiện yêu cầu anh ơng Gia Q trả lối đi chung diện
tích khoảng 15m
2
cho các hộ dân cùng sử dụng thì đề nghị Toà án căn cứ tài liệu
chứng cứ thu thập được bản đồ địa chính năm 2002, 2019 do UBND Đ,
tỉnh Bắc Ninh cung cấp để giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định và định giá
tài sản:
+ Kết quả thẩm định thể hiện: Hiện trạng lối đi tứ cận phía Đông giáp
thửa 55, tờ bản đồ số 22; phía Tây giáp thửa 57, tờ bản đồ số 22; phía Bắc giáp
thửa đất nhà ông Trần Văn H1; phía Nam giáp đường đê liên thôn.
Tài sản trên phần đất tranh chấp: không mô tả.
+ Kết quả định giá: 9.931.000đ/m
2
, phần diện tích đất tranh chấp giá:
144.993.000đồng.
5
Toà án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, lấy lời khai ca những người
làm chứng gồm: Trịnh Thị T7, Trần Thị N, Nguyễn Thị B, ông Trần Văn
X thể hiện: Lối đi chung được hình thành từ đời các cụ ngày xưa và tồn tại đến
hiện nay. Lối đi được người dân sinh sống trong ngõ tôn tạo hàng năm. Hình thù
lối đi không được thẳng mà khúc khuỷu nhưng lối đi chung này có chiều rộng từ
đầu lối đi đến gần ngã ba cuối lối rộng đều khoảng 3m đến 3,2m. Quá trình sử
dụng lối đi chung, gia đình anh Q lấn chiếm nhiều lần nên lối bị hẹp lại không
còn đủ chiều rộng 3m 3,2m như ban đầu. Năm 2019, khi thôn, các hộ
dân trong ngõ đổ bê tông mặt lối đi thì anh Q lấn chiếm lối đi chung, không cho
đổ đường đúng ranh giới lối đi vốn có. Do vậy, hiện trạng lối đi hiện nay chỉ còn
là một lối đi nhỏ.
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự thẩm s66/2026/DS-ST ngày 04
tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 155, 157, 165, 166, 228, 264, 266,
271, 273 và 277 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 254 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 4, Điều 203 Luật đất đai năm 2013
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Công nhận phần đất diện tích 14,6m
2
giáp ranh cạnh Đông thửa đất
số 57, tờ bản đồ số 22 tại thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh lối đi chung của các
thửa đất số 55, 57, 47, 48, 50, 51, 52 được giới hạn bởi các điểm 1’, 2, 3, 4, 5,
6’, B’, A’, 1’ trên kết quả trích đo hiện trạng thửa đất số 57 ngày 18/9/2025 của
công ty Cổ phần Đ1 (có sơ đồ kèm theo).
1.2. Buộc anh Lương Gia Q và các thành viên khác trong gia đình phải tháo
dỡ toàn bnhững tài sản, công trình xây dựng trên phần diện ch 14,6m
2
được
giới hạn bởi các điểm 1’, 2, 3, 4, 5, 6’, B’, A’, 1’trên kết quả trích đo hiện trạng
thửa đất số 57 ngày 18/9/2025 của công ty Cổ phần Đ1 để trả lại lối đi chung.
2. Án phí: Anh Lương Gia Q phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả chị Nguyễn Thị L, chị Lương Thị T số tiền tạm ứng án phí
1.875.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí sBLTU/24/0001100 ngày
17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Bắc Ninh.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Anh Lương Gia Q
phải chịu 16.300.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định định giá tài sản.
Chị Nguyễn Thị L chị Lương Thị T đã nộp tạm ứng tiền thẩm định, định giá.
Do vậy, anh Lương Gia Q phải trả chị L, chT số tiền 16.300.000 đồng.
6
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm: Ngày 16/6/2026, bị đơn anh Lương Gia Q nộp đơn
kháng cáo, đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với kháng cáo của bị
đơn.
Bị đơn- anh Lương Gia Q trình bày: Anh kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Gia đình bị đơn sdụng
thửa đất 57 từ năm 1989 đến nay, quá trình sử dụng gia đình bị đơn đã xây
tường bao quanh thửa đất tnăm 1990 đến nay không thay đổi gì, riêng tường
bao cạnh giáp lối đi chung của thôn đã bị đổ chỉ còn lại móng tường. Đến năm
2023 khi gia đình anh xây nhà có xây tường tại vị trí giáp với lối đi chung nhưng
mới xây được vài hàng gạch thì bị ngăn cản nên dừng lại. Hiện trạng trên phần
đất tranh chấp có vài hàng gạch xây từ năm 2023. Thửa đất số 55 giáp đường đi
chung của thôn, hiện là thửa đất trống, cạnh giáp đường đi chung đã xây tường
bao, tường bao được xây lùi, phần giáp đường bê tông là đất trống.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đào Thị T5 nhất trí với trình bày
của anh Lương Gia Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp
phúc thẩm: Hội đồng xét xử Thư phiên tòa đã thực hiện đầy đđúng
các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng n sự. Những người tham gia tố
tụng mặt tại phiên tòa chấp hành nội quy phiên tòa thực hiện đầy đủ
quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh Lương Gia Q, giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số 66/2026/DSST ngày 04/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 -
Bắc Ninh.
-Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lương Gia Q phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]Về sự vắng mặt của đương sự: Một số người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt hoặc người đại diện tham gia
phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vụ án.
7
[2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Qúa trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định lối đi vào các
thửa đất số 57 (của gia đình anh Q), thửa đất 47 (của gia đình chị Nguyễn Thị
L), thửa 48 (của gia đình chị Lương Thị T) các thửa đất 86,87, 50, 51, 52 tại
thôn H, Đ, tỉnh Bắc Ninh được hình thành từ lâu đời. Bản đồ địa chính năm
2002 thể hiện một lối đi chung nằm giữa 2 thửa đất số 55 thửa đất s57,
tờ bản đồ số 22, lối đi này dẫn vào các thửa đất 47, 48, 49, 50, 51, 52 thôn H,
Đ; lối đi thể hiện trên bản đồ thửa GT 56, diện tích 315m
2
. Bản đồ địa
chính năm 2019 thể hiện có một lối đi chung nằm giữa 2 thửa đất số 55 và 57, tờ
bản đồ số 22, lối đi này dẫn vào các thửa đất 47, 48, 86, 87, 50, 51, 52 thôn H,
Đ; lối đi thể hiện trên bản đồ là thửa GT 56, diện tích 315m
2
. UBND Đ
xác định: Lối đi chung được hình thành từ lâu đời, các hộ dân sinh sống trong
khu vực ngõ đi này vẫn sử dụng lối đi này, trước đây lối đi đường đất, đến
khoảng năm 2016 – 2017 được bê tông hoá.
[2.2] Anh Q trình bày thửa đất 57 tờ bản đồ 22 gia đình anh Q sử dụng liên
tục, ổn định từ năm 1989, tcận thửa đất gia đình anh đã xây tường bao quanh
đất từ năm 1990 đến nay, riêng cạnh giáp đường đi chung từ năm 2013 không
còn tường bao do bị đổ. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp
giấy chứng nhận 000025 QSDĐ ngày 25/10/2000 thì hộ ông Lương Gia Đ được
quyền sử dụng diện tích tại thửa đất 57 là 476m
2
; kết quả đo đạc hiện trạng thửa
đất 57 diện tích 488,9m
2
. Anh Q đề nghị Toà án giải quyết đất của gia đình anh
theo giấy chứng nhận.
[2.3] Theo kết quả đo đạc hiện trạng các thửa đất cùng lối đi chung, sau
khi chồng ghép bản đồ địa chính thấy: Lối đi phần diện tích đất với điểm đầu
nằm giữa 2 thửa đất số 55 và 57 tờ bản đồ số 22 tại thôn H, xã Đ kéo dài đến hết
thửa đất số 52 có hình dạng khúc khuỷu, các chỗ rộng, hẹp khác nhau. Phần phát
sinh tranh chấp điểm đầu của lối đi nằm giữa 2 thửa đất số 55 57. Cạnh
Đông lối đi tiếp giáp với cạnh T8 thửa 55. Hiện thửa 55 đất trống đã xây
tường bao cạnh T, phần tường bao này đã xây lùi lại so với ranh giới thửa đất
trên bản đồ địa chính. Cạnh T8 lối đi hiện mép đường tông tiếp giáp với
cạnh Đông của thửa đất số 57 hiện gia đình anh Q đang quản , sdụng. Trên
bản đồ địa chính thể hiện cạnh Đông thửa đất số 57 gồm 3 đoạn, trên kết quả đo
đạc của Công ty cổ phần Đ1 bản đồ BND các đoạn được đánh dấu như sau:
Đoạn thứ nhất từ 1-1’; đoạn thứ 2 từ 1’ –B’. Đoạn thứ 3 từ B’ D’. Mép đường
tông tiếp giáp thửa 57 hiện lối đi chung được thể hiện trên kết quả đo đạc
các điểm 2, A’’, 3, 4, B’’, C’’, 5, 6’, 6. Tính từ các điểm theo mép đường
tông tiếp giáp với thửa 57 đến ranh giới thửa đất số 57 theo ranh bản đồ địa
chính thấy các điểm này không trùng khít với nhau mà độ rộng ở các vị trí từ
8
điểm A’’ đến A’ = 0,64m; điểm B’’ đến B = 0,82m; điểm C’’ đến C’ = 1,5m.
Nối các điểm theo ranh giới bản đồ địa chính của thửa đất số 57 với các điểm là
mép đường tông tiếp giáp thửa đất số 57 được diện tích 14,6m
2
cụ thể c
điểm: 1’, 2, 3, 4, 5, 6’, B’, A’, 1’.
[2.4] Căn cứ bản đđịa chính năm 2002 năm 2019, lời trình bày của
UBND xã Đ thấy vị trí lối đi chung, hình dạng, kích thước lối đi qua các thời kỳ
lập bản đồ không biến động. Căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, kết
quả chồng ghép bản đđịa chính với hiện trạng sử dụng thửa đất 57 tờ bản đồ
22 thì diện tích 14,6m
2
được nối bởi các điểm: 1’, 2, 3, 4, 5, 6’, B’, A’, 1’ nằm
trong ranh giới của lối đi chung nhưng hiện gia đình anh Q đang sử dụng.
[2.5] Anh Q, chị T5 xác định trên diện tích 14,6m
2
có 1 móng tường do gia
đình anh đang xây dựng dở dang được 2 -3 hàng gạch (xây chưa đều, chưa đủ,
chưa xong) thì phát sinh tranh chấp nên anh không tiếp tục xây dựng nữa. Do
phần diện tích đất nêu trên lối đi chung, không thuộc quyền sử dụng của
nhân hoặc hộ gia đình nào thuộc quyền quản của UBND Đ, tỉnh Bắc
Ninh nên anh Q nghĩa vụ phải tháo dỡ toàn bộ móng tường xây,tài sản công
trình trên phần diện tích đất 14,6m
2
để trả lại lối đi chung cho các hộ gia đình
cùng sử dụng.
[2.6] Từ những căn cứ, phân tích nêu trên thấý Tòa thẩm chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị đơn không
cung cấp được tài liệu chứng cứ mới làm căn cứ kháng cáo nên không có căn cứ
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần ginguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề
nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
anh Lương Gia Q phải chịu án pdân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ
luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của anh Lương Gia Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 66/2026/DS-ST
ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 9- Bắc Ninh.
2.Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự; khoản 1 Điều 29 số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí, lệ phí Tòa án: Anh Lương Gia Q phải chịu 300.000đồng án phí dân
sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí anh Q đã
9
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005616 ngày 16/6/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận anh Lương Gia Q đã nộp đủ tiền án phí dân
sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân Khu vực 9- Bắc Ninh;
-Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng Thi hành án Khu vực 9 – Bắc Ninh;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP
Triệu Thị Luyện
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 255/2026/DS-PT Bản án số 255/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 255/2026/DS-PT Bản án số 255/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất