Bản án số 1165/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1165/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1165/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1165/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà D đòi ông H trả quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1165/2026/DS-PT Bản án số 1165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1165/2026/DS-PT Bản án số 1165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Bản án số: 1165/2026/DS-PT
Ngày: 27 - 8 - 2026
V/v: "Tranh chấp quyền sử dụng đất,
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
- Các thẩm phán: Phan Thị Tuyết Mai
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Trần Thảo Ngân - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 27 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
1410/2026/TLPT-DS ngày 22/7/2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Do bản án Dân sự thẩm số
182/2026/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13
Cần Thơ có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1505/2026/QĐ-
PT ngày 24 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tạ Thị D, sinh năm: 1966; Nơi trú: Ấp L, xã L, huyện
P, tỉnh Hậu Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Sỹ K, sinh năm 1952; địa chỉ: số
A T, phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Tạ Bảo H, sinh năm 1997; Nơi trú: Ấp L, L, huyện P, tỉnh
Hậu Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ; (có mặt)
2
2. Ông Tạ Văn L, sinh năm 1970; Nơi trú: Ấp L, L, huyện P, tỉnh
Hậu Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người đại diện theo y quyền của ông L: Ông Nguyễn Chí Hùng M, sinh
năm 1958; Nơi cư trú: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tạ Bảo A, sinh năm 1994; Nơi trú: Ấp L, L, huyện P, tỉnh
Hậu Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh
Hậu Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3. Tạ Thị H1, sinh năm 1949; Nơi trú: Ấp L, L, huyện P, tỉnh Hậu
Giang nay là ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
4. TMỹ L1, sinh năm 1954; Nơi trú: Ấp Đ, Đ, huyện C, tỉnh
Hậu Giang nay là Ấp Đ, xã P, thành phố Cần Thơ.
5. Bà Tạ Ngọc Đ, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ H, khu vực Bình Phó A,
phường L, Quận B, thành phCần Thơ nay Tổ H, khu vực Bình Phó A, phường
L, thành phố Cần Thơ.
6. Ông Tạ Văn R, sinh năm 1965; Nơi trú: Ấp P, P, huyện P, tỉnh
Hậu Giang nay là ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền Tạ Thị H1, Tạ Ngọc Đ, Tạ Mỹ L1, Tạ Văn R:
Tạ Thị D, sinh năm 1966. (có mặt)
7. Tạ Thị T, sinh năm 1960; địa chỉ: T, Huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay
là: xã T, thành phố Cần Thơ);
8. Tạ Thị Mỹ E, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp L, L, huyện P, tỉnh Hậu
Giang (nay là: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ)
9. Tạ Thị Mỹ T1, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp N, T, huyện P, tỉnh Hậu
Giang (nay là: ấp N, xã T, thành phố Cần T)
10. Tạ Hoàng T2, sinh năm 1979; p L, L, huyện P, tỉnh Hậu Giang
nay là: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ)
11. Tạ Thị Cẩm N, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố
N, Tỉnh Hậu Giang (này là: Khu V, phường N, thành phố Cần T).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí Hùng M, sinh năm 1958;
Nơi trú: Ấp L, L, huyện P, tỉnh Hậu Giang nay là ấp L, T, thành phố Cần
Thơ. (có mặt)
3
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1933; Nơi trú: Ấp L, T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
2. Ông Phan Văn B; Nơi trú: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. (vắng
mặt)
3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961; Nơi trú: Ấp L, xã T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
4. Ông Phạm Hữu T4, sinh năm 1972; Nơi trú: ấp L, T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
5. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1954; Nơi cư trú: p L, T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Tạ Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Tạ Thị D có đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp với các bị đơn ông Tạ Văn L, ông Tạ Bảo
H, ông Tạ Bảo A do cha mẹ của nguyên đơn là cụ Tạ Văn D1 (chết năm 2002)
và cụ Nguyễn Thị H2 (chết 2006) để lại thuộc thửa số 86 và thửa số 87 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất tạm thời ngày 30/9/1996 đứng tên cụ
Nguyễn Thị H2 và phần đất này chưa được chia thừa kế.
Vào năm 1996 H2 thế chấp toàn bộ thửa 86, 87 đvay Ngân hàng,
các anh chị em trong gia đình thoả thuận ai trả tiền vốn và lãi cho Ngân hàng
thì thuộc quyền sử dụng đất tại thửa 86 87 của người đó. Khoảng năm 2012,
D đứng trả toàn bộ nợ Ngân hàng, đã giải chấp trực tiếp quản lý, sử dụng
quản sử dụng thửa 87 cho đến nay. ng năm 2012, ông Tạ Văn L đã ngang
nhiên lấn chiếm phần đất thuộc thửa 87 với diện tích lúc đầu chngang 4m sau đó
thì lấn chiếm nhiều hơn lên đến 283,5m
2
như kết quả đo đạc. Nguyên đơn nhiều
lần ngăn cản mời chính quyền địa phương đến đlàm việc động viên nhưng
không lập biên bản, sau khi động viên thì nguyên đơn đồng ý cho bị đơn Tạ
Văn L ở nhờ và cất nhà.
Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn Tạ Văn L trả lại phần đất đã lấn chiếm theo
kết quả mảnh trích đo địa chính số 94/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ
thiết kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025 tại vị trí số III diện tích là 283,5m
2
,
tại thửa số 87, đất toạ lạc tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đồng ý
hỗ trợ di dời đối với căn nhà của ông L đang ở. Đồng thời, yêu cầu chia thừa kế
4
đối với thửa đất số 86 theo kết quả đo đạc mảnh trích đo địa chính số 93/CHK của
công ty cổ phần Đ3 bản đồ thiết kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025, nguyên
đơn yêu cầu được nhận 1/6 kỷ phần, tương đương nhận phần đất diện tích 980m
2
,
tọa lạc tại tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
Tại phiên tòa thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày: Khi H2 còn sống vay của ngân hàng số tiền 14.000.000 đồng nhưng
không có khả năng trả nợ nên nguyên đơn mới đứng ra trả toàn bộ số nợ gồm nợ
gốc 14.000.000 đồng và nợ lãi tổng số tiền là 32.000.000 đồng để lấy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ra. Thời điểm trả nợ là năm 2014 sau khi H2 chết
các anh chị em trong gia đình thống nhất nếu ai đứng ra trả số nợ thì sẽ được
quyền sử dụng đối với phần đất tại thửa số 87 đến năm 2023 mới văn
bản thỏa thuận này nhưng không tài liệu, chứng cứ để chứng minh. trình
bày nguyên nhân văn bản thỏa thuận này khi xảy ra tranh chấp với bị đơn năm
2022 để làm sở giải quyết tranh chấp. Đối với căn ntrên phần đất tranh chấp
bị đơn ông L đang sdụng là ông L xây năm 2012 sdụng cho đến nay do nhà
nước cho nhà tình nghĩa nhưng D không ngăn cản cho đến năm 2023 mới
tranh chấp giải quyết tại địa phương.
Đối với phần đất tranh chấp với bị đơn ông Tạ Bảo H tại thửa 86 có nguồn
gốc của gia đình nhưng đã cho người em ông Tạ Văn Đ1 sử dụng hơn hai
mươi năm cất nhà trên đất nhưng không ai tranh chấp ông Đ1 đã chết
năm 2002 hiện nay do vợ con ông Đ1 canh tác sử dụng nguyên đơn yêu cầu
chia phần đất này, yêu cầu được nhận bằng tiền (sáu người thừa kế của H2 gồm
Tạ Thị H1, Tạ Mỹ L1, Tạ Ngọc Đ, ông Tạ Văn R, Tạ Thị D; người
kế thừa của ông Tạ Văn Đ1 gồm Tạ Bảo H, Tạ Bảo A, Nguyễn Thị P đề nghị chia
pheo pháp luật.
Đối với phần nhà của ông D1, sau khi ông D1 qua đời, căn nđã xuống
cấp và tháo dỡ thì bà Tạ Thị H1 mới rước cụ H2 về nhà bà Tạ Thị H1 để nuôi,
đất bỏ trống đến khi 2006 cụ H2 mất, đến khoảng năm 2012 Ngân hàng mới yêu
cầu phát mãi hai thửa đất thì gia đình mới họp và thống nhất ai trả nợ Ngân hàng
thì giao đất để quản sử dụng thửa 87, khi đó bà Tạ Thị D mới trả Ngân hàng
chuộc hai thửa 86, 87 ra nhưng điều kiện gia đình đặt ra chỉ giao một thửa thửa
87 để sở hữu và khi D nhận đất thì phần đất phần đất trống đã hơn 10 năm
không còn căn nhà khi đó bà D mới cất căn nhà mới như hiện trạng thẩm định.
- Bị đơn anh Tạ Bảo H trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, phần đất tại thửa số 86 bị đơn và gia đình đang quản sử
dụng có nguồn gốc từ ông nội là cụ Tạ Văn D1 cho cha bị đơn là ông Tạ Văn Đ1
5
quản sdụng từ năm 1993 đến khi mất năm 2002, hiện tại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại thửa số 86 do ông Tạ Văn Đ1 đứng tên.
Tại phiên tòa thẩm phía các bị đơn trình bày: Yêu cầu được nhận một
nền nhà tại phần đất thửa 87 và ổn định diện tích đất thửa 86 cho bị đơn.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Tạ Văn Lông Nguyễn
Chí Hùng M trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về việc yêu cầu giao trả một phần diện tích đất tại thửa số 87. Nguồn gốc
phần đất tại thửa số 87 là của ông cụ Tạ Văn C cho cụ TVăn D1 nhờ. Đến năm
2012, ông L không có chỗ ở, khi đó ông L mới trao đổi với gia đình nguyên đơn
Tạ Thị D xin cất nhà, sau khi trao đổi thống nhất thì địa phương mới cất nhà tình
thương cho ông L và sử dụng đến nay, tại các biên bản họp gia đình biên bản
hòa giải cơ sở đều xác định đây là phần đất của cụ Tạ Văn C. Nay, yêu cầu được
ở ổn định.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà TThị H1, TMỹ L1,bà
Tạ Ngọc Đ, ông Tạ Văn R văn bản trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp
của cụ Nguyễn Thị H2 chưa được khai nhận cho ai Quyền sử dụng đấ tại các
thửa: 86, diện tích: 6.500m
2
, MĐSD: 2L thửa đất số 87, diện ch: 1.250m
2
,
MĐSD: T+LNK, tọa lạc tại: ấp L, L, huyện P, tỉnh Cần Thơ (Nay ấp L,
L, huyện P, tỉnh Hậu Giang) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất tạm
thời số: 7192/HĐCG.CNRĐ Do Hội đồng cấp Giấy chứng nhận ruộng đất huyện
P, tỉnh Hậu Giang cũ cấp ngày 20/9/1996.
Do lúc còn sống, cụ H2 có dùng Giấy chứng nhận này để cụ vay tiền Ngân
hàng A1 chưa trả nợ, cho tới khi cha mđều lần lượt qua đời. Mãi đến năm 2013-
2014, ngân hàng P3 đòi nợ đã vay với tổng số tiền 32.762.500 đồng. Khi đó, các
anh em họp gia đình trong hàng thừa kế nếu ai là người đứng ra trả nợ cho ngân
hàng thay cụ H2 thì người đó sẽ được quyền sở hữu thửa đất số 87, diện tích:
1.250m
2
, MĐSD: T+LNK bao gồm luôn phần mmả để thờ cúng ông cha mẹ,
lúc này con gái tên Tạ Thị D, sinh năm: 1966 đứng ra trả hết nợ ngân hàng, cất
giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất bản gốc sử dụng ổn định toàn
bộ thửa đất số 87, diện tích: 1.250m
2
, MĐSD: T+LNK đến nay.
Đối với thửa đất số 86, diện tích: 6.500m
2
, MĐSD: 2L còn lại thì hiện nay
do cháu ruột là Tạ Bảo H và Tạ Bảo A (con của em trai Tạ Văn Đ1 đã chết vào
năm 2002) đang quản lý, sử dụng không yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 86,
diện tích: 6.500m
2
, MDSD: 2L.
6
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày:
thống nhất với trình bày của anh Tạ Bảo H, không đồng ý chia thừa kế thửa đất
số 86 theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà là vợ ông Đ1, phần đất tại thửa
số 86 của ông Đ1 được cha chồng cụ Tạ Văn D1 cho quản sử dụng từ năm
1994, đến năm 2002 ông Đ1 mất thì tài sản này thuộc về các con của ông Đ1
anh Tạ Bảo H và anh TBảo A. Năm 1999 gia đình bà có cầm cố cho ông Lê Văn
Đ2 ông Trần Xuân V địa phương, sau này đến năm 2013 tgia đình mới
chuộc lại và sử dụng đến nay. Khi còn sống thì cụ D1 có chia đất cho các anh em
trong gia đình nhưng các anh em không nhận, chỉ người anh thứ 8 ông Tạ
Văn L2 ông Tạ Văn Đ1 nhận đất, phần còn lại không chia thì cD1 đã bán hết,
khi mất cụ để lại toàn bộ thửa 86 ông Đ1.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tạ Bảo A thống nhất với trình
bày của anh Tạ Bảo H, bà Nguyễn Thị P và không trình bày bổ sung.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2026/DSST ngày 29/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13– Cần Thơ đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tạ Thị D về việc
buộc ông Tạ Văn L trả lại phần đất diện tích 283,5m² thuộc thửa số 87, theo hệ
thống bản đồ 299 (vị trí số III của mảnh trích đo địa chính số 94/CHK của công
ty cổ phần Đ3 bản đồ và thiết kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025).
Công nhận phần diện tích đất 283,5m² thuộc thửa số 87, theo hệ thống bản
đồ 299 (vị trí số III của mảnh trích đo địa chính số 94/CHK của công ty cổ phần
Đ3 bản đthiết kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025) cho các đồng thừa kế của
Nguyễn Thị H2 gồm bà Tạ Thị H1, Tạ Mỹ L1, Tạ Ngọc Đ, ông Tạ Văn
R, bà Tạ Thị D.
Buộc Tạ Thị H1, Tạ Mỹ L1, Tạ Ngọc Đ, Tạ Văn R, Tạ Thị D trả giá tr
công trình xây dựng cho bị đơn ông Tạ Văn L với số tiền 118.528.175 đồng (một
trăm mười tám triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, một trăm bảy ơi lăm đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Tạ Thị D về việc chia thừa
kế quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 86 theo hệ thống bản đồ 299 (vị trí số I
của mảnh trích đo địa chính số 93/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ và thiết
kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025).
Công nhận diện tích đất 5880,1m
2
cho anh Tạ Bảo H, anh Tạ Bảo A,
Nguyễn Thị P tại thửa đất số 86 theo hthống bản đồ 299 (vị trí số I của mảnh
7
trích đo địa chính số 93/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ và thiết kế xây dựng
Đ3 lập ngày 05/5/2025).
Có đính kèm mảnh trích đo địa chính
Các đương sđược quyền liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để thực
hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp
luật nếu có đủ điều kiện.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu
thi hành án mà bị đơn chưa thanh toán, thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi cho
nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s
năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự thẩm, chi pđo đạc
thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 13 Cần Thơ đã
tuyên xử. Nguyên đơn bà Tạ Thị D đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:Nguyễn Sỹ K đại diện ủy quyền cho Tạ Th
D trình bày: Do D btiền ra trả nợ cho ngân hàng nên các anh chị em trong
nhà cho bà D được hưởng thửa đất số 87. Thửa đất 86 cha mẹ bà D c còn sống
chưa phân chia cho ai. Nay, các anh chị, em gồm H1, L1, ông R, Đ
đồng ý nhường kỉ phần thừa kế cho bà D nên bà D được hưởng 5/6 kỉ phần thừa
kế thửa đất này. Giá trị thẩm định tại thửa 86 là gần 800 triệu đồng nhưng D chỉ
yêu cầu hàng thừa kế của ông Đ1 trả 300.000.000 đồng. Đối với phần đất ông L
ở nhờ yêu cầu ông L trả đất, bà D không chấp nhận bồi thường.
Ông Nguyễn Chí Hùng M đại diện cho bị đơn ông Tạ Văn L trình bày: Đất
ông L đang của cha cTạ Văn C cho cụ D1 nhờ, ông L được chính quyền
địa phương cất nhà tình thương tnăm 2012 đến nay. Ông yêu cầu được tiếp
tục ở, không đồng ý trả đất.
Anh Tạ Bảo H, anh Tạ Bảo A, Nguyễn Thị P cùng trình bày: Không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà D. Yêu cầu bà D phải cho 01 nền nhà ở thửa 87
công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 86 cho các con của ông Đ1 lúc còn
sống đã được các cụ tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ giải
quyết cấp phúc thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
8
Xét tính căn cứ, hp pháp ca kháng cáo: Ngày 29/4/2026, Tòa án nhân
dân khu vc 13 Cần Thơ mở phiên tòa xét x thẩm v án dân s v vic
“Tranh chp quyn s dụng đt, tranh chp tha kế tài sn”. Tuyên án ngày
29/4/2026.
Ngày 11/5/2026 nguyên đơn T Th D đơn kháng cáo np cho Tòa
án.
Ngày 12/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 Cần Thơ ra Quyết
định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm ngày 12/5/2026 Tòa án nhân
dân khu vực 13 Cần Thơ nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực
13 Cần Thơ.
Do đó, về hình thức thời hạn kháng cáo, kháng nghị là đúng theo quy
định tại Điều 272, khoản 1 Điều 273, Điều 279 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015, nên kháng cáo, kháng nghị là hợp lệ.
Về quan điểm gii quyết v án dân s:
Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện KSND khu vực A2 Cần
Thơ và kháng cáo của nguyên đơn Tạ Thị D, nhận thấy:
Thửa đất số 86 (diện tích 6.500 m²) thửa đất số 87 (diện tích 1.250 m²)
tọa lạc tại ấp L, T, thành phố Cần Thơ đã được UBND cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị H2 vào năm 1996. Đây tài sản
chung hợp pháp tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của cụ Tạ Văn D1 (chết năm 2002)
cụ Nguyễn Thị H2 (chết năm 2006). Do hai cụ qua đời không để lại di chúc,
căn cứ quy định tại Điều 609, Điều 650 Bộ luật Dân sự BLDS 2015, hai thửa đất
nêu trên là di sản thừa kế hợp pháp của hai cụ chưa được phân chia.
Trong quá trình chung sng c D1 c H2 06 con chung gm: T
Th H1, bà T M L1, bà T Ngọc Đ, ông T Văn R, bà T Th D và ông T Văn
Đ1 đã chết vNguyn Th P, con T Bo A, T Bo H, ngoài ra không
con chung, con riêng, cha m hai c đã chết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế thuộc hàng thnhất của
hai cụ gồm bà Tạ Thị H1, Tạ Mỹ L1, bà Tạ Ngọc Đông Tạ Văn R đều đã
lập văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án với nội dung: tự nguyện nhường toàn bộ
kỷ phần di sản thừa kế của họ cho bà Tạ Thị D được toàn quyền nhận hiện vật, sử
dụng làm nơi thờ cúng cha mẹ. Ý chí tự nguyện của 4 đồng thừa kế này hoàn toàn
tuân thủ quy định pháp luật về định đoạt quyền tài sản, không vi phạm điều cấm
của luật không trái đạo đức hội. D chỉ yêu cầu được nhận hiện vật
toàn bộ thửa 87, không yêu cầu các đồng thừa kế khác trả lại số tiền mà nguyên
9
đơn bỏ ra để giải chấp ngân hàng lấy giấy về lợi đối với phía vợ con ông
Đ1. Do đó giao toàn b tha s 87 (din tích 1.250 m²) cho bà T Th D làm nhà
th cúng cha m da trên vic D đã trực tiếp b tin nhân ra chuc giy
chng nhn t ngân hàng v.
D được hưởng 5/6 din tích tha 86 (do nhn 4 phần nhường lại). Nhưng
ghi nhn s t nguyn ca D nhưng li toàn b hin vt tha đất nông nghip
s 86 (din tích thực đo 5.880,1 m²) cho v và các con ông Đ1 (bà P, anh H, anh
A) để h sn xut, ổn định cuc sống. Đổi li, buộc gia đình vợ con ông Đ1 là bà
Nguyn Th P, anh T Bo A, anh T Bo H nghĩa vụ thi hoàn li bng tin
cho D giá tr chênh lch k phần là 300.000.000 đồng, s t nguyn này ca
bà D là có li cho v con ca ông Đ1.
Ông Tạ Văn L cho rằng phần đất 283,5 m² thuộc thửa 87 có nguồn gốc do
cụ Tạ Văn C cho ở. Tuy nhiên, hồ địa chính khẳng định phần đất ông L sử
dụng nằm trong thửa 87 đứng tên cụ Nguyễn Thị H2 được cấp từ năm 1996. N
nước đã công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho cụ H2 nên việc ông L tự ý
cất nhà trên đất vào năm 2012 không bất kỳ văn bản tặng cho, chuyển
nhượng hợp pháp nào tphía cụ H2 đã chết năm 2006, nên phần đất 283,5 m²
ông L đang cất nhà thuc tha 87 di sn tha kế hp pháp ca c H2 nay
đưc phân chia cho D. vy, buc ông L phi tháo d nhà, công trình trên
đất để tr lại đất trống cho nguyên đơn. Đồng thi, ghi nhn s t nguyn ca bà
D hoàn tr s tiền 118.528.175 đồng (tr giá căn nhà theo định giá) cho ông L để
h tr ông di di, bảo đảm quyền trú của ông Lnh kh thi khi thi hành án.
Nhằm đ gii quyết dứt đim v án cp phúc thm nhm bo v quyn
li cho c đồng tha kế, đng thời để bảo đảm tính kh thi khi thi hành án thc
tế, Vin kiểm sát đ ngh hội đồng xét x sa bản án sơ thẩm theo hướng nhng
ni dung va nêu trên.
T những cơ s phân tích trên, đ ngh Hội đồng xét x: áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Sửa bản án dân sự thẩm số
182/2026/DS-ST ngày 29/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ và
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn T Th D. Đ ngh hội đng xét x xem t
phần án phí và chi phí đo đạc thẩm định.
Vi những căn cứ đ ngh sửa án thm nêu trên, kim sát viên xin thay
đổi ni dung kháng ngh theo hướng sửa án thẩm, Đề ngh hội đồng xét x
chp nhn Quyết định kháng ngh phúc thm s 35/QĐ-VKS ngày 12/5/2026 ca
Viện trưởng Vin kim sát nhân dân Khu vc 13 Cần Thơ.
10
Đối với những vi phạm của bản án thẩm đnghị hội đồng xét xử phúc
thẩm rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm, những vi phạm như:
- Vi phạm nghiêm trọng về vượt quá phạm vi khởi kiện, phạm vi xét x
(Điều 5, Điều 244 BLTTDS 2015):
Đối với thửa đất số 87: Nguyên đơn bà Tạ Thị D chỉ khởi kiện buộc bị đơn
ông Tạ Văn L trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 283,5 m². D hoàn toàn không
yêu cầu Tòa án xác định thửa đất này là tài sản chung của các đồng thừa kế hay
công nhận quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế. Việc Hội đồng xét xthẩm
tuyên: “Công nhận diện tích đất 283,5 thuộc thửa 87 cho các đồng thừa kế
của cụ H2 gồm: Hai, L1, Đ, R, D là vượt quá phạm vi khởi kiện.
Đối với thửa đất số 86: Mặc dù xác định đây là di sản chưa chia của cụ D2
và cụ H2, nhưng phần quyết định của bản án lại tuyên: “Công nhận diện tích đất
5.880,1 m² thuộc thửa 86 cho ông Tạ Bảo H, Tạ Bảo A Nguyễn Thị P”. Đây
vi phạm nghiêm trọng anh H, anh Bảo A P hoàn toàn không yêu
cầu phản tố hay yêu cầu độc lập đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất này. Việc Tòa án tự ý tuyên thiết lập quyền sử dụng đất cho họ đã xâm
phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Vi phạm về mâu thuẫn giữa phần nhận định và phần quyết định của Bản
án (Điều 266 BLTTDS 2015):
Tại phần nhận định, Tòa án xác định diện tích 283,5 đất tranh chấp thuộc
quyền shữu chung của các đồng thừa kế của cụ H2 và buộc ông Tạ Văn L
nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng diện tích đất này.
Thế nhưng tại phần quyết định, Tòa án lại chỉ tuyên buộc các đồng thừa kế
thanh toán trị giá công trình cho ông L 118.528.175 đồng, mà hoàn toàn không
tuyên buộc ông Tạ Văn L phải di dời, tháo dỡ nhà để trả lại đất. Phán quyết mâu
thuẫn này làm cho bản án trở nên hoàn toàn bất khả thi trên thực tế, xâm phạm
trực tiếp đến quyền tài sản của các đồng thừa kế.
- Bỏ sót người thừa kế thế vị hợp pháp (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015):
Ông Tạ Văn Đ1 con ruột cụ D2 và cH2 (hàng thừa kế thứ nhất) nhưng
đã chết năm 2002 (trước cụ H2 mất năm 2006). Do đó, các con ông Đ1 gồm ông
Tạ Bảo H và ông Tạ Bảo A là những người thừa kế thế vị hợp pháp được hưởng
kỷ phần của ông Đ1.
11
Tuy nhiên, khi Tòa án tuyên công nhận diện ch đất 283,5 thuộc thửa
87 cho các đồng thừa kế của cụ H2, Tòa án lại hoàn toàn bỏ sót, không đưa ông
Tạ Bảo A và ông Tạ Bảo H vào diện được hưởng quyền thừa kế thế vị theo đúng
quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bác yêu cầu khởi kiện khi chưa thu thập chứng cứ và không bảo lưu quyền
lợi đương sự:
Tạ Thị D người thừa kế hợp pháp và thời hiệu khởi kiện chia di sn
vẫn còn. Căn cứ Điều 660 Bộ luật Dân sự m 2015, D hoàn toàn quyền
độc lập khởi kiện yêu cầu chia di sản để nhận kphần của mình không phụ
thuộc vào ý chí các đồng thừa kế khác.
Việc Tòa án thẩm chcăn cứ vào văn bản ý kiến của các đồng thừa kế
(bà H1, L1, Đ, ông R) xin xét xử vắng mặt để tuyên bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà D khi họ chưa thực hiện việc từ chối nhận di sản theo đúng quy
định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 là thiếu căn cứ và trái pháp luật. Bản
án sơ thẩm bác khởi kiện của nguyên đơn, nhưng lại không cho quyền khởi kiện
chia di sản của các đương strong tương lai xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi
dòng họ.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát
như đã phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện:
"Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Qua
xem xét các yêu cầu trên của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy
Tòa án cấp thẩm còn xác định thiếu một quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. vậy, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung
cho đầy đủ. Mặc dù, xác định thiếu quan hệ pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
có giải quyết mối quan hệ này, trong hồ sơ có thẩm định, định giá và thu thập lời
khai đấy đủ nên không cần thiết phải hủy bản án trên. Vụ kiện thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tòa án nhân dân khu vực 13 Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ đúng thời gian quy định. Việc
ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật. Đối với ông Nguyễn Chí
12
Hùng M vừa tham gia với vai trò người đại diện ủy quyền của bị đơn vừa tham
gia với vai trò người làm chứng không phù hợp. Tòa án cấp thẩm cần rút
kinh nghiệm.
[2] Xét về nội dung: Nguyên đơn D trình bày: Cha mẹ của nguyên đơn
cụ Tạ Văn D1 cụ Nguyễn Thị H2 tạo lập được thửa đất s86 diện tích
6.500m² (đo đạc thực tế 5880,1m
2
) thửa đất số 87 diện tích 1.250m², (đo đạc
thực tế 1.123,6m
2
) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cụ H2 đứng tên. Sau
khi cụ D1 và cụ H2 chết không để lại di chúc, di sản chưa chia thừa kế.
Đối với thửa đất số 87, nguyên đơn cho rằng năm 2012 ông Tạ Văn L lấn
chiếm diện tích 283,5m² để cất nhà ở nên yêu cầu ông L trả lại phần đất lấn chiếm
theo kết quả đo đạc trên; nguyên đơn đồng ý hỗ trợ chi phí di dời nhà cho ông L.
Đồng thời, nguyên đơn trình bày trước đây cụ H2 vay tiền ngân hàng, sau đó
anh chị em trong gia đình thống nhất ai trả nợ ngân hàng thì được nhận quản lý,
sử dụng thửa đất số 87 để thờ cúng ông bà. Bà D người trực tiếp trả khoản nợ
này nên cho rằng thửa đất số 87 thuộc quyền sử dụng của bà D. Đối với thửa đất
số 86, nguyên đơn xác định di sản thừa kế của cụ D1 cụ H2 để lại nên yêu
cầu chia thừa kế theo pháp luật, nguyên đơn yêu cầu nhận giá trị.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Xét hàng thừa kế: Cụ D1 và cụ H2 tất cả 09 người con gồm: bà Tạ
Thị H1, bà Tạ Mỹ L1, Tạ Ngọc Đ, ông Tạ Văn R, Tạ Thị D, bà Tạ Thị B1
(chết không chồng con), ông Tạ Văn P1 (chết lúc 4 tuổi), Tạ Thị P2 (chết
lúc nhỏ) và ông Tạ Văn Đ1 (chết năm 2002, thừa kế thế vị của ông Đ1 là anh Tạ
Bảo H anh Tạ Bảo A), tại thời điểm chia thừa kế thì 06 kỉ phần. Hai cụ
không có con riêng hay con nuôi. Cha mẹ hai cụ đã chết trước hai cụ.
[2.2] Xét về thời hiệu chia thừa kế: Thời hiệu chia thừa kế vẫn còn theo
Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
[2.3] Xét về di chúc: Trước khi chết hai cụ không lập di chúc. Tuy nhiên,
phía các con ông Đ1 cung cấp chứng cứ biên bản họp gia đình ngày 17/01/2003
qua xem xét biên bản này thì biên bản không thể hiện nội dung phần đất được
phân chia cho ai, thửa nào, địa chỉ đất đâu, chính quyền địa phương không
xác nhận...Vì vậy, không xem đây tờ di chúc nên di sản được chia theo pháp
luật.
[3] Xét yêu cầu tặng cho quyền sử dụng của cụ H2 cho D tại thửa 87
: Theo lời trình bày của Tạ Thị H1, ông Tạ Văn R, bà Tạ Ngọc Đ, Tạ Mỹ
L1, bà Tạ Thị D thì lúc còn sống cụ H2 đã thế chấp toàn bộ hai thửa đất trên cho
13
ngân hàng để vay số tiền 14.000.000 đồng nhưng không có khả năng trả nợ. Lúc
đó cụ H2 các anh chị, em trong gia đình có thỏa thuận là ai trả nợ số tiền trên
tiền lãi cho ngân hàng thì quyền sử dụng đất thửa 87 sẽ giao cho người đó. Sau
đó, D mới đứng ra trả toàn bộ số ngồm nợ gốc 14.000.000 đồng nlãi,
tổng số tiền là 32.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra nên
bà D yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho (miệng) này cho bà.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ theo các chứng cứ trong
hồ thể hiện tại các bút lục từ số 26 đến 33 thì thể hiện cụ H2 vay số tiền trên
của Ngân hàng N2 là đúng sự thật và D là người giữ các giấy: “ Sổ lưu”, “ S
hộ sản xuất vay vốn ngắn hạn” sổ theo dõi cho vay thu nợ đang lưu hành”“
Chứng từ giao dịch” ...chính bà D là người đóng tiền vốn lãi cho ngân hàng.
Vì vậy, bà H1, ông R, bà Đ, L1 đồng ý cho D được quyền sử dụng đất đối
với thửa 87 nêu trên là phù hợp với lời trình bày của các đồng thừa kế. Phù hợp
với sự thật khách quan theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Do đó, cần
công nhận cho D được quyền sử dụng thửa 87 nêu trên theo di nguyện của cụ
H2 tất cả các anh, chị em trong gia đình. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn không căn cứ nên sửa bản án sơ thẩm. Công nhận cho
bà D được hưởng toàn bộ thửa đất đất 87.
[3.1] Xét thửa đất số 86: Nhận thấy: Căn cứ theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng ruộng đất tạm thời cấp ngày 30/9/1996 cho cụ Nguyễn Thị H2 thì diện
tích đất thửa 86 là 6.500m
2
. Tuy nhiên, căn cứ theo Chứng tthẩm định của
Công ty cổ phần T6 thì thửa 86 diện tích là: 5.880,1m
2
đất 2L quy ra tiền
là 135.000 đồng/1m
2
= 793.813.500 đồng; Thửa đất này hiện tại các con ông Tạ
Văn Đ1 anh Tạ Bảo H anh Tạ Bảo A, Nguyễn Thị P (vợ ông Đ1) đang
canh tác và trồng cây ăn trái.
Xét lời trình bày của anh H, anh Bảo A và bà P yêu cầu được sở hữu thửa
đất này được cụ H2 tặng cho lúc cụ H2 còn sống căn cứ vào biên bản họp
gia đình đã tặng cho ông Tạ Văn Đ1.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Đ1 không được cụ H2cụ
D1 tặng cho bất cứ tài sản nào. Biên bản họp gia đình như đã phân tích phần
trên không thể hiện việc này. Do đó, thửa đất này được chia theo quy định pháp
luật.
Xét lời trình bày của H1, L1, ông R, bà Đ thì những người này tặng
cho quyền thừa kế đối với thửa đất trên 01 kỉ phần của D nên D được
hưởng 5/6 trên tổng tại sản. Các con vợ ông Đ1 được hưởng 1/6 tài sản thửa
86.
14
Căn cứ theo yêu cầu của D do phần đất không thể phân chia. Hơn nữa
trên phần đất tại thửa đất 86 này thì các con của ông Đ1 đã trồng nhiều loại cây
ăn trái như: Dừa, nhãn, hạnh, cau, mít và căn nhà của anh Tạ Bảo H, tổng giá trị
cây trồng trên 1.066.064.000 đồng. vậy, cần giao thửa này cho các con vợ
của ông Đ1 phù hợp. Các con vợ của ông Đ1 trả giá trị thừa kế bằng tiền cho
bà D là có căn cứ.
Theo gthẩm định thì tổng giá trị đất của thửa thửa 86 793.813.500đồng.
Đáng lý D hưởng 5/6 tài sản trên. Tuy nhiên bà D chỉ yêu cầu các con của ông
Đ1 trả 300.000.000 đồng.
Xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn là căn cứ và có lợi cho hàng thừa kế
của ông Đ1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của D. Giao cho các
con ông Đ1 thửa đất 86 này.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với ông Tạ Văn L: Nguyên đơn
yêu cầu ông Tạ Văn L trả lại phần đất đã lấn chiếm theo kết quả mảnh trích đo địa
chính s94/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ thiết kế xây dựng Đ3 lập
ngày 05/5/2025 tại vị trí số III diện tích là 283,5m
2
, tại thửa số 87, đất toạ lạc
tại ấp L, xã T, thành phố Cần T.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Hộ ông Tạ Văn L nhờ trên phần
đất tại thửa 87 của cụ H2 đứng tên. Ông L cất nhà từ năm 2012, lúc ông L cất
nhà do là bà con thân tộc nên các con của bà H2 cho ông L ở một nền nhà ngang
4 mét nhưng sau đó tông L lấn chiếm diện tích đất nhiều hơn nên dẫn đến tranh
chấp. D khởi kiện yêu cầu ông L trả lại phần đất trên. Theo quy định pháp luật
căn cứ tại Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Chủ sở hữu, chủ thể quyền khác đối với tài sản quyền tự bảo vệ,
ngăn chặn bất kỳ người nào hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những
biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
Chủ shữu, chủ thể quyền khác đối với tài sản quyền yêu cầu Tòa
án, quan nnước thẩm quyền khác buộc người hành vi xâm phạm quyền
phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền
sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”
Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định:
“Chủ sở hữu, chủ thể quyền khác đối với tài sản quyền đòi lại tài sản
từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không
căn cứ pháp luật”.
15
Do ông L ở trên phần đất của cụ H2 như đã phân tích phần đất này đã giao
cho D. Do ông L không chứng minh đã chuyển nhượng hay tặng cho hợp pháp
đối với phần đất trên. Hơn nữa, ông L đã đất nơi khác nên ông phải trả lại
phần đất trên là phù hợp. Đối với những người làm chứng cho ông L thì cho rằng
ông L được cụ D1 tặng cho phần đất trên nhưng chỉ trình bày miệng, không
chứng cứ thể hiện. Do đó, không chấp nhận lời khai của những người làm chứng.
Xét giá trcăn nhà của ông L: Theo thẩm định giá thì căn nhà của ông L
gồm: Nhà chính, nhà phụ, nhà tắm, sân, mái che, bàn thờ ông T5 xây gạch, tổng
giá trị 118.528.175 đồng. 02 cây mai vàng trị giá 1.200.000 đồng. 26 cây mai
nhỏ giá 1.040.000 đồng. Phía D đồng ý bồi thường phần tài sản 118.528.175
đồng này cho ông L phù hợp. Hộ ông L phải di dời tài sản trả đất lại cho D là
phù hợp.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Tạ Thị D: Yêu cầu kháng
cáo của căn cứ nên được chấp nhận. vậy, sửa bản án dân sự thẩm
theo hướng đã phân tích trên.
[5] Xét yêu cầu của ông L: Người đại diện theo ủy quyền của ông Tạ Văn
L ông Nguyễn Chí Hùng M cho rằng: Ông L yêu cầu phản tố yêu cầu
kháng cáo nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét.
Qua lời trình bày này của ông M, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Xuyên suốt cả quá trình tố tụng phía ông L không có bất cứ yêu cầu phản tố nào
đối với yêu cầu được tiếp tục ở công nhận diện tích đất trên cho ông L. Bản án
thẩm buộc các đồng thừa kế trả giá trị xây dựng công trình cho ông L
118.528.175 đồng, không công nhận phần đất tranh chấp cho ông L nhưng ông L
không kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện cho L cho rằng có phản
tố, có kháng cáo nhưng cấp sơ thẩm không nhận đơn.
Qua xem xét lời trình của đại diện theo ủy quyền của ông L không căn
cứ vì nếu Tòa án cấp thẩm không nhận đơn thì phải ghi ý kiến, biên bản làm
việc... Hơn nữa, ông cũng có quyền khiếu nại lên Tòa án cấp trên hay Viện kiểm
sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên hoặc gửi thư trực gửi trực tiếp qua đường
bưu điện báo phát, báo hoàn...Do ông không chứng minh lời trình bày của mình
là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận.
[6] Xét bản án dân sự sơ thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm có nhiều thiếu sót
như: Không giải quyết đúng yêu cầu khởi kiện của đương sự, đối với anh Tạ Bảo
H và anh Tạ Bảo A không yêu cầu phản tố nhưng bản án lại công nhận phần đất
tại thửa 86 cho bị đơn là chưa phù hợp. Các đồng thừa kế Văn bản khước t
16
nhận di sản thừa kế và giao phần được hưởng cho D nhưng Tòa án cấp thẩm
chưa làm rõkhông công nhận cho bà D hưởng phần di sản là thiệt thòi quyền
lợi cho bà...Tuy nhiên, do việc thẩm định, định giá, đo đạc tài sảnràng, sau khi
bản án thẩm tuyên thì các đương sự văn bản cung cấp thêm chứng cứ nên
xét thấy không cần thiết phải hủy bản án thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm
cần rút kinh nghiệm vì Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Cần Thơ kháng nghị
là có căn cứ.
[7] Về án phí dân sự thẩm: D được nhận thửa 87 trị giá 720.323.000
đồng và 300.000.000 đồng thửa 86. D phải trả giá trị phần nhà và tài sản cho
ông L là 118.528.175 đồng, đáng lý ra D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối
với số tiền trên. Tuy nhiên, do D người cao tuổi và đơn xin miễn giảm
nên bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
D được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu s0007232 ngày
10/10/2024 và 3.250.000 đồng theo biên lai thu số 0007458 ngày 08/11/2024 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay là Thi hành án dân sự thành
phố Cần Thơ)
Ông Tạ Văn R1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số
0007233 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay
là Thi hành án dân sự thành phố C)
Tạ Ngọc Đ được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007234
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố C)
Tạ Mỹ L1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007235
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố C)
Tạ Thị H1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007236
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố Cần Thơ)
Ông Tạ Văn L phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Anh Tạ Bảo H, anh Tạ Bảo A, Nguyễn Thị P phải chịu án pđối với
phần tài sản được hưởng là: 23.752.500 đồng (làm tròn)
[8] Về chi phí thẩm định tài sản: Tổng chi phí 28.123.000 đồng D
đã chi xong. D tự nguyện chịu nên ghi nhận.
[9] Về tiền án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
17
[10] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là căn cứ, phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều
147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 620,
Điều 623, Điều 649, Điều 651, Điều 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Tạ Thị D.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu chi thừa kế của bà Tạ Thị D đới với các bị đơn anh Tạ
Bảo H, anh Tạ Bảo A, bà Nguyễn Thị P như sau:
Công nhận Tạ Thị D được hưởng thừa kế thửa đất số 87, diện tích
1.250m
2
(đo đạc thực tế 1123,6m
2
) tại các phần I, II, III (a), (b) loại đất T
LNK theo hệ thống bản đồ 299, theo mãnh trích đo địa chính ngày 05/5/2025 của
Công ty cổ phần Đ3.
Buộc hộ ông TVăn L phải di dời tài sản đtrả lại diện tích đất có diện tích
283,5m² thuộc thửa s87, theo hệ thống bản đồ 299 tại vị trí II, III (a) (b) của
mảnh trích đo địa chính số 95/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ thiết kế
xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025 cho bà Tạ Thị D.
Buộc Tạ Thị D trả giá trị công trình xây dựng cho bị đơn ông Tạ Văn L với
số tiền 118.528.175 đồng (một trăm mười tám triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn,
một trăm bảy mươi lăm đồng). Bà D được nhận phần công trình xây dựng.
Chấp yêu cầu của nguyên đơn Tạ Thị D về việc chia thừa kế quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 86 theo Bản trích đo địa chính số 93/CHK của công
ty cổ phần Đ3 bản đồ và thiết kế xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025).
Buộc anh Tạ Bảo H, anh Tạ Bảo A, Nguyễn Thị P trả kỉ phần thừa kế
cho bà Tạ Thị D là 300.000.000 đồng. (Ba trăm triệu đồng).
18
Công nhận diện tích đất 6.500 m
2
( đo đạc thực tế 5880,1m
2
) cho anh Tạ
Bảo H, anh Tạ Bảo A, bà Nguyễn Thị P được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số
86 theo hthống bản đ299 tọa lạc tại ấp L, T, thành phố Cần Thơ. (Theo
mảnh trích đo địa chính số 93/CHK của công ty cổ phần Đ3 bản đồ thiết kế
xây dựng Đ3 lập ngày 05/5/2025).
Các đương sđược quyền liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để thực
hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp
luật theo quy định.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn u cầu của người
được thi hành người phải thi hành án chưa thanh toán, thì hàng tháng người
phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi nh án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi
hành án.
Về án phí dân sự thẩm: Do D người cao tuổi đơn xin miễn
giảm nên bà không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
D được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007232 ngày
10/10/2024 và 3.250.000 đồng theo biên lai thu số 0007458 ngày 08/11/2024 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay là Thi hành án dân sự thành
phố C).
Ông Tạ Văn R1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số
0007233 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp (nay
là Thi hành án dân sự thành phố C).
Tạ Ngọc Đ được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007234
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố C).
Tạ Mỹ L1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007235
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố C).
Tạ Thị H1 được nhận số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007236
ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Phụng Hiệp (nay Thi
hành án dân sự thành phố C).
Ông Tạ Văn L phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Anh Tạ Bảo H và anh Tạ Bảo A phải chịu án phí đối với phần tài sản được
hưởng là: 23.752.500 đồng (làm tròn).
19
Về chi phí thẩm định tài sản: Tổng chi phí là 28.123.000 đồng bà D đã chi
xong. Bà D tự nguyện chịu nên ghi nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền tthỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ; Đã ký
- Tòa án Khu vực 13 - Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 13 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Văn Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1165/2026/DS-PT Bản án số 1165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1165/2026/DS-PT Bản án số 1165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất