Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 395/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 395/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty CP S - Trương Tuấn K Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM ĐỒNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 395/2026/DS-PT
Ngày: 10/7/2026
V/v: “Tranh chấp QSDĐ
và yêu cầu tháo dỡ, di dời
tài sản trên đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Xô, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Lâm
Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 - 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh Lâm Đồng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sư thụ số 226/2026/TLPT-DS ngày 16
tháng 4 năm 2026 vviệc: Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu tháo dỡ, di
dời tài sản trên đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 10 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 429/2026/QĐ-PT, ngày 05 tháng 6 năm 2026,
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 345/2026/QĐ-PT, ngày 23 tháng 6 năm
2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ng ty cổ phần S;
Địa ch trụ sở: Khu phố T, phường T, tnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế A - Chủ tịch Hội đồng quản
trị kiêm giám đốc; Địa ch: Số C P, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế A: Ông Mai Lưu P, sinh
năm 1987; HKTT: 12.07 khối B Chung A, phường T, thành phố Hồ Chí Minh
Địa ch liên lạc: 7 V, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trương Tuấn K, sinh năm 1970; (có mặt)
Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã H, tnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1976, địa ch:
A H, phường X - Đ, tnh Lâm Đồng. (có mặt)
2
Người bảo vệ quyền lợi cho ông Trương Tuấn K: Luật Vương Xuân K1
Công ty L3, địa ch: sA (lầu A) đường số A, KDC H, khu phố B, phường D, TP
Hồ Chí Minh. (có mặt).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mai Thùy L, sinh năm 1980;
Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, H, tnh Lâm Đồng. Chỗ hiện nay: Số A H,
phường M, tnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa ông Trương
Tuấn K và người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Tuấn K trình bày: Ông
Trương Tuấn K được tặng cho quyền sử dụng đất tại thôn H, xã H, tnh Lâm Đồng,
do Ủy ban nhân dân huyện B, tnh Bình Thuận cũ cấp theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số Đ 042904 ngày 31/5/2004, cập nhật biến động ngày 07/7/2005, ngày
04/01/2017 và ngày 10/02/2017. Sau khi nhận được tài sản, ông Trương Tuấn K đã
trồng trọt sử dụng ổn định và không ai tranh chấp hay nhận được bất kỳ quyết định
thu hồi quyền sdụng đất nào của quan thẩm quyền. Tuy nhiên, Công ty cổ
phần S tranh chấp với ông Trương Tuấn K yêu cầu ông Trương Tuấn K trả diện
tích đất 12.625,3m
2
.
vậy, ông Trương Tuấn K yêu cầu Công ty cổ phần S chấm dứt hành vi xâm
phạm ranh giới quyền sdụng đất tọa lạc tại thôn H, H, tnh Lâm Đồng (Theo
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số Đ 042904 ngày 31/5/2004, cập nhật biến
động ngày 07/7/2005, ngày 04/01/2017 và ngày 10/02/2017).
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối
với đất tranh chấp; Qua đó, xác định: Diện tích đất tranh chấp là 4.750m
2
(Theo Bản
đồ vị trí khu đất tranh chấp quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
quyền sử dụng đất Bắc B cung cấp ngày 29/3/2022). Trên đất tranh chấp ông Trương
Tuấn K đã trồng cây và rào đất, được thể hiện cụ thể tại Biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ ngày 11/3/2022, gồm: 163 cây bằng lăng, 54 cây dừa, 60 cây keo bông vàng
lớn, 210 cây keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, 207 cây dương lớn (cây phi lao),
47 cây dương nhỏ (cây phi lao), 09 cây xoan lớn, 08 cây xoan nhỏ, giếng bơm, 30
trụ bê tông hàng rào, 10 cuộn dây kẽm.
vậy, ông Trương Tuấn K yêu cầu Công ty cổ phần S phải trả lại cho ông
Trương Tuấn K diện tích đất 4.750m
2
tọa lạc tại thôn H, H, tnh Lâm Đồng (Theo
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số Đ 042904 ngày 31/5/2004, cập nhật biến
động ngày 07/7/2005, ngày 04/01/2017 và ngày 10/02/2017).
Đến ngày 10/12/2025, ông Trương Tuấn K đơn đề nghị rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện.
* Quá trình giải quyết vụ án, đại diện của Công ty cổ phần S trình bày:
3
Ông Trương Tuấn K đã có hành vi chiếm đất đai thuộc quyền sử dụng đất của
Công ty từ tháng 6/2019 kéo dài đến hiện tại vẫn chưa chấm dứt. Hành vi này của
ông Trương Tuấn K cũng đã bị UBND H lập Biên bản vi phạm hành chính s
01/BB-VPHC ngày 15/05/2020, qua đó xác định ông Trương Tuấn K đã chiếm
18.338,1 m
2
đất, trong đó gồm 12.625 m
2
đất thuộc quyền sử dụng đất của Công ty
CP S. Vi phạm hành chính này của ông K đã được UBND xã H đề nghị xử phạt tại
công văn số 72/UBND-ĐC ngày 19/5/2020 kèm toàn bộ hồ đến Phòng Tài
Nguyên và Môi Trường huyện B. Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện B đã
tờ trình số 437/TTr-TNMT 26/05/2020 kèm toàn bộ hồ chuyển đến UBND huyện
B đề nghị UBND Huyện B xem xét trình để hoàn tất hồ sơ, lập tờ trình trình UBND
Tnh B đề xử phạt vi phạm hành chính đối với ông K.
Do đó. Công ty cổ phần S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông trương
Tuấn K.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối
với đất tranh chấp; Qua đó, xác định: Diện ch đất tranh chấp là 4.750m
2
(Theo Bản
đồ vị trí khu đất tranh chấp quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
quyền sử dụng đất Bắc B cung cấp ngày 29/3/2022). Trên đất tranh chấp ông Trương
Tuấn K đã trồng cây và rào đất, được thể hiện cụ thể tại Biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ ngày 11/3/2022, gồm: 163 cây bằng lăng, 54 cây dừa, 60 cây keo bông vàng
lớn, 210 cây keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, 207 cây dương lớn (cây phi lao),
47 cây dương nhỏ (cây phi lao), 09 cây xoan lớn, 08 cây xoan nhỏ, giếng bơm, 30
trụ bê tông hàng rào, 10 cuộn dây kẽm.
Diện tích đất tranh chấp 4.750m² nằm trong diện tích đất đã được Ủy ban nhân
tnh Bình Thuận cấp cho Công ty cổ phần S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất CS 579960 ngày 16/10/2019 (cấp lại). Nhưng ông Trương Tuấn K, bà Mai Thúy
L1 đã tự ý trồng 163 cây bằng lăng, 54 cây dừa, 60 cây keo bông vàng lớn, 210 cây
keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, giếng bơm, 30 trụ bê tông hàng rào, 10 cuộn
dây kẽm.
Vì vậy, Công ty cổ phần S có đơn yêu cầu phản tố buộc ông Trương Tuấn K
phải tháo dỡ, di dời 163 cây bằng lăng, 54 cây dừa, 60 cây keo bông vàng lớn, 210
cây keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, giếng bơm máy, 30 trụ bê tông hàng rào,
10 cuộn dây kẽm, ra khỏi diện tích đất 4.750m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
Công ty cổ phần S, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 098156 do
UBND tnh B cấp ngày 09/3/2011.
Riêng đối với 207 cây dương lớn (cây phi lao), 47 cây dương nhỏ (cây phi
lao), 09 cây xoan lớn 08 cây xoan nhỏ cây tự mọc, không phải cây do ông
Trương Tuấn K trồng, nên bị đơn không yêu cầu ông Trương Tuấn K phải tháo dỡ,
di dời.
4
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mai Thùy L không ý kiến
và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 10 tháng 12 năm 2025,
Tòa án nhân dân khu vực 13 – Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ vào: Điều 5; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản
1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 157, khoản 3 Điều 161, khoản 4 Điều 165; điểm
c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 217; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 163, Điều 164, Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
203 Luật đất đai 2013; Nghquyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016
về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án, tuyên xử;
- Tuyên xử:
1. Đình ch yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tuấn K, về việc: Yêu cầu Công
ty Cổ phần S trả lại diện tích đất 4.750m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số Đ 042904 ngày 31/5/2004 nguyên đơn được tặng cho đã được cập nhật
biến động ngày 07/7/2005, ngày 04/01/2017 và ngày 10/02/2017.
Ông Trương Tuấn K quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần S: Buộc ông Trương Tuấn
K, Mai Thùy L phải tháo dỡ, di dời các tài sản gồm: 163 cây bằng lăng, 54 cây
dừa, 60 cây keo bông vàng lớn, 210 cây keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, giếng
bơm máy, 30 trụ bê tông hàng rào, 10 cuộn dây kẽm, ra khỏi diện tích đất 4.750m²
(Được giới hạn bởi các điểm mốc tọa đ9, 10, 21, 11, 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20,
6 Theo bản vẽ Sơ đồ vị trí đất tranh chấp ngày 29/3/2022 thuộc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS 579960 do Ủy ban nhân dân tnh B cấp ngày 16/10/2019).
(Đính kèm Bản vẽ Sơ đồ vị trí đất tranh chấp ngày 29/3/2022).
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 30/12/2025, ông Trương Tuấn K kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng bác bỏ toàn bộ khởi kiện của nguyên đơn. (Ông K vắng mặt ở phiên tòa
sơ thẩm, Tòa sơ thẩm nhận đơn kháng cáo vào ngày 05/01/2026)
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của B luật Tố tụng dân sự; người
tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử đã đúng
quy định của pháp luật, kháng cáo ca bị đơn là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng
5
xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm số 56/2025/DS-ST ngày 10
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
[1] Kháng cáo của bđơn làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1]. Diện tích đất tranh chấp trong vụ án 4.750m
2
, tọa lạc tại thôn H,
H, tnh Lâm Đồng.
Ông Trương Tuấn K cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng
của ông K, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 042904 ngày 31/5/2004
đứng tên ông Thanh B cập nhật biến động sang tên ông K ngày 10/02/2017 (theo
hợp đồng tặng cho).
Công ty S cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng Công ty,
theo giấy chứng nhận số CS 579960 do UBND tnh B cấp ngày 16/10/2019 yêu
cầu ông K phải di dời tài sản do ông K, bà L tạo lập trên đất tranh chấp.
[2.2]. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc: thể hiện diện tích
đất tranh chấp 4.750m
2
do ông K ch dẫn tại thực địa thuộc trong ranh giấy chứng
nhận số CS 579960 do UBND tnh B cấp ngày 16/10/2019 cho Công ty S.
Tại Công văn số 3205/SNNMT-QLĐ ngày 18/6/2025, Sở Nông nghiệp
Môi trường tnh B xác định: Đất tranh chấp diện tích 4.750m
2
, nguồn gốc là
đất chưa sử dụng cho Ủy ban nhân dân xã H quản lý. Hiện nay, diện tích tranh chấp
thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 295 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS
579960 do Ủy ban nhân dân tnh B cấp ngày 16/10/2019 cho Công ty S.
Tài liệu trong hồ thể hiện việc UBND tnh B cấp giấy chứng nhận số CS
579960 cho Công ty S là đúng trình tự, thủ tục. Giấy chứng nhận trên đến nay vẫn
đang có giá trị pháp lý, chưa bị thu hồi hủy bỏ.
Hồ sơ lập dự án của Công ty S thể hiện từ năm 2004, sơ đồ cấp đất của dự án
gồm có diện tích 19.086m
2
do Ủy ban nhân dân xã H quản lý một số diện tích đất
của các hộ dân khác, không có diện tích 11.430m
2
của ông B (sau này chuyển sang
ông K).
Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, ông K không chứng minh được phần diện
tích đất tranh chấp thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được cấp. Ngày
6
xét xử thẩm, ông K m đơn xin rút yêu cầu khởi kiện và xin vắng mặt khi xét xử.
[2.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện ông K cung cấp thêm tài liệu
chứng cứ là bản đồ 299 đối với thửa đất của ông K, bản sao văn bản số 3992/UBND-
NCKSTTHC ngày 17/10/2023 của Ủy ban nhân dân tnh B, bản sao lời khai của một
số người làm chứng. Xét thấy, đối chiếu bản đồ 299 với trích đo địa chính khu đất
của Khu D (hiện thuộc Công ty S) lập năm 2004 (BL07 tài liệu do chính ông K
nộp kèm đơn khởi kiện) thì thể hiện phần diện tích đất 11.430m
2
không nằm trong
dự án của Công ty S. Đồng thời tại chính Công văn số 3992/UBND-NCKSTTHC
ngày 17/10/2023 của y ban nhân dân tnh B đã thể hiện phần đất 11.430m
2
của ông
B (sau này chuyển sang ông K) nằm toàn bộ trong dự án S - H (phần phía trên đồi),
là dán bên cạnh dự án của Công ty S. Tại biên bản làm việc do Sở Tài nguyên &
Môi trường tnh B lập ngày 04/11/2019, đại diện Công ty Cổ phần S1 đã đề nghị
điều chnh giảm diện tích đất của Công ty đối với phần đất cấp chồng lên đất của
các hộ dân, trong đó diện tích 11.430m
2
của ông K. Lời khai của các người làm
chứng bị đơn cung cấp tại Tòa phúc thẩm là đối với phần đất Công ty Cổ phần
S1 tranh chấp với ông Trương Tuấn K trước đây (Đã được đánh giá xem xét tại bản
án số 316/2025/DS-PT ngày 05/11/2025 của Tòa án nhân dân tnh Lâm Đồng),
không liên quan đến phần đất tranh chấp với Công ty S.
Như vậy, có đầy đủ căn cứ chắc chắn để xác định phần đất mà ông K mua từ
ông Thanh B (gồm phần đất giấy chứng nhận chưa giấy chứng nhận
theo lời khai của ông K), hoàn toàn không liên quan gì đến diện tích đất tranh chấp
có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân xã H quản lý, đã được lập dự án cho Công ty L4
(sau này là Công ty S) từ năm 2004, hiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CS 579960 ngày 16/10/2019 (cấp đổi lại từ giấy chứng nhận đã cấp vào
năm 2011).
Người đại diện theo ủy quyền của ông K còn cho rằng sự chồng lấn ranh
đất giữa các dán, thể hiện tại Công văn số 989/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 16/5/2019,
ranh giới đất của Công ty S tăng thêm phần mặt tiền từ 138,32m lên 172,42m. Nhưng
vấn đề này đã được xử lý tại Quyết định số 1540/QĐ-UBND ngày 20/6/2019, từ đó
cấp lại giấy chứng nhận số CS 579960 ngày 16/10/2019 cho Công ty S với phần mặt
tiền đường là 138,32m, đúng với hồ sơ địa chính từ năm 2004.
[3] Từ phân tích ở mục [2], Xét thấy diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của Công ty S; việc ông K vào chiếm đất của Công ty để trồng cây,
tạo lập tài sản trên đất là vi phạm pháp luật đất đai và xâm phạm đến quyền lợi hợp
pháp của Công ty S nên Công ty phản tố yêu cầu ông K tháo dỡ cây trồng, hàng rào
là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty S, xử lý tài
sản trên đất tranh chấp như đã tuyên là đúng pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật bảo vệ bị đơn nêu một số vấn đề vtố
tụng để yêu cầu hủy án sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:
7
[4.1] Về ý kiến Tòa án sơ thẩm thụ Đơn khởi kiện không phải do ông K ký,
nội dung khác hoàn toàn ý chí của ông K. Xét thấy đơn do bên nguyên đơn
nộp, ý chí trong đơn cũng là do bên nguyên đơn làm cung cấp. Sau đó ông K cũng
đã tự rút lại đơn khởi kiện
[4.2] Về ý kiến Tòa án sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Kim L2 tham gia tố tụng
vượt quá phạm vi nội dung ủy quyền của ông K. Xét thấy, giấy ủy quyền ghi ủy
quyền nộp đơn kiện, nhưng nội dung lại nêu về việc tham gia vụ án, được quyền
quyết định mọi vấn đề. Trên thực tế thìL2 đã tham gia quá trình tố tụng, có mặt
cùng với ông K tại các buổi tham xét thẩm định, cùng tham gia c biên bản
mặt ông K, chứng tỏ ông K đã ủy quyền cho bà L2 tham gia tố tụng là đúng ý chí.
[4.3] Về ý kiến Tòa án sơ thẩm triệu tập thiếu 3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là Công ty cổ phần S1, UBND xã H Công ty cổ phần Đ. Xét thấy việc
giải quyết quan htranh chấp trong vụ án này không liên quan tới 3 người liên quan
trên. Cây trồng trên đất còn lại nếu đúng là Công ty Đ trồng để hoàn thổ sau khi khai
thác thì cũng là thuộc đất nhà nước cho Công ty S thuê, là mối quan hệ khác, không
liên quan đến việc tranh chấp.
[4.4] Về ý kiến Tòa án sử dụng Chứng thư thẩm định giá hết hạn làm tài liệu,
chứng cứ. Xét thất vấn đề này các đương sự không đặt ra, không ý kiến khi tòa
án giải quyết cấp thẩm, nội dung khi xét xử thẩm cũng không liên quan
đến giá trị tài sản.
[4.5] Về ý kiến Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử vượt quá yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Xét thấy theo nội dung phản tố đã được thụ lý ý kiến trình bày thể
hiện tại biên bản phiên tòa thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng với
khởi kiện của Công ty S, hoàn toàn không vượt quá yêu cầu khởi kiện.
[4.6] Về ý kiến Tòa án cấp thẩm không xác lập cho ông Mai Lưu P tham
gia tố tụng với vai trò Luật sư của Công ty S, Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai vị trí
tố tụng của ông Mai Lưu P. Xét thấy, ông Mai Lưu P là Luật sư nhưng tham gia với
tư cách là người đại diện theo ủy quyền tại Văn bản ủy quyền ngày 10/01/2022 của
Công ty S. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng tư cách tố tụng. Công ty S nộp
hồ mời Luật sư Kim H tham gia bảo vệ, nhưng sau đó Luật không tham
gia. Quá trình giải quyết, ông P không ý kiến về sự không tham gia của Luật
sư. Tại phiên tòa phúc thẩm ông P xác định ông tham gia tố tụng với cách đại diện
Công ty S.
[4.7] Về ý kiến Tòa án thẩm sử dụng nhiều tài liệu làm chứng cứ chưa được
chứng thực hay sao y. Xét thấy, các tài liệu có trong hồ sơ đều do các cơ quan chức
năng cung cấp, đóng dấu treo, một vài tài liệu như báo cáo của Phòng tài
nguyên tham mưu cho Ủy ban huyện B, hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển
nhượng ptô, nhưng các i liệu này ch tham khảo, không phải để đánh giá giải
quyết vụ án, và các tài liệu này cũng không mâu thuẫn gì với các nội dung khác.
8
[4.8] Về ý kiến Tòa án thẩm chưa thu thập nhiều tài liệu, chứng cứ quan
trọng nhưng đã đưa vụ án ra xét xử. Xét thấy hồ sơ tài liệu tại vụ án gồm nhiều
tài liệu chứng cứ về hồ sơ địa chính, đã được thẩm định, đo đạc, xác định vị trí đất
tranh chấp, ý kiến của các quan hữu quan, đối chiếu với các chứng cứ khác, đã
chứng minh đầy đủ cho việc giải quyết vụ án, một lần nữa đã được làm rõ thêm
tại phiên tòa phúc thẩm. Nên ý kiến này cũng không có căn cứ.
Từ phân tích thể hiện tại mục [4.1] đến [4.8], xét tất cả các ý kiến trên của
Luật sư không phải là căn cứ để hủy án sơ thẩm.
[5] Tòa án cấp thẩm xét xử chấp nhận khởi kiện của Công ty S căn
cứ, đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử không đúng,
đề nghị hủy án thẩm nhưng không nêu ra được căn cứ theo quy định của pháp
luật. Do đó kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.
[6] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên ông K phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng
cáo của ông Trương Tuấn K; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2025/DS-ST
ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 Lâm Đồng.
Căn cứ vào: Điều 5; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản
1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 157, khoản 3 Điều 161, khoản 4 Điều 165; điểm
c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 217; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 163, Điều 164, Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân snăm 2015; Điều
203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016
về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án, tuyên xử;
- Tuyên xử:
1. Đình ch yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tuấn K, về việc: Yêu cầu ng
ty Cổ phần S trả lại diện tích đất 4.750m
2
, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số Đ 042904 ngày 31/5/2004 nguyên đơn được tặng cho đã được cập nhật
biến động ngày 07/7/2005, ngày 04/01/2017 và ngày 10/02/2017.
Ông Trương Tuấn K quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần S: Buộc ông Trương Tuấn
K, Mai Thùy L phải tháo dỡ, di dời các tài sản gồm: 163 cây bằng lăng, 54 cây
9
dừa, 60 cây keo bông vàng lớn, 210 cây keo bông vàng nhỏ, 79 cây bông giấy, giếng
bơm máy, 30 trụ bê tông hàng rào, 10 cuộn dây kẽm, ra khỏi diện tích đất 4.750m²
(Được giới hạn bởi các điểm mốc tọa đ9, 10, 21, 11, 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20,
6 Theo bản vẽ Sơ đồ vị trí đất tranh chấp ngày 29/3/2022 thuộc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS 579960 do Ủy ban nhân dân tnh B cấp ngày 16/10/2019).
(Đính kèm Bản vẽ Sơ đồ vị trí đất tranh chấp ngày 29/3/2022).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí
và lệ phí Tòa án;
Ông Trương Tuấn K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Dân
sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tiền
số 0002129, ngày 29/01/2026 của Thi hành án dân sự tnh Lâm Đồng Lâm Đồng,
ông K đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/7/2026)
Nơi nhận:
- VKSND tnh LĐ;
- TAND khu vực 13-LĐ;
- Phòng THADS khu vực 13-LĐ;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thái Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất