Bản án số 180/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 180/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 180/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 180/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Xin giảm nhẹ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 180/2026/HS-PT Bản án số 180/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 180/2026/HS-PT Bản án số 180/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 180/2026/HS-PT
Ngày: 09 - 6 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Đỗ Thị Thuý Năng
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư Tòa án nhân n
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 61/2026/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm
2026 đối với bị o Hồ Thị L cùng các đồng phạm, do kháng cáo của các bị cáo Hồ
Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang B đối với Bản án hình
sự thẩm số: 07/2026/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 10 – Đà Nẵng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Hồ Thị L, Sinh ngày 27/3/1993 tại thành phố Đà Nẵng; nơi trú: thôn M,
T, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; giới
tính: nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Hồ B1 (sinh năm
1954) Đỗ Thị N1 (sinh năm 1967); chồng Trần Thanh T1 (sinh năm 1990)
05 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025
được thay thế biện pháp ngăn chặn cho “Bảo lĩnh”, có mặt tại phiên toà.
2. Trần Ngọc H, sinh ngày 01/01/1972 tại thành phố Đà Nẵng; nơi trú: thôn
H, H, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 9/12; nghnghiệp: lao động tự do; giới
tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trần Đình M
(chết) bà Trần Thị B2 (sinh năm 1937); vợ Trương Thị Thanh T2 (sinh năm
1983) và 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Năm 2001, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng giam về
tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Ngày 08/10/2008, bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt VPHC
4.000.000 đồng về hành vi “Điều khiển xe môtô gắn biển số không đúng với giấy đăng
ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp”;
- Ngày 08/11/2018, bị Công an huyện H, TP . xử phạt VPHC 3.000.000 đồng về
hành vi “Vận chuyển lâm sản không có hồ sơ hợp pháp”;
2
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025
được thay thế biện pháp ngăn chặn cho “Bảo lĩnh”, có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/3/1989 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn L, xã T,
thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; giới tính: Nữ; dân
tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Danh T3 (sinh năm
1966) và Phan Thị D (sinh năm 1966); có chồng là Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1986)
và 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/8/2024, đến ngày 06/9/2024 được áp dụng biện
pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
4. Trần Xuân N, sinh ngày 04/01/1978 tại thành phố Đà Nẵng; nơi trú: thôn
P, xã T, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: nông; giới tính: Nam;
dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Y (sinh năm
1957) Phạm Thị H2 (sinh năm 1955); vợ Thị N2 (sinh năm 1981)
02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú”, mặt tại
phiên toà.
5. Lâm Quang B, sinh ngày 05/5/1975 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn P,
T, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lái xe; giới tính: nam;
dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lâm Quang C (chết)
Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1934); bị cáo vợ Phạm Thị H3 (đã ly hôn) và 02
con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú”, mặt tại
phiên toà.
* Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần
Xuân N: Luật Văn P Công ty L6 Cộng sự, thuộc Đoàn Luật Thành phố H.
Địa chỉ: 9 H, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lâm Quang B: Luật Văn L1 Văn phòng
L7, thuộc Đoàn Luật thành phố Đ. Địa chỉ: C T, phường H, thành phố Đà Nẵng.
mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo Nguyễn Thanh S, Vĩnh P1 kháng cáo
xin giảm nhhình phạt, tuy nhiên vào ngày 04/4/2026 các bị cáo Nguyễn Thanh S,
Vĩnh P1 đã đơn rút kháng cáo. Các bị cáo Văn Công H4, Trương Thị C1, Phạm Thế
T5 không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian tnăm 2021 đến ngày 28/8/2024, để tiền tiêu xài
nhân, Hồ Thị L đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức đề dựa vào kết quả xổ số kiến
thiết của các tỉnh miền N, miền T miền B. Hằng ngày, L sử dụng 02 (hai) điện thoại
di động, tài khoản facebook tên “Liên Hồ”, tài khoản zalo tên “thy thy”, số điện
thoại 0708.100.332 để nhận cá cược số đề của con bạc và “đầu dưới” chuyển tịch đề cho
L. Sau đó, L tổng hợp rồi chuyển lên “đầu trên”, trong đó Văn Công H4 người
dùng tài khoản không lai lịch tên zalo “Trà sữa”, zalo “Cherry” zalo Kim A
để hưởng hoa hồng 10% trên tổng số tiền đề L chuyển. Ngày 27/8/2024, L nhận tịch
đề rồi chuyển cho Văn Công H4 qua tài khoản zalo tên “Long Thịnh P2”để hưởng
hoa hồng 10%/tổng tiền cược. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2024, biết L nhận
3
lô đề, Trần Ngọc H thoả thuận với L, H ghi đề chuyển cho L, L cho Trần Ngọc H hưởng
tiền hoa hồng 09%/tổng tiền đề chuyển cho L. Còn đối với những người mua đtrực
tiếp từ L Trần Ngọc H thì L, Trần Ngọc H không trích lại tiền hoa hồng. Đến ngày
28/8/2024, quá trình tchức đánh bạc của các bcáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H đã bị
Công an tỉnh Q bắt quả tang, khám xét thu giữ các phương tiện dùng để tổ chức đánh
bạc và đánh bạc. Số người hành vi đánh bạc xác định được trong vụ án gồm Nguyễn
Thị T, Trương Thị C1, Phạm Thế T5, Nguyễn Thanh S, Trần Văn K, Lâm Quang B,
Trần Xuân N Vĩnh P1.
Qua điều tra, quá trình tổ chức đánh bạc, đánh bạc theo từng hành vi của mỗi
người tương ứng với từng hình thức tổ chức đánh bạc, đánh bạc, cụ thể như sau:
* Đối với hành vi tổ chức đánh bạc của Hồ Thị L
- Từ ngày 04/06/2021 đến ngày 28/8/2024, Hồ Thị L đã sử dụng 02 (hai) điện
thoại di động, tài khoản facebook tên “Liên Hồ”, tài khoản zalo tên “thy thy”, số
điện thoại 0708.100.332 để ghi đề từ các con bạc Trần Xuân N, Trương Thị C1, Trần
Văn K, Lâm Quang B, Nguyễn Đức N3, Thị Bé N2, C2, Nguyễn Xuân V,
Nguyễn Đức V1, Lâm Quang Q, Hồ Thị Á, Nguyễn Văn Q1, Trần Đình V2,Trương D1,
Dương Ngọc T6, Hồ P3, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị Kim T7, Nguyễn Quốc C3, Phi
L2, Đinh Văn T8, Văn Q2, Hồ Duy K1, Văn T9, Nguyễn Đinh , Nguyễn Thị
Kim H5, Trần Quang K2, Nguyễn H6, Hồ Q3, Phan Công H7, Huỳnh Thị M1, Nguyễn
Đức N4, Nguyễn Minh H8, Nguyễn Đức N3 Phạm Thị Thanh H9, Nguyễn Thanh S1,
Thị L3, Nguyễn Đức T10, Trần Thị Thanh T11, Hồ Thị H10, Nguyễn T10,
Minh T12, Ngô L4, Hồ L5, Trần Đình T13 một số con bạc khác không lai lịch
nhận đề từ Trần Ngọc H với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.582.501.000 đồng, gồm:
12 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 20 triệu đồng trở lên) với tổng số tiền tổng
số tiền dùng để đánh bạc là 315.827.000 đồng, 78 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc
từ 05 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng) với tổng số tiền dùng để đánh bạc là
903.220.000 đồng 401 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc dưới 05 triệu đồng) với
tổng số tiền dùng để đánh bạc 363.454.000đồng. Trong số đó, L4 chuyển cho Văn
Công H4 với tổng số tiền dùng để đánh bạc xác định được 89.779.000 đồng; L4
chuyển cho người dùng zalo “Trà sữa” với số tiền dùng để đánh bạc xác định được
43.561.000 đồng; L4 chuyển cho người dùng zalo “Cherry” số tiền dùng để đánh bạc
xác định được 33.558.000 đồng; L4 chuyển cho người dùng zalo Kim Asố tiền
dùng để đánh bạc xác định được là 5.635.000 đồng.
Quá trình tổ chức đánh bạc, L4 thu lợi bất chính 190.198.000 đồng
* Đối với hành vi tổ chức đánh bạc của Trần Ngọc H
Trần Ngọc H sử dụng 04 (bốn) điện thoại di động, tài khoản zalo tên “Hải
T14 “Sông Rô”, số điện thoại 0979.789.552 và 0382.088.500 ghi đề chuyển
đề cho Hồ Thị L. Từ tháng 5/2024 đến ngày 28/8/2024, sau khi nhận lô đề tPhạm Thế
T5 con bạc không lai lịch, Trần Ngọc H tổng hợp chuyển một phần cho L đ
hưởng hoa hồng 09%/tổng tiền ghi đề giữ lại một phần để tự tính thắng thua với con
bạc. Trong khoảng thời gian đó, H tổ chức đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc
là 75.270.000 đồng, gồm 01 (một) lần số tiền dùng để đánh bạc trên 20.000.000 đồng
29.180.000 đồng 04 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bc từ 5.000.000 đồng đến
dưới 20.000.000 đồng) với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 46.090.000 đồng. Trong đó,
Trần Ngọc H nhận đề của Phạm Thế T5 với tổng số tiền dùng để đánh bạc
4
14.500.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc Trần Ngọc H giữ lại tự thắng thua với con
bạc là 28.947.000 đồng. Số tiền thu lợi của Trần Ngọc H là 1.277.000 đồng.
* Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị T
Từ ngày 02/8/2024 đến ngày 28/8/2024, biết Hồ Thị L ghi đề, Nguyễn Thị
T sử dụng tài khoản facebook có tên “Thuy Nguyen” liên hệ với Hồ Thị L qua tài khoản
facebook tên “Liên Hồ” để cược số đề. Thuỷ 78 lần đánh bạc với tổng số tiền
dùng để đánh bạc 943.545.000 đồng. Trong đó, T 04 (bốn) lần đánh bạc (mỗi lần số tiền
dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng) với tổng số tiền 16.600.000 đồng, 74 lần
(mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng) với
tổng số tiền dùng để đánh bạc 926.945.000 đồng. Kết quả T thua nên không thu lợi
bất chính.
* Đối với hành vi đánh bạc của Trần Xuân N: Biết Hồ Thị L ghi lô đề, Trần
Xuân N sử dụng số điện thoại 0905.264.380 liên hệ với Hồ Thị L qua số điện thoại
0708.100.332 để cược số đề. Từ ngày 15/6/2021 đến ngày 26/02/2024, N 124 lần
đánh đề với tổng số tiền dùng để đánh bạc 198.989.000 đồng, trong đó 06 (sáu) lần
đánh đề với số tiền dùng để đánh bạc (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000
đồng đến dưới 50.000.000 đồng) 48.130.000 đồng 118 lần (mỗi lần số tiền dùng
để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng) đánh bạc với số tiền dùng để đánh bạc
150.859.000 đồng. N thua nên không có thu lợi bất chính.
* Đối với hành vi đánh bạc của Lâm Quang B: Biết Hồ Thị L ghi số đề, từ
ngày 29/6/2024 đến ngày 28/8/2024, B sử dụng tài khoản facebook tên “Binh Lam”
liên hệ với Hồ Thị L qua tài khoản facebook tên “Liên Hồ” đcược số đề. Trong
khoảng thời gian trên, B 05 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng) với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 29.300.000 đồng và 72
lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng) với tổng số tiền dùng để
đánh bạc là 53.570.000 đồng. Kết quả B thua nên B không có thu lợi bất chính.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2026/HS-ST ngày
16/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Đà Nẵng đã quyết định:
1- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322, điểm u, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g
khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 BLHS:
- Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2
Điều 322 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Hồ Thị L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù: tính từ
ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam vào thời gian chấp hành
hình phạt (từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025).
2- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
BLHS:
- Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản
1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Trần Ngọc H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù: tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam vào thời gian
chấp hành hình phạt (từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025).
3- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1
Điều 52, Điều 38:
- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ
luật Hình sự.
5
- Xử phạt Nguyễn Thị T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù: tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm givào thời gian chấp
hành hình phạt (từ ngày 29/8/2024 đến ngày 06/9/2024).
4- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52,
Điều 38:
- Tuyên bố bị cáo: Trần Xuân N phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ
luật Hình sự.
- Xử phạt Trần Xuân N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù:
tính từ ngày bắt đi thi hành án.
5- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52,
Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lâm Quang B phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ
luật Hình sự.
- Xử phạt Lâm Quang B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù: tính
từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào các ngày 23, 25, 26, 27/01/2026, các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T,
Trần Xuân N, Lâm Quang B đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng
án treo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử các bị cáo HThị L, Trần Ngọc H về
tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017); các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang B về tội
“Đánh bạc” quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) căn cứ đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Hồ Thị L 03 năm
tù, bị cáo Trần Ngọc H 15 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị T 18 tháng tù, bị cáo Trần Xuân
N 09 tháng tù, bị cáo Lâm Quang B 06 tháng tương xứng với tính chất, mức độ
hành vi phạm tội của các bị cáo.
Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Hồ Thị L nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự
thẩm nộp 130.000.000 đồng tiền truy thu (trong đó, bị cáo L trực tiếp nộp
100.000.000 đồng; các bị cáo Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, mỗi bị cáo
nộp thay cho bị cáo L 10.000.000 đồng). Các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn
Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang B Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các
bị cáo Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, mỗi bị cáo đã nộp 200.000 đồng tiền
án phí hình sự thẩm; các bị cáo còn cung cấp các tài liệu khác về nhân thân của các
bị cáo. Đây các tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tán cấp thẩm áp dụng đối với các
bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
* Luật Văn P trình bày luận cứ bào chữa cho các bị cáo Hồ Thị L, Trần
Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N:
Đối với bị cáo Hồ Thị L: Sau khi xét xử thẩm đã nộp số tiền truy thu
100.000.000 đồng 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm, thể hiện sự ăn năn hối
cải; hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Đối với bị cáo Trần Ngọc H đã có hành động
6
báo cáo cho lực lượng Công an bắt giữ xe khai thác cát trái phép, đã lập công chuộc tội,
đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự nhưng Toà án cấp thẩm chưa áp dụng; đã hỗ trợ cho bị cáo L nộp
tiền truy thu 10.000.000 đồng nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm; nhân
thân đã được xoá án tích; bản thân bị tật bàn tay nên hạn chế trong lao động. Đối với
bị cáo T, trong quá trình điều tra luôn tích cực hợp tác với quan điều tra nhưng Toà
án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự; đã hỗ trợ cho bị cáo L nộp tiền truy thu 10.000.000 đồng nộp 200.000
đồng tiền án phí hình sự thẩm; gia đình có công cách mạng; bị cáo không thu lợi bất
chính. Đối với bị cáo N: nhân thân tốt, hành động cứu sống trẻ sinh nhưng
chưa được Toà án cấp thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự; đã hỗ trợ cho bị cáo L nộp tiền truy thu 10.000.000 đồng
nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm. Từ phân tích trên đnghị Hội đồng xét
xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo, cho các bị cáo L, H, T, N được hưởng
án treo.
* Luật sư Lê Văn L1 trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Lâm Quang B: Bị cáo
nhân thân tốt; số tiền sử dụng đánh bạc không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc
trường hợp ít nghiêm trong nhưng Toà án cấp thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ông nội liệt sĩ, ngoại Mẹ
Việt Nam anh hùng; cha mngười công cách mạng, Toà án cấp thẩm chưa áp
dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ phân tích trên
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo B, cho bị cáo B được
hưởng án treo.
Các bị cáo thống nhất với luận cứ người bào chữa, không tranh luận thêm, xin
giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử thẩm, các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T,
Trần Xuân N, Lâm Quang B, Nguyễn Thanh S Vĩnh P1 đơn kháng cáo theo
đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo
của các bị cáo là hợp pháp.
Ngày 04/4/2026, các bị cáo Nguyễn Thanh S, Lê Vĩnh P1, nộp đơn rút đơn kháng
cáo, do đó Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ra thông báo số 04/2026/TB-TA
ngày 07/4/2026 về việc rút kháng cáo đối với các bị cáo Nguyễn Thanh S, Lê Vĩnh P1,
Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T,
Trần Xuân N, Lâm Quang B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp
thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
được quan điều tra chứng minh tại hsơ ván và đã được thẩm tra tại phiên toà.
Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến ngày 28/8/2024, Hồ Thị L, Văn Công
H4, Trần Ngọc H đã hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi đề; Nguyễn Thị
T, Trần Xuân N, Nguyễn Thanh S, Trương Thị C1, Lâm Quang B, Phạm Thế T5, Trần
Văn K, Lê Vĩnh P1 có hành vi đánh bạc với số lần, số tiền dùng để đánh bạc của từng bị
cáo như sau:
7
- Hồ Thị L nhiều lần có hành vi tổ chức đánh bạc với số tiền dùng để đánh bạc
1.582.501.000 đồng, cụ thể: 12 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 20 triệu
đồng trở lên) với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 315.827.000 đồng, 78 lần (mỗi lần số
tiền dùng để đánh bạc từ 05 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng) với tổng số tiền dùng để
đánh bạc 903.220.000 đồng và 401 lần (mỗi lần số tiền dùng đđánh bạc dưới 05
triệu đồng) với tổng số tiền dùng đđánh bạc là 363.454.000đồng. T15 lợi bất chính
với số tiền là 190.189.000 đồng.
- Trần Ngọc H hành vi tổ chức đánh bạc với s tiền dùng để đánh bạc
75.270.000 đồng, cụ thể 01 (một) lần số tiền dùng để đánh bạc trên 20.000.000 đồng
29.180.000 đồng 04 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến
dưới 20.000.000 đồng) với tổng s tiền dùng để đánh bạc là 46.090.000 đồng. Trần
Ngọc H thu lợi bất chính số tiền là 1.277.000 đồng.
- Nguyễn Thị T nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc
là 943.545.000 đồng, trong đó có 74 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000
đồng đến dưới 50.000.000 đồng) với tổng số tiền dùng để đánh bạc 926.945.000
đồng. T thua nên không có thu lợi bất chính.
- Trần Xuân N nhiều lần có hành vi đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc là
198.989.000 đồng, trong đó 06 (sáu) lần đánh đề với số tiền dùng đđánh bạc (mỗi
lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng)
48.130.000 đồng. N thua nên không có thu lợi bất chính.
- Lâm Quang B nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng tiền dùng để đánh bạc
82.870.000 đồng, trong đó 05 lần (mỗi lần số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000
đồng đến dưới 50.000.000 đồng) với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 29.300.000 đồng.
B thua nên không có thu lợi bất chính.
Do đó, Bản án hình sự thẩm số 07/2026/HS-ST ngày 16/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 Đà Nẵng đã kết án bị cáo Hồ Thị L về tội “Tổ chức đánh bạc”
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322; bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tổ chức đánh bạc”
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322; các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, Lâm
Quang B vtội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bcáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần
Xuân N, Lâm Quang B, thì thấy: Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ
án, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đủ
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Hồ Thị L mức hình phạt 03 năm tù,
bị cáo Trần Ngọc H mức hình phạt 15 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị T mức hình phạt 18
tháng tù, bị cáo Trần Xuân N mức hình phạt 09 tháng tù, bị cáo Lâm Quang B mức hình
phạt 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng.
Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Hồ Thị L nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự
thẩm nộp 130.000.000 đồng tiền truy thu (trong đó, bị cáo L trực tiếp nộp
100.000.000 đồng; các bị cáo Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, mỗi bị cáo
nộp thay cho bị cáo L 10.000.000 đồng). Các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn
Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang B Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các
bị cáo Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, mỗi bị cáo đã nộp 200.000 đồng tiền
án phí hình sự thẩm; các bị cáo còn cung cấp các tài liệu khác về nhân thân của các
bị cáo (như đã nêu tại phần nội dung vụ án). Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
8
hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt
Toà án cấp thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của các
bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên bản
án thẩm vhình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên, không chấp nhận cho các
bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của các luật sư bào chữa và các bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị
cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang B mỗi bị cáo
phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
[5] Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị
T, Trần Xuân N, Lâm Quang B, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2026/HS-ST
ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đà Nẵng về hình phạt.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322; điểm u, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Hồ Thị L 03 (Ba) năm về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù: tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam
vào thời gian chấp hành hình phạt (từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Trần Ngọc H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời
hạn chấp hành hình phạt nh từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam
vào thời gian chấp hành hình phạt (từ ngày 28/8/2024 đến ngày 24/01/2025).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Nguyễn Thị T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp
hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ vào thời
gian chấp hành hình phạt (từ ngày 29/8/2024 đến ngày 06/9/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình s 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Trần Xuân N 09 (C4) tháng về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1
Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt Lâm Quang B 06 (S2) tháng về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
9
2. Các bị cáo Hồ Thị L, Trần Ngọc H, Nguyễn Thị T, Trần Xuân N, Lâm Quang
B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (09/6/2026).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán
Nguyễn Văn Dũng Đỗ Thị Thúy Năng
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Huỳnh Văn Phú
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Phòng HSNV - Công an TP. Đà Nẵng;
- CQ THAHS - Công an TP. Đà Nẵng;
- CQ CSĐT Công an TP Đà Nẵng;
- TAND khu vực 10 – Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 10 – Đà Nẵng;
- Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
- Phòng THADS khu vực 10 – Đà Nẵng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Văn Phú
10
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 180/2026/HS-PT Bản án số 180/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 180/2026/HS-PT Bản án số 180/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất