Bản án số 637/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 637/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 637/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 637/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 637/2026/DS-PT PHẠM VĂN L-NGUYỄN VĂN T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 637/2026/DS-PT Bản án số 637/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 637/2026/DS-PT Bản án số 637/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 637/2026/DS-PT
Ngày: 24-6-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Phùng Bích
Tuyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 640/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 269/2025/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 740/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã X, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Võ Tấn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Võ Bích T1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng: Ông Danh N (có mặt).
2
Địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn L là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Phạm Văn L trình bày nội dung yêu cầu khởi kiện
như sau: Ngày 21/7/2015 ông vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị
X thỏa thuận chuyển nhượng phần đất diện tích 2.436m
2
thuộc thửa 154, 153
tờ bản đồ số 22, 23, đất tọa lạc khu vực A, phường V, thành phố Cần Thơ với
giá 250.000.000đồng. Ông đã thanh toán tiền cho vợ chồng ông T, X nhiều
đợt, đến ngày 03/02/2016 ông đã giao đủ số tiền 250.000.000 đồng. Tuy nhiên,
khi ông nộp thủ tục vào Văn phòng đăng đất đai thành phố V (cũ) thì bị ngăn
chặn do phần đất ông T, X bán cho ông hiện đã bị biên bán đấu giá đã
người mua trúng đấu giá phần đất trên. Nay vchồng ông T, X không
đất để giao cho ông như đã thỏa thuận. Ông nhiều lần yêu cầu ông T, X
hủy hợp đồng trả lại tiền cho ông nhưng ông T, bà X không trả lại tiền. Nay ông
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/7/2015 hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/02/2016 (là Tờ Cam kết) giữa
ông và ông Nguyễn Văn T với bà Nguyễn Thị X.
- Buộc ông T X trách nhiệm trả cho ông số tiền 250.000.000 đồng
bồi thường chênh lệch giá cho ông theo quy định pháp luật. Tổng diện tích
đất 2.436m
2
, giá 600.000 đồng/m
2
; theo giá thị trường hiện nay tổng
1.500.000.000 đồng.
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông L, bị đơn ông T, X ý
kiến như sau: Vào năm 2015 vợ chồng ông làm hồ chuyển nhượng thửa
đất 154 153, diện tích khoảng hơn 2.200m
2
tại khu vực A, phường V, thành
phố Cần Thơ cho ông Phạm Văn L. Giá chuyển nhượng 250.000.000 đồng.
Vợ chồng ông đã nhận đủ số tiền này. Vợ chồng ông đã giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông L để làm thủ tục sang tên. Vợ chồng ông cũng đã
nhiều lần ký tên để làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông L. Lúc trước
khi tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L, ông, đưa giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, hợp đồng mua bán đất giữa ông,
với ông Văn T2 cho ông L xem ông L thống nhất mua. Sau đó ông L
còn xây dựng nhà trên thửa đất số 154 đã mua của ông, bà nhưng bị chính quyền
địa phương ngăn cản không cho xây dựng. Sau này ông, bà mới biết đất đang
tranh chấp nên ông L không làm được thủ tục đăng quyền sử dụng đất. Cụ
thể là vào năm 2024 ông, mới biết ông Lương Văn N1 người đã mua trúng
đấu giá thửa đất số 154 của ông, bà. Khi đó ông L kêu ông, khởi kiện ông
Lương Văn N1 (người mua trúng đấu giá quyền sử dụng đất của ông, bà) để đòi
lại đất, sau khi Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xử ông, thua kiện,
không đòi lại được đất, vậy, ông L mới khởi kiện vợ chồng ông, yêu cầu
trả lại tiền chuyển nhượng đất.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Tấn Đ và
Nguyễn Bích T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không
3
có ý kiến trình bày.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công
khai. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 269/2025/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn
L.
2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/7/2015
giữa ông Phạm Văn L với Nguyễn Thị X ông Nguyễn Văn T về việc
chuyển nhượng thửa đất số 154, 153, diện tích 2.436m
2
, tờ bản đồ số 22, 23, tại
khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay khu V, phường V, thành
phố Cần Thơ) là vô hiệu.
3. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị X phải có nghĩa vụ liên đới
trả lại cho ông Phạm Văn L số tiền là 276.975.000 đồng (Hai trăm bảy mươi sáu
triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
4. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 26 tháng 12 năm 2025, nguyên đơn ông L kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm xét xử buộc bị đơn ông T, bà X phải bồi thường thiệt hại cho
ông theo giá thị trường.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.
- Bị đơn ông T, bà X không đồng ý kháng cáo của ông L.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, thấy rằng, cấp sơ thẩm xét xử đúng quy định nên đề
nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không skiện bất khả kháng, trở
ngại khách quan nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông L:
[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định: ngày 21/7/2015 ông Phạm Văn L
ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị X và ông
Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 154, 153, tờ bản đồ 22, 23, diện tích 2.436m
2
,
tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (cũ) với số tiền 250.000.000
4
đồng. Ông L đã giao đủ số tiền chuyển nhượng cho X ông T. Tuy nhiên,
việc chuyển nhượng đất giữa các bên khi thửa đất 154 đã bị cơ quan Thi hành án
biên bán đấu giá, người mua trúng đấu giá ông Lương Văn N1. Đối với
thửa 153 (nay thửa 250). Thửa đất này nguồn gốc do X nhận chuyển
nhượng của ông Danh N vào ngày 17/12/2015, X được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 05/02/2016, tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng thì
thửa đất này X, ông T chưa được quyền sử dụng. Do đó, cấp thẩm xác
định hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa ông L với ông T, X
hiệu là có căn cứ.
[2.2] Về xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu:
[2.2.1] cấp thẩm xác định ông Phạm Văn L không quản lý, sdụng
quyền sử dụng đất nên không nghĩa vụ hoàn trả quyền sdụng đất cho X
và ông T. Ông T và bà X đã nhận stiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
ông L 250.000.000 đồng nên phải có nghĩa vụ trả lại ông Phạm Văn L số tiền
này là có căn cứ theo quy định Điều 131 Bộ luật Dân sự.
[2.2.2] Về bồi thường thiệt hại: năm 2016 ông L biết thửa 154 đang bị kê
biên thi hành án, thửa 153 thì X vẫn chưa quyền sử dụng đất nhưng vẫn
không yêu cầu khởi kiện vẫn tiếp tục thỏa thuận đợi X khởi kiện đòi lại
thửa đất 154 để bán cho ông L, nếu X không đòi lại được đất thì sẽ lấy thửa
đất khác đổi cho ông L, đến năm 2023 X vẫn không giao được thửa đất số
154 cũng không đổi thửa đất khác cho ông L nên ông L mới khởi kiện nên
cấp sơ thẩm tính thiệt hại là tiền lãi từ khi ông L khởi kiện đối với số tiền đã
giao cho ông T, X căn cứ. Do đó, kháng cáo của ông L là không căn
cứ chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật. Cấp thẩm
đánh giá chứng cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông L là đúng nên giữ nguyên.
[4] Về chi phí tố tụng: giữ nguyên như án sơ thẩm
[5] Về phần án phí:
[5.1] Sơ thẩm: các đương sự được miễn do là người cao tuổi.
[5.2] Phúc thẩm: ông L được miễn do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn L.
5
- Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 269/2025/DS-ST ngày 18 tháng
12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn L được miễn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân s quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 11 Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 11 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 637/2026/DS-PT Bản án số 637/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 637/2026/DS-PT Bản án số 637/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất