Bản án số 1097/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1097/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1097/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1097/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Còn - Trần Văn Đực - Tranh chấp QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1097/2026/DS-PT Bản án số 1097/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1097/2026/DS-PT Bản án số 1097/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1097/2026/DS-PT
Ngày: 26-8-2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngọc Khánh Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 597/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 7 năm
2026 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s thẩm số 224/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 427/2026/QĐ-PT ngày 11/8/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1967; Địa chỉ: số F, đường G, ấp Đ (nay
ấp T), T, Thành phố Hồ Chí Minh, mặt.
1.2. Ông Nguyễn Anh D, sinh năm: 1965; Địa chỉ: ấp B, H (nay Đ),
tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo y quyền của ông Nguyễn Anh D: Thị L, sinh
năm: 1974. Địa chỉ: ấp B, H (nay xã Đ), tỉnh Tây Ninh, mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1961; Địa chỉ: ấp B, H (nay
Đ), tỉnh Tây Ninh, mặt.
2
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn sinh năm: 1979.
Địa chỉ: số A, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Đ ông Trần Văn Ả: Ông
Phạm Văn D1, sinh năm 1969. Địa chỉ: khu phố G, phường T, tỉnh y Ninh,
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn - ông Nguyễn Văn C trình bày:
Năm 2022, ông ông Nguyễn Anh D cùng hùn vốn nhận chuyển
nhượng phần đất diện tích 286 m
2
(tương đương 07 mét ngang), thuộc thửa đất
số 881, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp B, H, tỉnh Tây Ninh, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) do ông và ông D cùng đứng tên, được Sở T1
(Sở TNMT) tỉnh Tây Ninh cấp ngày 01-6-2022, số CS 11713 và CS 11714, với giá
chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng.
Khi nhận chuyển nhượng, ông đến UBND H kiểm tra về tình trạng
thửa đất thì được trả lời đủ điều kiện để nhận chuyển nhượng; đồng thời, đại
diện UBND nói không cần phải đo đạc lại nên ông không yêu cầu đo
đạc lại thửa đất. Ngoài ra, ông đến xem đất t thấy đất ranh sẵn là các trụ xi
măng chôn xuống đất kéo kẽm gai nên ông yên tâm nhận chuyển nhượng.
Năm 2025, chị Thị Kim T chị Hà Thị Tuyết Á khởi kiện ông ông D,
lúc này ông mới biết đất ông không đúng ranh, cụ thể hàng rào của ông ông D
nằm bên thửa đất của chị T 124,9 m
2
, đồng thời ông Đ sử dụng lấn qua đất ông
ông D 127,7 m
2
(nằm ngoài hàng rào do ranh đất bị lệch).
Khi Tòa án giải quyết tranh chấp giữa chị T chị Á, ông có hỏi ý kiến của
ông Đ, ông Đ không đồng ý trả đất cho ông ông D, nên ông ông D không
đồng ý trả đất cho chị em chị T. Từ đó, Tòa án thụ yêu cầu khởi kiện của chị T
chị Á.
Tại Bản án s 64/2025/DS-ST ngày 07-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực
12 - Tây Ninh đã quyết định buộc ông ông D nghĩa v trả cho chị T chị Á
phần đất diện tích 124,9 m
2
(tương đương 4,62 mét ngang) thuộc 01 phần thửa
đất số 882, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp B, H, tỉnh Tây Ninh, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do chị T ch Á cùng đứng tên.Bản án đã được thi hành
xong nên trên thực tế ông ông D ch còn lại 2,39/07 mét ngang giáp mặt tiền
đường. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu ông Đ ông nghĩa vụ trả lại cho ông
diện tích còn lại bị thiếu theo giấy đất 127,7 m
2
, tương đương 4,61/07 mét
ngang.Đối với những trụ xi măng ông Đ xây dựng trên đất, ông Đ xây dựng sau
khi ông ông D khởi kiện ông Đ ra UBND H nên ông yêu cầu ông Đ phải di
dời ra khỏi đất trả đất lại cho ông ông D.Chuồng xây tạm ông Đ đang
quản sử dụng lấn qua đất ông 2,1 m
2
không g trị nên ông yêu cầu ông Đ di
dời đi nơi khác trả lại đất cho ông ông D. Cây trên đất ông Đ cũng phải di dời
trả đất lại cho ông.
3
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Anh D bà Thị L trình
bày:
thống nhất theo lời trình bày của ông C không ý ki ến thêm.
Bị đơn ông Trần Văn Đ cùng người đại diện theo ủy quyền của ông Đ ông
Phạm Văn D1 trình bày:
Nguồn gốc đất của ông C ông D trước đây của ông Trần Văn H cậu của
T Á, ông H mua từ 01 người khác ông H để cho mẹ ông H c Mai Thị
Đ1 đứng tên. Sau đó, mẹ ông H ông H chia ra cho các anh chị em trong gia đình
ông H, phần của ông C ông D lúc đầu được chia cho H1 mẹ của chị T
chị Á. Sau khi được chia H1 bán lại cho chị ruột của H1 L1, L1 để
cho con gái con rể (ông không tên gì) L1 đứng tên, con gái con rể
L1 tiếp tục bán cho 2-3 người nữa, trong đó ông P trưởng ấp B lúc đó, sau đó
ông P tiếp tục n cho người khác ai ông cũng không rõ. Người cuối cùng nhận
chuyển nhượng ông C ông D, ông C D mua đất không kiểm tra nên mua
theo thực tế hàng rào các chủ đất trước đã rào, sự chênh lệch giữa giấy đất
so với thực tế sử dụng đất nhưng ông C ông D không biết (tức hàng rào trên
thực tế bên đất chị T chị Á thiếu về bên đất của ông Đ).
Sau khi chị T chị Á khởi kiện, Tòa án buộc ông D ông C trả lại đất
theo đúng giấy thì ông D ông C b mất đất trị vị trí giáp ranh với đất của ông Đ
ông (có chiều ngang 4,61 mét, diện tích 127,7 m
2
) n mới kiện ông Đ đòi lại
phần diện tích đất này.
Ông Đ cho rằng ông D C mua đất của ai t khởi kiện người đó đòi lại đất,
ông Đ ông không liên quan nên không đồng ý trả đất.
Ranh đất giữa 02 bên đã tồn tại khoảng 20 năm, 02 bụi tre trước sau
đất, được nhiều người làm chứng xác nhận. Đồng thời, trên đất tranh chấp 01
phần chuồng do cha ông Đực lúc còn sống xây dựng, sau khi cha ông Đực chết
thì không ai sử dụng, thời gian em ông Đ che thiết để nuôi gà, nuôi được 01
tháng t chết nên không sử dụng nữa. Ông Đ quản cho đến nay, không sử
dụng do đã hỏng. Hàng rào trên đất (trụ xi măng kéo kẽm gai) ông Đ xây
dựng sau khi ông C ông D khởi kiện ra UBND H.
Nguồn gốc đất của ông Đ ông nằm trong tổng diện tích đất do cha mẹ
chết để lại, trước đó cha mẹ ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi cha mẹ chết, anh em trong gia đình làm thủ tục phân chia di sản thừa kế
cho 08 người, trong đó phần ông Đ ông cùng đứng tên chung 15 mét ngang,
diện tích 890,2 m
2
, thuộc thửa đất số 991, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp B, H,
tỉnh Tây Ninh, được Sở T1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01-02-
2023, số CS 12850, số phát hành DK 226521 226522.
Sau khi tách xong từng người, ông Đ được cán bộ phụ trách việc đo đạc
thông báo đất của gia đình ông hiện còn dư khoảng 04-05 mét ngang chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời, hướng dẫn ông Đ làm thủ
tục để đươc cấp giấy đất bổ sung, anh em ông Đ chưa đi làm thì phát sinh tranh
chấp với bên ông C ông D.
4
Với những do trên nên ông Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, Đồng thời, u cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng phần đất tranh
chấp cho ông Đ và ông được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ thì tài sản trên đất
ông đồng ý di dời để giao đất cho bên ông D ông C.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn cùng người đại diện
theo ủy quyền của ông ông Phạm Văn D1 trình bày:
Thống nhất với ý kiến của ông Đ không trình bày thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền s dụng đất của ông
Nguyễn Văn C ông Nguyễn Anh D đối với ông Trần Văn Đ ông Trần Văn Ả.
Buộc ông Trần Văn Đ ông Trần Văn nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn
Văn C ông Nguyễn Anh D quyền sử dụng phần đất có diện ch 127,7 m
2
thuộc
01 phần thửa đất s 881, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại p B, H, tỉnh Tây Ninh, có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông C và ông D cùng đứng tên, được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 01-6-2022, số CS 11713 và CS 11714,
diện tích được cấp 286 m
2
. Tứ cận: Đông giáp thửa 991 dài 29,12 mét; Tây giáp
thửa 881 dài 29,17 mét; Nam giáp phần còn lại của thửa 881 dài 4,05 mét; Bắc
giáp phần còn lại của thửa 881 dài 4,61 mét (có đồ hiện trạng thửa đất kèm
theo).
2. Buộc ông Trần Văn Đ ông Trần Văn nghĩa vụ nghĩa vụ tháo
dỡ, di dời sản trên đất gồm 12 trụ xi măng kéo kẽm gai; 02 cây lồng mức; 02 cây
tràm vàng; 01 phần chuồng diện tích 2,1 m
2
để trả lại 127,7 m
2
quyền sử
dụng đất nói trên cho ông C ông D.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Đ với yêu cầu được
công nhận quyền s dụng đất đối với phần diện tích 127,7 m², thuộc thửa đất số
881, tờ bản đ số 11 tọa lạc tại p B, H, tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền, thời hạn
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/6/2026, ông Trần Văn Đ ông Trần Văn kháng cáo u cầu Toà
cấp phúc thẩm cải sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông D ông C.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của ông Đ ông giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
5
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn ông Đ ông đủ điều
kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của ông Đ ông Ả. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 224/2026/DS-ST ngày
10 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của ông Đ ông thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271,
Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người khởi kiện vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ v án. Vụ án
được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện ông C, ông D khởi kiện: Yêu cầu ông Trần Văn Đ ông
Trần Văn trả cho ông Nguyễn Văn C ông Nguyễn Anh D quyền sử dụng phần
đất diện tích 127,7 m
2
thuộc 01 phần thửa đất số 881, t bản đồ số 11, tọa lạc tại
ấp B, H, tỉnh Tây Ninh; Yêu cầu ông Trần Văn Đ ông Trần Văn tháo dỡ,
di dời sản trên đất gồm 12 trụ xi măng kéo kẽm gai; 02 cây lồng mức; 02 cây tràm
vàng; 01 phần chuồng diện tích 2,1 m
2
để trả lại 127,7 m
2
quyền sử dụng đất
nói trên cho ông C ông D.
Ông Đ ông yêu cầu phản tố: Yêu cầu được công nhận quyền sử dụng
đất đối với phần diện ch 127,7 m², thuộc thửa đất số 881, t bản đồ số 11 tọa lạc
tại ấp B, H, tỉnh Tây Ninh cho ông Đ ông Ả.
Tòa án cấp thẩm xác định vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thụ
giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Đ ông Ả, thấy rằng:
[3.1] Thửa đất s 881 (diện tích 268,0 m
2
) nguồn gốc của cụ Mai Thị Đ1.
Cụ Đ1 tách ra tặng cho cho con Trần Thị L1, sau đó chuyển quyền (tặng cho
chuyển nhượng) cho nhiều người, đến người cuối cùng ông D ông C. Khi
nhận chuyển nhượng, ông D ông C xác định không đúng ranh đất thuộc quyền
sử dụng mình, dẫn đến sử dụng đất lấn qua diện tích đất thuộc quyền sử dụng của
chị Thị Kim T ch Thị Tuyết Á (thửa 882) nên chị T chị Á khởi kiện
ông C ông D yêu cầu trả lại đất. Tại Bản án số 64/2025/DS-ST ngày 07-8-2025
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã quyết định buộc ông C ông D
nghĩa vụ trả cho chị T chị Á phần đất có diện tích 124,9 m
2
(tương đương 4,62
mét ngang) thuộc 01 phần thửa đất số 882, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp B, H,
tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị T chị Á cùng
đứng tên.
6
[3.2] Sau khi trả đất cho chị T chị Á, diện tích đất thực tế ông D ông C
bị mất 127,7 m
2
/268 m
2
(tương đương 4,61 mét ngang) thuộc quyền sử dụng của
ông C ông D nằm trong thửa đất 881. Phần diện tích đất này hiện ông Đ đang
quản lý, sử dụng nhưng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Đ. Quyền sử dụng thửa đất 881 của ông C ông D trên thực tế chỉ còn 140,3
m
2
/268 m
2
(tương đương 2,39 mét ngang).
[3.3] Thửa đất số 991, diện tích 890,2 m
2
nằm trong tổng diện tích đất
2903,4 m
2
nguồn gốc của cha mẹ ông Đ chết để lại, do ông Trần Văn P1 là em
ông Đ đứng tên. Sau khi các anh em trong gia đình ông Đ làm thủ tục phân chia
cho 08 người ra thành 07 phần đất (ông Đ ông chung 01 phần đất), mỗi người
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mình được nhận.
Qua đo đạc, tổng diện tích đất trên thực tế nhiều hơn so với 07 phần đất đã được
cấp giấy 338,8 m
2
, trong đó bao gồm 127,7 m
2
phần đất tranh chấp 211,1
m
2
phần không tranh chấp.
[3.4] Ông Đ không đồng ý hoàn trả diện tích đất tranh chấp cho ông D ông
C với do: Ông C ông D nhận chuyển nhượng đất của ai thì yêu cầu cầu người
đó trả lại. Đồng thời ông Đ cho rằng: Đất đã ranh từ trên 20 năm nên diện tích
đất tranh chấp thuộc v ông Đ không căn cứ. Bởi lẽ, ông D ông C cùng
những người được quyền sử dụng thửa đất 881 trước đó xác định sai vị t đất trên
thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không làm ảnh hưởng
đến quyền sử dụng đất của ông Đ Ả. Trong trường hợp này quyền sử dụng đất
của ông Đ ông vẫn đảm bảo trên thực tế cũng như theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp.
[3.5] Hiện trạng diện tích đất tranh chấp gần như đất trống, chỉ cây cối
tự mọc 01 phần diện tích chuồng (2,1 m
2
) đã hỏng, không còn giá trị sử
dụng. Ông Đ cho rằng đã ranh đất từ khi cha mẹ ông Đ sử dụng đất, cũng như
được những người làm chứng xác định về ranh đất. Tuy nhiên, trước đây cha mẹ
ông Đ, hiện ông Đ ông không ai thời gian sử dụng đất ổn định, không
công trình kiến trúc trên đất cũng chưa được Nhà nước công nhận đối với diện
tích đất tranh chấp.
[3.6] Từ những phân tích trên sở xác định: Không có căn cứ xác lập
quyền sử dụng đất cho ông Đ và ông đối với diện tích tranh chấp 127,7 m
2
. Do
đó, để đảm bảo quyền và lợi ích cho người sử dụng đất hợp pháp ông C ông
D, cấp thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C ông D, buộc ông Đ và
ông nghĩa v trả cho ông C ông D phần đất diện tích 127,7 m
2
thuộc 01
phần thửa đất 881 không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ v việc yêu cầu
công nhận cho ông Đ ông được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
diện tích 127,7 m
2
thuộc 01 phần thửa đất 881 căn cứ.
[3.7] Đối với tài sản trên đất, ông Đ ông đang quản gồm các cây cối
tự mọc, hàng rào 01 phần diện tích chuồng không còn giá trị sử dụng, ông Đ
đồng ý di dời (nếu Hội đồng xét xử chấp nhận u cầu khởi kiện của ông C ông
D) nên cấp sơ thẩm buộc ông Đ ông nghĩa vụ di dời tài sản trên đất đi nơi
khác, để trả lại quyền sử dụng đất cho ông C ông D là căn cứ.
7
[4] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của ông Đ ông Ả;
Chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm t nhân n tỉnh Tây
Ninh tại phiên tòa; Giữ nguyên bản án thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s dụng án phí, l phí Tòa án:
Do kháng cáo của ông Đ ông không được chấp nhận nên ông Đ ông
phải chịu án phí phúc thẩm. Do ông Đ người cao tuổi được miễn nộp án phí
phúc thẩm nên ông Đ không phải nộp án p phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần n Đ ông Trần Văn Ả.
3. Giữ nguyên Bản án dân s thẩm số 224/2026/DS-ST ngày 10 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 164, 166 175 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ các điều 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ các điều 12 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận u cầu khởi kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất của ông
Nguyễn Văn C ông Nguyễn Anh D đối với ông Trần Văn Đ ông Trần Văn Ả.
Buộc ông Trần Văn Đ ông Trần Văn nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn
Văn C ông Nguyễn Anh D quyền sử dụng phần đất có diện ch 127,7 m
2
thuộc
01 phần thửa đất s 881, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại p B, H, tỉnh Tây Ninh, có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông C và ông D cùng đứng tên, được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 01-6-2022, số CS 11713 và CS 11714,
diện tích được cấp 286 m
2
. Tứ cận: Đông giáp thửa 991 dài 29,12 mét; Tây giáp
thửa 881 dài 29,17 mét; Nam giáp phần còn lại của thửa 881 dài 4,05 mét; Bắc
giáp phần còn lại của thửa 881 dài 4,61 mét (có đồ hiện trạng thửa đất kèm
theo).
2. Buộc ông Trần Văn Đ ông Trần Văn nghĩa vụ tháo dỡ, di dời tài
sản trên đất gồm 12 trụ xi măng kéo kẽm gai; 02 cây lồng mức; 02 cây tràm vàng;
8
01 phần chuồng có diện tích 2,1 m
2
để trả lại 127,7 m
2
quyền sử dụng đất nói
trên cho ông C ông D.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Đ về yêu cầu được
công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện ch 127,7 m², thuộc thửa đất số
881, tờ bản đ số 11 tọa lạc tại p B, H, tỉnh Tây Ninh.
4. Về án phí dân sự thẩm: Ông Đ người cao tuổi nên được miễn án phí,
ông phải chịu 300.000 đồng. Hoàn trả ông C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
theo biên lai thu số 0013031 ngày 24-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
5. Về chi p xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản tranh chấp: Ông
Đ ông phải chịu 26.880.000 đồng. Ghi nhận ông C ông D đã nộp tạm ứng
số tiền này nên ông C ông D được hoàn trả số tiền 26.880.000 đồng (do ông Đ
ông nộp).
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
6.1. Ông Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng do ông Đ người
cao tuổi được miễn nộp án phí phúc thẩm nên ông Đ không phải nộp án phí phúc
thẩm.
6.2. Ông Trần Văn phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ
vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0014395 ngày
23/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự t người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 36 của Luật Thi
hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 34 của Luật
Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12 Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, HS./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1097/2026/DS-PT Bản án số 1097/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1097/2026/DS-PT Bản án số 1097/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất