Bản án số 352/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 352/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 352/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 352/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đặng Duy H - Nguyễn Thị T - T/c HĐCNQSDĐ, Yêu cầu tuyên bố HĐ tặng cho QSDĐ vô hiệu, hủy một phần cập nhật biến động đăng ký đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 352/2026/DS-PT Bản án số 352/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 352/2026/DS-PT Bản án số 352/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 352/2026/DS-PT
Ngày: 25 – 6 – 2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất và tranh chấp đất đai.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng và ông Phạm Thái Bình;
- Thư phiên tòa: Trần Thị Huyền Anh - TToà án của Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (Cơ
sở 1) xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 23/2026/TLPT-DS ngày 05
tháng 01 năm 2026 về việc:“Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tranh chấp đất đai”. Do Bản
án dân sự thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 15 Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xphúc thẩm số 148/2026/QĐ-PT ngày 02 tháng 3 năm 2026, Quyết định
hoãn phiên tòa phúc thẩm số 143/2026/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2026 và
Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 221/TB-TA ngày 29 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đặng Duy H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B đường N,
tổ dân phố B T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
2. Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số F N, tổ dân phố C
T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh H1, sinh năm 1989; địa
chỉ: Số F N, tổ dân phố C T, phường L, tỉnh Lâm Đồng (Theo Giấy ủy quyền
ngày 25/8/2022). (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Bà Hoàng Thị Kim O, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F N, tổ dân phố C T,
phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
3.2. Ông Hoàng Thanh L, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường P,
tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
3.3. Hoàng Thị Phi Y, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B hẻm N, tổ dân phố
F T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
3.4. Ông Hoàng Thanh H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số F N, tổ dân phố C
T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
3.5. Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1983; địa chỉ: Số B đường N, tổ dân
phố B T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Duy H, sinh năm 1978; địa chỉ:
Số B đường N, tổ dân phố B T, phường L, tỉnh Lâm Đồng (Theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 28/3/2025). (Có mặt)
3.6. Chi nhánh Văn phòng Đ;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Thế H2 Phó Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng Đ (Theo Giấy ủy quyền số 01/GUQ ngày 23/3/2026). (Vắng
mặt)
4. Người làm chứng:
4.1. Th L1, sinh năm 1968; địa chỉ: Số F N, tổ dân phố C T,
phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
4.2. Ông Bình M, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A N, tổ dân phố C T,
phường L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
4.3. Ông Văn H3, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố B T, phường L,
tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Hoàng Thanh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Duy H đồng thời người đại diện
theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Hồng S (Vợ ông H) trình bày:
Ngày 01/4/2016, ông Đặng Duy H nhận chuyển nhượng của ông Hoàng
Thanh L một thửa đất có diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m trong đó có 70m
2
đất thổ cư, diện tích còn lại đất trồng cây lâu năm), phần diện tích 70m
2
đất
thổ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L, địa chỉ
thửa đất tọa lạc tại đường N, khu phố C, phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận
(Cũ), nay là số F N, tổ dân phố C T, phường L, tỉnh Lâm Đồng.
3
Trong diện tích 220m
2
nhận chuyển nhượng của ông L thì 150m
2
đất
đang thuộc một phần thửa đt của hộ gia đình Nguyễn Thị T, chị Hoàng Thị
Kim O, anh Hoàng Thanh L, chHoàng Thị Phi Y, anh Hoàng Thanh H1, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 355226, do UBND thị L, tỉnh
Bình Thuận (Cũ) cấp ngày 26/3/2014 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị T; Giá chuyển
nhượng 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng); Hai bên thoả
thuận viết “Giấy mua bán đất” (Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang) vì thời điểm này
phần diện tích 70m
2
đất thổ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
còn 150m
2
đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do là
đất nông nghiệp, chưa được tách thửa và vướng quy hoạch Bờ kè sông D; Ông L
người viết “Giấy mua bán đất” ký, ghi họ tên Hoàng Thanh L vào góc bên
trái mặt sau dưới mục “Bên A” tại “Giấy mua bán đất”, ông H thì dưới mục
“Bên B”. Ngay sau khi ông L viết “Giấy mua bán đất”, ông H đã giao cho ông L
số tiền 10.000.000đ. Đến ngày 10/6/2016, ông H đã giao cho ông L s tiền
230.000.000đ. Sau khi giao tiền, ông L, bà T đã giao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông H làm thủ tục tách thửa, tuy nhiên do phần đất 150m
2
phía sau
đất nông nghiệp, chưa được tách thửa, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên ông L do vướng quy hoạch bờ kè Sông Dinh.
Ngày 06/6/2016, ông H được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 703043, đối với diện tích 70m
2
đất
thổ cư. Phần diện tích đất còn lại phía sau do là đất nông nghiệp, chưa được tách
thửa do vướng dự án quy hoạch hoàn thiện Bờ sông Dinh nên chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 16/5/2017, T các thành viên trong hộ gia đình T lập
“Giấy xác nhận” chuyển nhượng đất (Dạng giấy A4 đánh máy) với nội dung xác
nhận việc chuyển nhượng đất với diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m trong đó
70m
2
đất thổ cư, diện tích còn lại đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần
thửa đất của hộ gia đình bà T giao cho ông H để ông H đi thực hiện thủ tục tách
thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 150m
2
phía
sau. Tại “Giấy xác nhận” đề ngày 16/5/2017 có các thành viên trong hộ gia đình
T xác nhận, ngoài ra còn những người hàng xóm bất động sản liền
kề như bà Lê Thị L1, bà Lê Thị T1 đề ký xác nhận người làm chứng.
Ngày 14/8/2017, đại diện khu phố có ông Võ Bình M (Trưởng khu phố) ký
xác nhận với nội dung:“Bà Nguyễn Thị T công dân thường trú tại khu phố 3
theo nội dung chuyển nhượng như Giấy xác nhận với diện ch 220m
2
trong đó
70m
2
đất thổ 150m
2
đất màu đã sang nhượng cho ông Đặng Duy H
hiện đang cư ngụ tại khu phố B phường T là đúng sự thật”.
Tại thời điểm ông H nhận chuyển nhượng đất ông Văn H3 người
chứng kiến, ông H3 cùng với các thành viên trong hộ gia đình T gồm T,
chị O, chị Y, anh H1, anh L cùng tiến hành dùng thước đo đạc diện tích chiều
4
ngang giáp đường N 5m, chiều dài hết đất đến giáp bờ Sông D đo được
44m. Sau đó gia đình T tự làm hàng rào trụ tông, kẽm gai bao quanh
ranh đất và bàn giao đất cho ông H quản lý sử dụng.
Ngày 21/11/2021, thời điểm này đang dịch Covid 19, lợi dụng việc ông
H không thường xuyên đến thăm nom đất nên anh Hoàng Thanh H1 con trai
T làm hàng rào gạch, trồng cây để ngăn phần đất phía sau, do đó ông H
làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Lúc này ông H phát hiện phần
diện tích hộ T chuyển nhượng cho ông H đã được T tặng cho anh Hoàng
Thanh H1 được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh
Hoàng Thanh H1 vào ngày 18/6/2020 theo hồ sơ số 001774.TA000167./. Ông H
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được xác lập ngày 01/4/2016 giữa ông Đặng Duy H với hộ gia đình
Nguyễn Thị T, chị Hoàng Thị Kim O, anh Hoàng Thanh L, chị Hoàng Thị Phi
Y, anh Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 220m
2
đất (Ngang 5m, dài 44m trong
đó có 70m
2
đất thổ cư, diện tích còn lại là đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần
thửa đất của hộ gia đình T, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ
355226, do UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) cấp ngày 26/3/2014 đứng tên
hộ bà Nguyễn Thị T, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại số F N, tổ dân phố C T, phường
L, tỉnh Lâm Đồng là có hiệu lực pháp luật.
- Đề nghị Tòa án giao cho ông H được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện
tích đt nêu trên đồng thời được quyền đăng kê khai, đăng ký biến động theo
hiện trạng sử dụng đất với cơ quan Nhà nước thẩm quyền để cơ quan, cấp
thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp Giấy chng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
về đất đai.
- Yêu cầu Toà án tuyên huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất giữa bà Nguyễn Thị T với anh Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 150m
2
đất
thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị T, Chi nhánh Văn
phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào ngày 18/6/2020
theo hồ sơ số 001774.TA000167./.
- Yêu cầu Toà án huỷ một phần cập nhật biến động đối với diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do STài nguyên
Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị T, Chi nhánh
Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào ngày
18/6/2020 theo hồ sơ số 001774.TA000167./.
5
Tại phiên tòa thẩm ông H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ
thể:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được xác lập ngày 01/4/2016 (Dương lịch) giữa ông Đặng Duy H với ông
Hoàng Thanh L tại “Giấy mua bán đất” đề ngày 01/4/2016 (Dạng viết tay, sổ tay
kẻ ngang) với hộ gia đình Nguyễn Thị T, chị Hoàng Thị Kim O, anh
Hoàng Thanh L, chị Hoàng Thị Phi Y, anh Hoàng Thanh H1 tại Giấy xác
nhận” chuyển nhượng đất (Dạng giấy A4 đánh máy) đề ngày 16/5/2017 đối với
diện tích 220m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số BQ 355226, do UBND thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) cấp ngày
26/3/2014 đứng tên hộ Nguyễn Thị T, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại số F N, tổ
dân phố C T, phường L, tỉnh Lâm Đồng là có hiệu lực pháp luật.
- Đề nghị Tòa án giao cho ông H được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện
tích đt nêu trên đồng thời được quyền đăng kê khai, đăng ký biến động theo
hiện trạng sử dụng đất với cơ quan Nhà nước thẩm quyền để cơ quan, cấp
thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp Giấy chng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
về đất đai.
- Yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà
Nguyễn Thị T với anh Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 150m
2
đất thuộc một
phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
cấp ngày 21/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị T, Chi nhánh Văn phòng Đ cập
nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào ngày 18/6/2020 theo hồ sơ số
001774.TA000167./. là vô hiệu.
- Yêu cầu Toà án huỷ một phần cập nhật biến động đối với diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do STài nguyên
Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị T, Chi nhánh
Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào ngày
18/6/2020 theo hồ sơ số 001774.TA000167./.
- Yêu cầu Toà án tuyên buộc ông Hoàng Thanh H1 phải tháo dỡ, di dời
toàn b tài sản gắn liền với đất gồm: 01 bức tường xây gạch không tô, cao
khoảng 2,5m, dài khoảng 5m; 04 cây H do ông H1 trồng khoảng 03 năm tuổi; 01
nền gạch ceramic khoảng 42,1m
2
, phía dưới là tường gạch và hồ cá có tô.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản số
tiền 8.200.000đ (Lần 1 5.200.000đ, lần 2 3.000.000đ); Chi phí đo đạc vẽ
bản đ4.135.000đ. Tổng cộng số tiền 12.335.00(Mười hai triệu ba trăm ba
6
mươi lăm nghìn đồng), nguyên đơn ông H tự nguyện chịu, không yêu cầu
thêm.
- Nguyên đơn thống nhất diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng đã được
đo đạc lại diện tích 150m
2
đất (Trong đó 107.6m
2
không nằm trong phần
diện ch thông báo thu hồi 42.4m
2
đất nằm trong phần diện tích theo
Thông báo thu hồi số 23/TB-UBND ngày 05/02/2021 của UBND thị L, tỉnh
Bình Thuận (Cũ). Theo Sơ đồ khu đất tranh chấp được chỉnh lý lại do Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực L đo vẽ, lập ngày 15/9/2025 đề nghị Tòa án
sử dụng bản đồ đo đạc này để làm căn cứ giải quyết vụ án.
2. Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
Nguyễn Thị T do ông Hoàng Thanh H1 đại diện (Cũng người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:
Nguồn gốc toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp trong vụ án của hộ gia
đình T gồm: Ông Hoàng Thanh S1, sinh năm 1954 (Đã chết 2010), T, chị
O, anh L, chị Y, anh H1; Sau khi ông S1 chết thì cả gia đình đều thoả thuận
thống nhất để cho bà T đứng tên trên giấy chứng nhận. Lúc ông S1 còn sống thì
bán một phần đất cho chị O nhưng sau khi ông S1 chết thì mới tách sổ cho
chị O. Năm 2014 thì T tặng cho anh L một đất đứng tên anh L. Đến
năm 2020 thì T tng cho lại cho anh H1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, diện
tích 757,4m
2
đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên Nguyễn Thị
T, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1
vào ngày 18/6/2020 theo hồ số 001774.TA000167./. Trong đó phần diện
tích đất đang tranh chấp với ông Đặng Duy H.
Ông H1 không biết việc ông L chuyển nhượng đất cho ông H như thế nào,
diện tích bao nhiêu và giá bao nhiêu, bà T không chuyển nhượng đất cho ông H.
Năm 2020 lúc T thực hiện thủ tục tặng cho đất cho ông H1 thì T cũng
không nói cho ông H1 biết. “Giấy mua bán đất” đề ngày 01/4/2016 (Dạng viết
tay, stay kẻ ngang) giữa ông L với ông H như thế nào thì ông H1 không biết;
Đối với “Giấy xác nhận” chuyển nhượng đất đề ngày 16/5/2017 (Dạng giấy A4
đánh máy) thì ông H1 không nhớ xác nhận vào tờ giấy này hay không.
Đối với chữ và chữ viết ghi họ tên Hoàng Thanh L thì ông H1 xác định
ông L không ký, không viết vào “Giấy xác nhận” nguyên đơn cung cấp cho
Toà án. Đối với chữ ký, chữ viết của O, Y thì thể là những người này
có ký xác nhận nhưng theo ông H1 thì những người này ký riêng lẻ. Đối với chữ
của mẹ ông H1 Nguyễn Thị T thì ông H1 xác định chữ chữ viết
của bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên theo bà T nói với ông H1 thì lúc ký chữ ký này
thì T đang đi Chùa thì ông H nhờ giấy tờ nên T chứ không biết nội
dung như thế nào. T không nhận bất cứ khoản tiền chuyển nhượng nào từ
7
ông H. Bà T, ông H1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, đề
nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Thanh L trình
bày:
Nguồn gốc toàn bộ diện tích 150m
2
đất đang tranh chấp trong vụ án là của
hộ gia đình ông L gồm: Ông Hoàng Thanh S1, sinh năm 1954 (Đã chết 2010),
bà T, chị O, anh L, chị Y, anh H1; Sau khi ông S1 chết thì cả gia đình đều thống
nhất để cho T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014,
T tặng cho ông L một đất diện tích khoảng 220m
2
(Chiều ngang 5m,
chiều dài 44m tính từ đường N đến sát bờ Sông D) trong đó 70m
2
đất thổ
cư, diện tích còn lại đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại đường
N, khu phố C, phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ); Sau đó ông L làm thủ
tục tách thửa chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông
L đối với phần diện tích 70m
2
đất thổ cư, phần diện tích 150m
2
đất còn lại
đất nông nghiệp, chưa chuyển mục đích đất thổ cư và do lúc đó đang vướng quy
hoạch bờ kè Sông Dinh nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 01/4/2016, ông L có chuyển nhượng cho ông H toàn bộ lô đất này và
phần đất phía sau kéo dài hết đất đến bờ sông D. Diện tích chuyển nhượng
220m
2
(Chiều ngang 5m, chiều dài 44m). Giá chuyển nhượng 240.000.000
đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng); Hai bên thoả thuận viết “Giấy mua bán
đất” (Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang); Ông L người viết “Giấy mua bán đất”
đề ngày 01/4/2016, ông L có ký, ghi họ tên Hoàng Thanh L vào góc bên trái mặt
sau dưới mục “Bên A” tại “Giấy mua bán đất”, còn ông H thì ký dưới mục “Bên
B”. Ngay sau khi viết “Giấy mua bán đất”, ông L đã nhận tiền cọc của ông H số
tiền 10.000.000đ. Đến ngày 10/6/2016, ông L đã nhận của ông H số tiền
230.000.000đ. Sau khi nhận tiền, ông L đã giao đất giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông H làm thủ tục tách thửa.
Ông L xác nhận tại dòng thứ 11 từ dưới lên mặt trước của “Giấy mua bán
đất” đề ngày 01/4/2016 nội dung: dài 44m (Cách tiêm đường 7m)”, phần số
44m không bị sửa chữa. Đối với phần chữ họ và tên Hoàng Thanh L dưới
mục “Con trai Nguyễn Thị T” tại “Giấy xác nhận” đề ngày 16/5/2017, do
thời gian đã lâu nên ông L không nhớ hay không, ông L cho rằng do lúc
này ông L đang P, không mặt tại địa phương nên thể bà T nhờ người ký
thay cho ông L để giao cho ông H đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Ông L xác nhận việc chuyển nhượng đất giữa ông L với ông H hiện nay đã
hoàn thành, ông L đã nhận đủ số tiền 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi
triệu đồng), đã bàn giao đất cho ông H quản lý, sử dụng, hiện nay ông L không
còn liên quan đến việc tranh chấp đất giữa ông H với T nữa. Ông L đơn
8
xin xét xử vắng mặt đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị Kim O trình
bày:
Nguồn gốc toàn bộ diện tích 150m
2
đất đang tranh chấp trong vụ án là của
hộ gia đình bà O gồm: Ông Hoàng Thanh S1, sinh năm 1954 (Đã chết 2010), bà
T, chị O, anh L, chị Y, anh H1; Sau khi ông S1 chết, năm 2014, bà T có tặng cho
ông L một đất diện tích khoảng 220m
2
(Chiều ngang 5m, chiều dài 44m tính
từ đường N đến sát bờ Sông D) trong đó 70m
2
đất thổ cư, diện tích còn lại
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại đường N, khu phố C,
phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ); Sau đó ông L làm thủ tục tách thửa
được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất đứng tên ông L đối với phần
diện tích 70m
2
là đất thổ cư, phần diện tích 150m
2
đất còn lại là đất nông nghiệp,
chưa chuyển mục đích đất thổ do lúc đó đang vướng quy hoạch bờ
Sông Dinh nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày
01/4/2016, ông L chuyển nhượng cho ông H toàn bộ đt này phần đất
phía sau kéo dài hết đất đến bờ sông D. Diện tích chuyển nhượng 220m
2
(Chiều ngang 5m, chiều dài 44m). Giá chuyển nhượng 240.000.000 đồng
(Hai trăm bốn mươi triệu đồng); Hai bên thoả thuận viết “Giấy mua bán đất”
(Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang) như ông H đã nộp cho Toà án; Ông L người
viết “Giấy mua bán đất” đề ngày 01/4/2016, ông L ký, ghi họ tên Hoàng
Thanh L vào góc bên trái mặt sau dưới mục “Bên A” tại “Giấy mua bán đất”,
còn ông H thì ký dưới mục “Bên B”. Ông L đã nhận đủ tiền chuyển nhượng, đã
giao đất cho ông H quản lý, sử dụng.
Đến ngày 16/5/2017, ông H hộ gia đình O cùng lập “Giấy xác nhận”
chuyển nhượng đt (Dạng giấy A4 đánh máy) với nội dung xác nhận việc
chuyển nhượng đất với diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) trong đó 70m
2
đất thổ cư đã được cấp sổ đứng tên Hoàng Thanh L, diện tích còn lại là đất trồng
cây u năm, phần diện tích còn lại 150m
2
chưa được tách thửa cho ông H. Tại
giấy xác nhận này đều chữ ký, ghi họ tên của các thành viên hộ gia đình
O. O khẳng định chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Thị Kim O, Hoàng Thị
Phi Y, Hoàng Thanh H1, Hoàng Thanh L, Nguyễn Thị T tại “Giấy xác nhận” đ
ngày 16/5/2017 do ông H cung cấp cho Toà án là chữ ký, chữ viết của các thành
viên trong hộ gia đình bà O.
Do phần đất phía sau 150m
2
chưa được tách thửa cho ông H nên hộ gia
đình O ng giấy xác nhận này để xác nhận việc chuyển nhượng đất cho
ông H để ông H làm thủ tục tách thửa đứng tên ông H. Sau khi nhận chuyển
nhượng thì gia đình bà O có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H
đi làm thủ tục tách thửa. Sau đó ông H có nhờ ông S1 là địa chính phường T, thị
9
L (Cũ) làm thủ tục tách thửa nhưng do thi điểm này đất đang bị vướng quy
hoạch Bờ kè Sông Dinh nên chưa được tách thửa.
Năm 2003, bà O cũng nhận chuyển nhượng của cha mẹ bà O ông S1, bà
T phần diện tích 220m
2
đất (Ngang 5m, dài 44m) tiếp giáp ngay sát đất của
ông H, giá chuyển nhượng 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng). Đến
khoảng năm 2017 thì O xây nhà làm thủ tục tách thửa nên liên hệ
ông S1 để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đđi làm thủ tục tách
thửa và cũng chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện
tích 70m
2
đất thổ tiếp giáp đường N còn phần diện tích 150m
2
phía sau vẫn
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tương tự như của ông H.
Đến năm 2020, thì T tự ý tặng cho lại cho em trai O anh Hoàng
Thanh H1 một phần thửa đất sau đó Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động
sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào ngày 18/6/2020 trong đó phần diện tích
150m
2
đất đã chuyển nhượng cho bà O và 150m
2
đất đã chuyển nhượng cho ông
H nên xảy ra tranh chấp.
O khẳng định phần diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) trong đó
70m
2
đất thổ cư đã được cấp sổ đứng tên Hoàng Thanh L đã chuyển nhượng cho
ông Đặng Duy H đúng sự thật, đây tài sản của hộ gia đình O đã chuyển
nhượng cho ông Đặng Duy H, việc mua bán đã hoàn thành, nay xảy ra tranh
chấp thì theo bà O được biết là do diện tích chuyển nhượng đã cập nhật biến
động sang tên em trai O Hoàng Thanh H1, hin nay phần diện tích đất
đang do anh H1 quản lý. Bà O thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông Đặng
Duy H, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Bà O có đơn xin
xét xử vắng mặt.
5. Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Hoàng Thị Phi Y trình
bày:
Nguồn gốc toàn bộ diện tích 150m
2
đất đang tranh chấp trong vụ án là của
hộ gia đình bà Y gồm: Ông Hoàng Thanh S1, sinh năm 1954 (Đã chết 2010), bà
T, chị O, anh L, chị Y, anh H1; Sau khi ông S1 chết, năm 2014, bà T có tặng cho
ông L một đất diện tích khoảng 220m
2
(Chiều ngang 5m, chiều dài 44m tính
từ đường N đến sát bờ Sông D) trong đó 70m
2
đất thổ cư, diện tích còn lại
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại đường N, khu phố C,
phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ); Sau đó ông L làm thủ tục tách thửa
được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất đứng tên ông L đối với phần
diện tích 70m
2
là đất thổ cư, phần diện tích 150m
2
đất còn lại là đất nông nghiệp,
chưa chuyển mục đích đất thổ do lúc đó đang vướng quy hoạch bờ
Sông Dinh nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày
01/4/2016, ông L chuyển nhượng cho ông H toàn bộ đt này phần đất
phía sau kéo dài hết đất đến bờ sông D. Diện tích chuyển nhượng 220m
2
(Chiều ngang 5m, chiều dài 44m). Giá chuyển nhượng 240.000.000 đồng
10
(Hai trăm bốn mươi triệu đồng); Ông H anh L thoả thuận viết “Giấy mua
bán đất” (Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang) mà ông H đã nộp cho Toà án.
Đến ngày 16/5/2017, ông H hộ gia đình Y cùng lập “Giấy xác nhận”
chuyển nhượng đt (Dạng giấy A4 đánh máy) với nội dung xác nhận việc
chuyển nhượng đất với diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) trong đó 70m
2
đất thổ cư đã được cấp sổ đứng tên Hoàng Thanh L, diện tích còn lại là đất trồng
cây u năm, phần diện tích còn lại 150m
2
chưa được tách thửa cho ông H. Tại
giấy xác nhận này đều chữ , ghi họ tên của các thành viên hộ gia đình.
Y khẳng định chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Thị Phi Y, Hoàng Thị Kim O,
Hoàng Thanh H1, Hoàng Thanh L, Nguyễn Thị T tại “Giấy xác nhận” đề ngày
16/5/2017 do ông H cung cấp cho Toà án chữ ký, chữ viết của các thành viên
trong hộ gia đình Y. Y các thành viên trong hộ gia đình cùng thống
nhất vào giấy thoả thuận này. Do phần đất phía sau 150m
2
chưa được tách
thửa cho ông H nên hộ gia đình Y ng giấy xác nhận để xác nhận việc
chuyển nhượng đất cho ông H để ông H làm thủ tục tách thửa đứng tên ông H.
Năm 2020, mẹ Y Nguyễn Thị T tặng cho lại cho em trai Y
Hoàng Thanh H1 một phần thửa đất sau đó Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật
biến động sang tên Hoàng Thanh H1 vào ngày 18/6/2020 trong đó phần diện
tích 150m
2
đất đã chuyển nhượng cho ông H nên xảy ra tranh chấp. Bà Y có đơn
xin xét xử vắng mặt.
6. Tại Văn bản số 750/CN.VPĐKĐĐKVLG ngày 14/10/2025, Chi
nhánh Văn phòng Đ trình bày:
Về điều kiện trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ tng cho quyền sdụng
đất từ bà Nguyễn Thị T cho ông Hoàng Thanh H1 được Chi nhánh Văn phòng Đ
(Nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực L) ký chỉnh lý biến động
sang tên cho ông Hoàng Thanh H1 trên trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CG 156326 vào ngày 18/6/2020 đúng theo quy định tại Điều 188
Luật Đất đai năm 2013, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và khoản 1
Điều 17 Thông số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T2 (Nay
Bộ T2).
Tại Văn bản số 581/CN.VPĐKĐĐLAGI ngày 15/3/2024 (BL số 72), Chi
nhánh Văn phòng Đ xác định: Tại thời điểm năm 2016, việc tách thửa được thực
hiện theo Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND ngày 18/12/2014 của UBND tỉnh
B. Cụ thể theo quy định thì không cho phép việc tách thửa vừa đất vừa
đất nông nghiệp kèm theo.
Tại Văn bản số 1722/CN.VPKVLAGI ngày 25/5/2026 Chi nhánh Văn
phòng Đ trình bày:
Căn cứ khoản 3 Điều 11 của Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định một số
cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất
11
đai; Căn cứ Điều 220 Luật Đất đai 2024; Căn cứ Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Quyết
định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh B (Cũ) quy định
điều kiện, diện tích tối thiếu tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên
địa bàn tỉnh Bình Thuận (Cũ) thì thửa đất số 28, tờ bản đồ số 03, diện tích 70m²
đất ở tại đô thị, thuộc Giấy chứng nhận số CC 703043 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B (Cũ) cấp ngày 06/6/2016 đủ điều kiện hợp với diện tích đất nông
nghiệp phần A (Diện tích 107,6m²). Đối với phần B (Diện tích 42,4m²)
Thông báo thu hồi số 23/TB-UBND ngày 05/02/2021 của UBND thị L (Cũ)
nên không đủ điều kiện tách hợp thửa theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Quyết
định số 35/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh B (Cũ).
7. Người làm chứng:
7.1. Ông Võ Bình M trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp trước đây của hộ gia đình T, ông S1;
Năm 2014 ông S1 chết thì bà T tặng cho anh Hoàng Thanh L một lô đất diện
tích khoảng 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) đến sát bờ Sông D, trong đó 70m
2
đất thổ cư, diện tích 150m
2
còn lại phía sau là đất trồng cây lâu năm. Sau đó anh
L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 70m
2
đất
thổ cư, do phần đất phía sau không thổ nên chưa tách được sổ chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vẫn nằm trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà T. Ngày 01/4/2016 anh L có chuyển nhượng cho
ông H toàn bộ đất này phn đất phía sau kéo dài hết đất đến bờ sông D
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) trong đó 70m
2
đất thổ đã được cấp sổ đứng tên
Hoàng Thanh L, diện ch còn lại đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa
đất của hộ gia đình T, ông S1; G chuyển nhượng 240.000.000đ (Hai trăm
bốn mươi triệu đồng).
Ông H anh L thoả thuận viết “Giấy mua bán đất” (Dạng viết tay, sổ
tay kẻ ngang) ông H đã nộp cho Toà án. Đến ngày 16/5/2017 ông H hộ
gia đình T cùng lập “Giấy xác nhận” về việc chuyển nhượng đất (Dạng giấy
A4 đánh máy) với nội dung xác nhận việc hộ gia đình T chuyển nhượng
đất với diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m) trong đó 70m
2
đất thổ đã
được cấp sổ đứng tên Hoàng Thanh L, diện tích còn lại là đất trồng cây lâu năm,
phần diện tích còn lại 150m
2
chưa được tách thửa cho ông L. Tại giấy xác nhận
này đều chữ ký, ghi họ tên của các thành viên hộ gia đình T. T thì
tên phía dưới mục “Người bán xác nhận” còn ông H thì tại mục “Người
mua”. Các con của T gồm Hoàng Thị Kim O, Hoàng Thị Phi Y, Hoàng
Thanh H1, Hoàng Thanh L, Nguyễn Thị T đều đã ký tên tại mục “Xác nhận của
nhân thân người bán”. Thời điểm này ông M Trưởng khu phố C, phường T,
thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) nên ngày 14/8/2017 gia đình bà T có đề nghị ông
M ký xác nhận đại diện chính quyền địa phương. Ông M có ký xác nhận với nội
12
dung “Bà Nguyễn Thị T công dân thường trú tại khu phố 3 theo nội dung
chuyển nhượng như giấy xác nhận với diện tích 220m
2
. Trong đó 70m
2
đất
thổ 150m
2
đất màu đã sang nhượng cho ông Đặng Duy H hiện đang
ngụ tại khu phố B phường T là đúng sự thật”.
Do ông M biết việc chuyển nhượng đất giữa ông H và anh L nên ông M
xác nhận. Ngoài ra còn Thị T1, Thị L1 cũng hàng xóm
cũng được bà T nhờ ký tại mục “Xác nhận của người làm chng” ở mặt sau của
“Giấy xác nhận”. Hiện nay ông M được biết diện tích đất còn lại của hộ gia đình
T đã được bà T tặng cho anh Hoàng Thanh H1 trong đó có phần diện tích đất
đã chuyển nhượng cho ông H một phần diện tích đã chuyển nhượng cho chị
Hoàng Thị Kim O. Năm 2022 anh Hoàng Thanh H1 có xây dựng một bức tường
rào bằng gạch trên phần đất anh L đã chuyển nhượng cho ông H nên hai bên xảy
ra tranh chấp.
7.2. Bà Lê Thị L1 trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp trước đây của hộ gia đình T, ông S1;
Năm 2014 ông S1 chết thì T tặng cho anh L một đất diện tích khoảng
220m
2
(Ngang 5m, dài 44m đến sát bờ Sông D), trong đó 70m
2
đất thổ cư,
diện tích 150m
2
còn lại phía sau đất trồng cây lâu năm. Sau đó anh L được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 70m
2
đất thổ cư,
do phần đất phía sau không thổ nên chưa tách được sổ và chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của bà T. Ngày 01/4/2016 anh L chuyển nhượng cho ông H toàn
bộ đất này. Tổng diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m trong đó 70m
2
đất thổ cư đã được cấp sổ đứng tên Hoàng Thanh L, diện tích còn lại là đất trồng
cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất của hộ gia đình bà T, ông S1; Giá chuyển
nhượng như thế nào thì L1 không biết. L1 chỉ biết anh L chuyển nhượng
đất cho ông H chiều ngang 5m giáp đường N, chiều dài hết đất đến giáp bờ Sông
Dinh.
Đến ngày 16/5/2017 ông H hgia đình T cùng lập “Giấy xác nhận”
chuyển nhượng đt (Dạng giấy A4 đánh máy) với nội dung xác nhận việc
chuyển nhượng đất với diện tích 220m
2
(Ngang 5m, dài 44m). Tại giấy xác nhận
này đều có chữ ký, ghi họ tên của các thành viên hộ gia đình bà T. Chính bà T là
người mang “Giấy xác nhận” đngày 16/5/2017 qua nhà L1 nhờ L1
làm chứng vào giấy xác nhận này. L1 khẳng định chữ ký, chữ viết mang tên
Thị L1 tại mặt phía sau của “Giấy xác nhận” đề ngày 16/5/2017 đúng là chữ
ký, chữ viết của bà L1. Tại thời điểm này thì các thành viên trong hộ gia đình bà
T gồm Hoàng Thị Kim O, Hoàng Thị Phi Y, Hoàng Thanh H1, Hoàng Thanh L,
Nguyễn Thị T đều đãn tại mục “Xác nhận của người làm chứng” ở mặt sau
của “Giấy xác nhận”. L1 biết việc chuyển nhượng đất giữa ông H anh L
nên xác nhận. Ngoài ra còn bà Thị T1 cũng hàng xóm cũng
13
được bà T nhờ ký tại mục “Xác nhận của người làm chứng” ở mặt sau của “Giấy
xác nhận”. L1 được biết khoảng mấy tháng sau, T còn nhờ đại diện khu
phố là ông Võ Bình M là Trưởng khu phố C, phường T, thị xã L (C) ký xác nhận
với nội dung xác nhận anh L chuyển nhượng cho ông H diện tích 220m
2
đất
trong đó 70m
2
đất thổ 150m
2
đất nông nghiệp. Hiện nay diện tích đất
còn lại của hộ gia đình T đã được bà T tặng cho anh H1 trong đó phần
diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông H một phần diện tích đã chuyển
nhượng cho chị Hoàng Thị Kim O nên hai bên xảy ra tranh chấp.
*/ Tại Bản án dân sự thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, đã quyết định:
Áp dụng:
- Khoản 3, khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, điểm c
khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 2
Điều 229; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 121; Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Điều 116; Điều 117; Điều 122; Điều 129; Điều 385; Điều 398; Điều 401;
Điều 500; Điều 501; Điều 502; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 166; Điều 167; Điều 168 Luật Đất đai năm 2013;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 47 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy
định về điều tra bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai;
- Quyết định s35/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh B
(Cũ) quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất
đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (Cũ).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Duy H;
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày
01/4/2016 giữa ông Đặng Duy H với ông Hoàng Thanh L tại “Giấy mua bán
đất” đề ngày 01/4/2016 (Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang) tại “Giấy xác nhận”
chuyển nhượng đất đề ngày 16/5/2017 (Dạng giấy A4 đánh y) giữa ông Đặng
Duy H với hộ gia đình Nguyễn Thị T, chị Hoàng Thị Kim O, anh Hoàng
Thanh L, chị Hoàng Thị Phi Y, anh Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 220m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BQ 355226,
do UBND thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) cấp ngày 26/3/2014 đứng tên hộ
Nguyễn Thị T, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại đường N, tổ dân phố C T, phường L,
14
tỉnh Lâm Đồng; Nay diện tích 150m
2
đất theo đồ khu đất tranh chấp được
chỉnh lý lại do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực L đo vẽ, lập ngày
15/9/2025 (Các điểm trên bản đồ từ điểm 10 đến 11, từ điểm 11 đến 12, từ điểm
12 đến 16, từ điểm 16 đến 17, từ điểm 17 đến 18, từ điểm 18 đến 19, từ điểm 19
đến 10) là có hiệu lực pháp luật.
- Giao cho ông Đặng Duy H được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích
đất nêu trên đồng thời được quyền đăng ký kê khai, đăng ký biến động theo hiện
trạng sử dụng đất với quan Nhà nước thẩm quyền để quan, cấp
thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở tài sản khác gắn lin với đất theo quy định của pháp luật về đất
đai (Có sơ đồ kèm theo).
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập ngày
04/6/2020 giữa bà Nguyễn Thị T với anh Hoàng Thanh H1 được chứng thực tại
Ủy ban nhân dân phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) đối với diện tích
150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị T là vô hiệu.
- Huỷ một phần cập nhật biến động (Trang 3 của giấy chứng nhận) đối với
diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích
757,4m
2
đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đng tên Nguyễn Thị T,
Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào
ngày 18/6/2020 theo hồ sơ số 001774.TA000167./.
- Tuyên buộc ông Hoàng Thanh H1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn
liền với đất gồm: 01 bức tường xây gạch không tô, cao khoảng 2,5m, dài khoảng
5m; 04 cây H do ông H1 trồng khoảng 03 năm tuổi; 01 nền gạch ceramic
khoảng 42,1m
2
, phía dưới là tường gạch và hồ tô, khôi phục lại hiện trạng
ban đầu và bàn giao đất cho ông Đặng Duy H.
2. Về chi phí tố tụng: Không xem xét.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn Nguyễn Thị T người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Thanh H1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân
sự thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Bản án dân sự thẩm
số 98/2025/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 15
– Lâm Đồng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu xử lý
nguyên đơn hành vi trốn thuế, kiến nghị xử Kiểm sát viên, Thẩm phán đã
xét xử sơ thẩm vụ án.
*/ Tại phiên tòa phúc thẩm:
15
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng là người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Thanh H1 giữ nguyên yêu cầu kháng o bổ
sung yêu cầu kháng o, đề nghị tạm đình chỉ vụ án để xem xét giám định số 44
tại Giấy mua bán ngày 01/4/2016, giám định chữ ông Hoàng Thanh L tại
Giấy xác nhận ngày 16/5/2017, làm T tặng cho đất ông Hoàng Thanh L
hay không; T bán hay tặng cho ông L đxử lý; Nếu không tạm đình chỉ thì
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Kiểm sát viên tham gia phiên a phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc tuân theo pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Vthủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Đặng Duy H và công nhận cho ông H được quyền sử dụng diện
tích đất tranh chấp căn cứ chấp nhận. Ông Hoàng Thanh H1, Nguyễn
Thị T kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới nên đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị T, ông Hoàng Thanh H1; Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 14 11 - 2025 của TAND khu
vực 15 - Lâm Đồng; Đương sự kháng cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Hoàng Thanh H1 kháng cáo trong thời hạn đúng quy định pháp luật nên
vụ án dân sự thẩm được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp thẩm
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thụ giải quyết đúng quy định tại
khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự về thẩm quyền vụ việc và lãnh thổ. Về việc bà T, ông H1 cho rằng Tòa án cấp
phúc thẩm thụ vụ án phúc thẩm không hủy bản án, yêu cầu đưa ván ra
khỏi TAND tỉnh Lâm Đồng và giao cho Tòa án tỉnh khác giải quyết không
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án theo
lãnh thổ tại Điều 35 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ
sung năm 2025). Việc xác định Thẩm phán cấp sơ thẩm không khách quan vô tư
mà không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
16
[2] Về “Đơn phản tố” đề ngày 13/6/2025 của ông H1 chỉ có nội dung phản
đối yêu cầu khởi kiện nên cấp thẩm không thụ đúng quy định. Về việc
không có biên bản phiên tòa ngày 13/11/2025 theo ông H1 trình bày là thiếu căn
cứ, biên bản phiên tòa được lập ngày 13/11/2025 chữ của Thẩm phán
Chủ tọa phiên tòa, Thư Tòa án từ bút lục 258 - 267. Việc bổ sung yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa thẩm cũng như trong quá trình giải
quyết vụ án là không vượt quá phạm vi khởi kiện, phù hợp với quy định khoản 4
Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đào Thế H2 đại diện cho Chi nhánh Văn
phòng Đ khu vực L, ông Hoàng Thanh L, Hoàng Thị Kim O, bà Hoàng Thị
Phi Y vắng mặt. Bà Thị L1, ông Võ Bình M và ông Lê Văn H3 là người làm
chứng vắng mặt đã trình bày lời khai trong hồ sơ. Các đương sự có đơn xin vắng
mặt trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt
đến lần thứ hai. Do đó HĐXX giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Hoàng Thanh H1, HĐXX nhận thấy: Phần đất có tranh chấp trong vụ án có diện
tích 150m
2
đất trong đó42.4m
2
nằm trong phần diện tích theo Thông báo thu
hồi số 23/TB-UBND ngày 05/02/2021 của UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận
(Cũ), tọa lạc tại tổ dân phố C T, phường L, tỉnh Lâm Đồng. Thửa đất này thuộc
thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, diện tích 757,4 m
2
, được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh B (Cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326 ngày
21/3/2017, đăng biến động sang tên ông Hoàng Thanh H1 ngày 18/6/2020.
Theo Sơ đồ khu đất tranh chấp được chỉnh lý lại do Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực L đo vẽ, lập ngày 15/9/2025. Nguồn gốc diện tích 150m
2
đất
là của vợ chồng ông Hoàng Thanh S1, sinh năm 1954 (Đã chết 2010),
Nguyễn Thị T. Ông S1, bà T có 4 người con là Hoàng Thị Kim O, Hoàng Thanh
L, Hoàng Thị Phi Y, Hoàng Thanh H1. Sau khi ông S1 chết thì cả gia đình đều
thống nhất để cho bà T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[5] Để làm nội dung vụ án, Tòa án đã yêu cầu Chi nhánh Văn phòng Đ
thực hiện chồng ghép toàn bộ 220m
2
gồm 2 thửa 70m
2
đứng tên ông H và 150m
2
thửa đất tranh chấp tại bản vẽ ngày 25/5/2026.
[6] Vấn đề tranh chấp trong vụ án ông Đặng Duy H cho rằng phần diện
tích đất 150m
2
nguồn gốc ông nhận chuyển nhượng từ ông Hoàng Thanh L
thửa đất diện tích 220m
2
thể hiện tại Giấy mua bán ngày 01/4/2016 tại Giấy
xác nhận ngày 16/5/2017 nhưng đã bị lấn chiếm 150m
2
bởi ông Hoàng Thanh
H1. Bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Thanh H1 xác định ông Hoàng Thanh L chỉ
chuyển nhượng 70m
2
không việc chuyển nhượng 150m
2
. Phần đất 150m
2
thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, diện tích 757,4m
2
do bà T tặng ông H1,
hiện nay ông H1 đang quản lý, sử dụng.
17
[7] Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện, tại Giấy mua bán ngày
01/4/2016 giữa ông Hoàng Thanh L và ông Đặng Duy H được ông L, ông H xác
định nội dung do ông L viết tay tại trang 1 nsau (Nguyên văn):“rộng 5m,
dài 44m (Cách tiêm đường 7m); Đường N, kp C phường T; Trong đó theo
Giấy chứng nhận Quyền Sdụng đất đứng tên Nguyễn Thị T 1953, CMND
********* số sổ BQ355226, số vào sổ GCN CH00704 cấp ngày 26 tháng 3
năm 2014 (Trong đó diện tích đất thổ rộng 5m, dài 14m) Tổng 70m
2
;
Tổng giá trị mua bán đất 240.000.000 đồng. Bên B đặt cọc số tiền:
10.000.000 đồng”. Trang 2 là chữ ký của ông L và ông H. Tờ giấy mua bán này
được những người con của T O, bà Y thừa nhận sự việc này đồng
thời ông H đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B (Cũ) cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CC 703043 ngày 06/6/2016 đứng tên ông H cho phần
đất 70m
2
.
[8] Vviệc số 44 bị đơn ông H1 cho rằng đã chỉnh sửa số 1 thành 4,
chỉ bán 14m dài. Tại khoản 1 Điều 121 về giải thích giao dịch dân sự:“Giao
dịch dân sự nội dung không ràng, khó hiểu, được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau và không thuộc quy định tại khoản 2 Điều này thì việc giải thích giao
dịch dân sự đó được thực hiện theo thứ tự sau đây:
a) Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch;
b) Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch;
Ông L xác định không có sự chỉnh sửa là phù hợp với nội dung ông viết.
Xét nội dung mua bán ngày 01/4/2016, thì thời điểm giao dịch ông L đã
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của diện tích đất 70m
2
, nội dung viết số 44
liền mạch, phù hợp với nội dung tiếp theo thể hiện:“Trong đó theo Giấy
chứng nhận Quyền Sdụng đất đứng tên Nguyễn Thị T ..... (Trong đó diện
tích đất thổ rộng 5m, dài 14m)”. Nếu chỉ mua 70m
2
thì sẽ không thể hiện
phần diện tích đất của T vào giấy. Như vậy việc ông L chuyển nhượng cho
ông H 220m
2
hoàn toàn đúng theo Giấy mua bán ngày 01/4/2016. Do đó đây
giao dịch thật, tự nguyện giữa các bên, ông H nhận đất, giao tiền, ông L
giao đất nhận tiền. Về hình thức chưa phù hợp viết tay, chưa công
chứng.
[9] Về “Giấy xác nhận V/v Chuyển nhượng đất” ngày 16/5/2017: chữ
của bà T các thành viên trong hộ gia đình gồm: Bà T, bà O, Y, ông H1
những người làm chứng gồm Thị L1, ông Võ Bình M (Trưởng khu
phố): Nội dung bà T đã xác nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích 220m
2
(Rộng
5m, dài 44m) cho ông H, trong đó có 70m
2
đất thổ cư đã được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh B (Cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 703043
ngày 06/6/2016 đứng tên ông H. Các đương sự đều thừa nhận đã vào tờ giấy
này riêng ông L xác định không biết không. không phải chữ của
ông L cũng không thay đổi được nội dung xác nhận các bên giao dịch với nhau
18
diện tích 220m
2
, việc xác nhận thật, tự nguyện, không ai ép buộc phải
xác nhận. Việc các đương sự không cùng lúc, riêng lẻ không ảnh
hướng đến nội dung xác nhận và không vi phạm pháp luật.
[10] Việc xác nhận này không nhằm mục đích che dấu giao dịch khác,
chỉ mục đích đông H được làm thủ tục sang tên thửa đất như lời trình bày
của ông H hợp bởi thời điểm này bà T chưa tặng cho ông H1 toàn bộ thửa
đất. Mặt khác việc xác nhận này cũng nhằm thừa nhận rằng T đã tặng cho
ông L 220m
2
đất cũng như xác định bà T, bà O, bà Y, ông H1 đã biết việc ông L
bán đất cho ông H diện ch 220m
2
, chứ không phải 70m
2
, phù hợp lời trình
bày của ông L, O, Y người làm chứng khác. Do đó việc chữ hay
không chữ ký của ông L không làm thay đổi tính chất, nội dung xác nhận
“Giấy xác nhận V/v Chuyển nhượng đất” ngày 16/5/2017. vậy việc yêu cầu
tạm đình chỉ vụ án để trưng cầu giám định chữ ông L hay giám định việc
chỉnh sửa số 1 thành số 4 là không cần thiết, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ
án.
[11] Như vậy, đủ sở xác định phần diện tích đất 150m
2
đang tranh
chấp là phần đất T đã tặng cho ông L (220m
2
đất). T biết đồng ý với
việc ông L chuyển nhượng cho ông H 220m
2
và ông H chỉ được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với 70m
2
đất thổ cư phía tớc. Còn lại 150m
2
phía sau chưa được tách nhập thửa 70m
2
đất thổ do vướng quy hoạch nên
gia đình T đã giấy xác nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích 220m
2
(Rộng 5m, dài 44m) cho ông H. Trên thực tế, sau khi chuyển nhượng, ông H đã
tiến hành quản lý, sử dụng đất, ông L các thành viên trong hgia đình T
không ý kiến gì, do đó đủ sở xác định ông H đã quá trình sdụng đất
thực tế. Sự việc phát sinh tranh chấp khi ông H1 xây hàng rào vào năm 2020.
[12] Tại khoản 1 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:“Giao dịch
dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không
đúng quy định của luật một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án
ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”. Do đó Hợp đồng chuyển
nhượng của hai bên ông H ông L đủ điều kiện để hiệu lực pháp luật theo
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp thẩm đã công nhận toàn
bộ hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L ông H đối với 150m
2
đất tranh chấp là có căn cứ.
[13] Về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị T với
ông Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số
27, tờ bản đồ số 3. Việc T vẫn Hợp đồng tặng cho ông H1 toàn bộ thửa
đất, bao gồm cả phần đất của ông H ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của
ông H, vi phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 117, Điều 122 Bluật Dân sự. vậy, Tòa án cấp thẩm đã
19
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H tuyên bố hiệu một phần Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/6/2020 giữa bà Nguyễn Thị T với ông
Hoàng Thanh H1 đối với 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, diện tích
757,4m
2
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326 đứng tên
Nguyễn Thị T buộc ông H1 phải tháo dỡ, di dời các tài sản này trả lại đất
tranh chấp cho ông H là có căn cứ.
[14] Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp tha. Chi nhánh
Văn phòng Đ cho rằng (Văn bản số 1722/CN.VPKVLAGI ngày 25/5/2026)
phần đất không có thông báo thu hồi thì được tách thửa và hợp vào thửa đất bên
cạnh, còn phần diện ch 42,4m
2
đã thông báo thu hồi đất thì chưa đủ điều
kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông báo số 23/TB-UBND ngày
05/02/2021 của UBND thị xã L (C) thông báo tổng thể, chưa triển khai đến
nay là hơn 5 năm, việc công nhận quyền sử dụng đất không ảnh hưởng đến thực
hiện dự án. Do đó thửa đất vẫn đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Ông H quyền liên hệ quan nhà nước để được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
[15] Qua hồ sơ vụ án, xem xét toàn bộ quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm việc
thu thập chứng cứ của cấp thẩm đúng trình tự thủ tục. Cấp thẩm căn cứ
vào chứng cứ thu thập được để đánh giá nhận định chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn đúng quy định. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, người
kháng cáo không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng
cáo của mình do đó yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, ông Hoàng Thanh
H1 không sở chấp nhận. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm
Đồng phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. HĐXX giữa nguyên
bản án dân sự sơ thẩm.
[16] Việc kiến nghị x hành vi trốn thuế, x Kiểm sát viên, Thẩm
phán đã xét xử thẩm không thuộc phạm vi giải quyết của Hội đồng xét xử
phúc thẩm.
[17] Về án phí: Người kháng cáo phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do yêu
cầu kháng cáo không được chấp nhận theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
[18] Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự (Năm 2015 sửa đổi
bổ sung năm 2025);
20
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị T, ông Hoàng
Thanh H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 14 tháng
11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng.
2. Căn cứ:
- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 116; Điều 117; Điều 122; Điều 129; Điều 385; Điều 398; Điều 401;
Điều 500; Điều 501; Điều 502; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 166; Điều 167; Điều 168 Luật Đất đai năm 2013;
- Điều 220 Luật Đất đai năm 2024;
- Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 47 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ
quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai;
- Quyết định s35/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh B
(Cũ) quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất
đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (Cũ).
3. Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Duy
H;
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày
01/4/2016 giữa ông Đặng Duy H với ông Hoàng Thanh L tại “Giấy mua bán
đất” đề ngày 01/4/2016 (Dạng viết tay, sổ tay kẻ ngang) tại “Giấy xác nhận”
chuyển nhượng đất đề ngày 16/5/2017 (Dạng giấy A4 đánh y) giữa ông Đặng
Duy H với hộ gia đình Nguyễn Thị T, chị Hoàng Thị Kim O, anh Hoàng
Thanh L, chị Hoàng Thị Phi Y, anh Hoàng Thanh H1 đối với diện tích 220m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BQ 355226,
do UBND thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) cấp ngày 26/3/2014 đứng tên hộ
Nguyễn Thị T, địa chỉ thửa đất tọa lạc tại đường N, tổ dân phố C T, phường L,
tỉnh Lâm Đồng; Nay diện tích 150m
2
đất theo đồ khu đất tranh chấp được
chỉnh lý lại do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực L đo vẽ, lập ngày
15/9/2025 (Các điểm trên bản đồ từ điểm 10 đến 11, từ điểm 11 đến 12, từ điểm
12 đến 16, từ điểm 16 đến 17, từ điểm 17 đến 18, từ điểm 18 đến 19, từ điểm 19
đến 10) là có hiệu lực pháp luật.
- Giao cho ông Đặng Duy H được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích
đất nêu trên đồng thời được quyền đăng ký kê khai, đăng ký biến động theo hiện
trạng sử dụng đất với quan Nhà nước thẩm quyền để quan, cấp
21
thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở tài sản khác gắn lin với đất theo quy định của pháp luật về đất
đai (Có sơ đồ kèm theo).
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập ngày
04/6/2020 giữa bà Nguyễn Thị T với anh Hoàng Thanh H1 được chứng thực tại
Ủy ban nhân dân phường T, thị L, tỉnh Bình Thuận (Cũ) đối với diện tích
150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 757,4m
2
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do STài nguyên
và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị T là vô hiệu.
- Huỷ một phần cập nhật biến động (Trang 3 của giấy chứng nhận) đối với
diện tích 150m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 27, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích
757,4m
2
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 156326, do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/3/2017 đng tên Nguyễn Thị T,
Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên anh Hoàng Thanh H1 vào
ngày 18/6/2020 theo hồ sơ số 001774.TA000167./.
- Tuyên buộc ông Hoàng Thanh H1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn
liền với đất gồm: 01 bức tường xây gạch không tô, cao khoảng 2,5m, dài khoảng
5m; 04 cây H do ông H1 trồng khoảng 03 năm tuổi; 01 nền gạch ceramic
khoảng 42,1m
2
, phía dưới là tường gạch và hồ tô, khôi phục lại hiện trạng
ban đầu và bàn giao đất cho ông Đặng Duy H.
(Các đương sự quyền liên hệ quan nnước thẩm quyền để đăng
ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
3.2. Về chi phí tố tụng: Không xem xét.
3.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bị đơn Nguyễn Thị T phải nộp 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)
tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho ông Đặng Duy H số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0005228 ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình
Thuận (Nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 Lâm Đồng, tỉnh Lâm
Đồng).
- Trả lại cho ông Đặng Duy H số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0012244 ngày 07/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình
Thuận (Nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 Lâm Đồng, tỉnh Lâm
Đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
22
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T, ông Hoàng Thanh H1
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ p
Tòa án số 0008859 ngày 19/11/2025 Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0008860 ngày 19/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 -
Lâm Đồng.
5. Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
25/6/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKSND KV15 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV15 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT-TANDTC;
- Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 352/2026/DS-PT Bản án số 352/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 352/2026/DS-PT Bản án số 352/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất