Bản án số 707/2026/DSPT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 707/2026/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 707/2026/DSPT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 707/2026/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 707/2026/DSPT Bản án số 707/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 707/2026/DSPT Bản án số 707/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 707/2026/DS-PT
Ngày: 21-8- 2026
V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất;
Đòi lại tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Các Thẩm phán: - Ông Lê Thành Tôn;
- Ông Nguyễn Chí Dững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Phan Thị Thanh Mến- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 21 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 397/2026/TLPT-DS ngày
23/06/2026 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất; đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm s39/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1199/2026/QĐ-PT ngày 02
tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Thị Đ, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thảo T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay ấp M, xã T, tỉnh
Đồng Tháp) đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/7/2023).
- Bị đơn: Ông Võ Thành K, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Võ Trà M, sinh ngày 17/3/2004.
Địa chỉ: Thôn A, xã C, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ liên hệ: Tầng I Tòa nhà L, A A N, Phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Kim K1, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Chị Võ Thị Phương L, sinh năm 2010.
3. Chị Võ Thị Phương T1, sinh năm 2012.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của Phương L, Phương T1: Bà Phạm Kim K1 và ông
Võ Thành K Là cha mẹ.
4. Chị Võ Thị Phương Q, sinh năm 2001.
Địa chỉ: N, khu N, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Võ Trà M, sinh ngày 17/3/2004.
Địa chỉ: Thôn A, xã C, tỉnh Lâm Đồng.
5. Bà Võ Thị Đ1, sinh năm 1960 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
6. Bà Võ Thị K2, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
7. Ông Võ Thanh K3, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số F, ấp M, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
8. Bà Võ Thanh T2, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Thanh K4, chị Thị
Phương Q: Ông Đoàn Đình M1- Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Thành K; Người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Võ Thị Phương Q.
(Tại phiên tòa mặt: chị Nguyễn Thị Thảo T, chị Nguyễn Trà M, ông
Đoàn Đình M1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm,
* Nguyên đơn bà Võ Thị Đ có chị Nguyễn Thị Thảo T là dại diện theo uỷ quyền
trình bày:
Nguồn gốc quyền sử dụng đất do Dương Thị H (mẹ Đ) nhận chuyển
nhượng của ông Hồ Văn N vào ngày 26/04/1994 với trị giá 30 chỉ vàng 24kr, diện
tích chiều ngang 17m, chiều dài từ lộ đến kinh xáng múc. Khi nhận chuyển nhượng
thì cụ H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó cụ H chia cho
T2, ông K3, bà Đ và cH đứng tên mi người một nền, K2 thì không nhận tài
sản, bà Đ1 đã được cho vàng lúc lấy chồng nên không nhận tài sản.
Cụ H (chết năm 2013) và chồng là cụ Võ Văn K5 (chết năm 2006) có 06 người
con chung, gồm: Võ Thị Đ1, Võ Thị Đ, Võ Thị K2, Võ Thanh K3, Võ Thanh T2 và
Võ Thành K. Ngoài ra, hàng thừa kế thứ nhất của cH không còn ai khác.
Trước đây, trong giấy tờ của bà Đ thhiện tên Võ Thị B, sau này Đ mới làm
hồ sơ lại tên Võ Thị Đ, nên thời điểm được cụ H cho đất thì bà Đ đứng tên giấy đất
3
Thị B. Đối với phần đất tranh chấp, lúc này bà Đ chưa nhu cầu sử dụng đất
nên cụ H trao đổi với bà Đ để chuyển nhượng phần đất trên cho người khác với
giá 130.000.000 đồng, Đ không biết bán cho ai vào thời gian nào phần
đất trên Đ đứng tên nhưng thực hiện thủ tục chuyển nhượng cụ H thực hiện.
Sau khi chuyển nhượng thì cụ H đưa cho bà Đ 5.000.000 đồng, còn lại 125.000.000
đồng tcụ H giữ lại để xây dựng nhà, như vậy Đ chưa nhận tài sản. c cụ H
xây nhà thì các anh chị em trong gia đình đều biết, lúc này ông K vừa chấp hành án
về và sinh sống cùng với cụ H.
Ngày 11/01/2005, do sức khỏe yếu nên cụ H, cụ K5 m giấy tay phần đất
tranh chấp cho ông K đứng tên, để tiện việc giao dịch tại Ngân hàng, bà Đ không ký
tên trong giấy thỏa thuận này.
Ngày 21/01/2005, cụ H được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất số: 2448, tờ bản đồ số: 04, diện tích: 80m
2
(Hiện nay thuộc thửa
3298, tờ bản đồ số 4, diện tích 60,9m
2
).
Năm 2005, ông K5 chết không để lại di chúc, ông K đã được cha mẹ cho
đứng tên toàn bộ diện tích khoảng 10.000m
2
đất lúa, anh chị em trong gia đình không
ai biết và hiện nay cũng không có ý kiến gì. Thời điểm năm 2005, hộ khẩu của cH
gồm có cụ H, cụ K5, ông K3, ông K.
Ngày 17/10/2007, cụ H viết một tờ tường trình gởi cho các anh chị em về
thái độ đối xử không tốt với cụ H của ông K và quyết định không giao nhà, đất cho
ông K nữa, mà di chúc phần đất và nhà trên lại cho bà Đ.
Thời điểm năm 2011, khi cụ H lập di chúc thì hộ khẩu của cụ H gồm cụ H, ông
K3, ông K, bà K1, Phương Q, Phương L, Phương T1.
Ngày 15/01/2013, cụ H chết có để lại di chúc được lập ngày 12/5/2011 với nội
dung: cho Thị Đ toàn bộ tài sản gồm: 01 nền nhà diện tích 80m
2
, tại thửa:
2448, tờ bản đồ số: 04, loại đất: đất nông thôn và căn nhà cấp 4 trên đất, tọa lạc tại
M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nhưng lúc này giấy đất do cụ H đứng tên còn thế
chấp vay vốn trong ngân hàng, bà Đ yêu cầu ông K chuộc lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất để làm thủ tục thừa kế theo di chúc, nhưng ông K không chuộc. Lúc này,
K2 cho ông K mượn số tiền 30.000.000 đồng để chuộc lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại ngân hàng, đối với việc K2 cho ông K mượn số tiền trên thì không
có yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Sau đó, bà Đ đã đăng thủ tục nhận thừa kế số i sản trên được UBND
huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CG 207651, số vào sổ GCN:
CH06356, Diện tích: 60,9 m
2
; thửa: 3298; tờ bản đồ số 04, Mục đích sử dụng: đất
tại nông thôn; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; nguồn gốc sử dụng: Nhận thừa kế
đất được công nhận QSDĐ vào ngày 24/4/2017.
Lúc này, do Đ chưa nhu cầu sử dụng đất nên ngày 13/7/2017, Đ
làm Di chúc với nội dung “… trong thời gian tôi còn sống nếu tôi bán căn nhà
4
đất, sau khi trừ đi chi phí tôi sẽ chia cho em trai tôi là Võ Thành K, sinh năm 1980.
Với số tiền 1/3 giá trị số tiền còn lại sau khi trừ chi phí chuyển nhượng.
Trong thời gian 03 năm kể từ ngày lập di chúc (13/7/2017), trường hợp nếu tôi
còn sống và ý định về ở trên n nhà trên thì ông Võ Thành K phải giao lại căn
nhà cho tôi dùng để ở.
Trường hợp tôi có mất trong thời gian 03 năm, kể từ ngày (13/7/2017), thì các
con của tôi phải thực hiện đúng theo di nguyện của tôi…”.
Hiện nay, Đ không chỗ nào khác phải đang thuê nhà đnên nhu
cầu sử dụng đất và nhà trên nhưng ông K không đồng ý giao trả, không chịu trả nhà
lại cho bà Đ.
Nay Đ yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với người bị kiện
như sau:
- Buộc hông Thành K phải di dời chỗ tài sản đtrả lại nhà đất diện
tích đo đạc thực tế 60,9m
2
; thửa: 3298; tờ bản đồ số 04 (trong phạm vi các mốc
M1-M2-M3-M4 về mốc M1), mục đích sử dụng: đất tại nông thôn; Hình thức sử
dụng: sử dụng riêng; nguồn gốc sử dụng: Nhận thừa kế đất được công nhận QSDĐ
vào ngày 24/4/2017, và căn nhà trên đất, nhà mái tole, vách tường, cột bê-tông, nền
gạch; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho Võ Thị Đ được quyền quản
lý và sử dụng.
- Thị Đ đồng ý hỗ trợ chi phí di dời chỗ cho hộ ông Thành K
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Chị T đại diện cho Đ thống nhất với đồ đo đạc ngày 13/5/2024 do Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T cung cấp và Biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ của Tòa án.
Chị T thống nhất xác định giá trị diện tích đất tranh chấp là 800.000.000 đồng
(T3 trăm triệu đồng) và giá trị căn nhà trên đất là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu
đồng).
Tại phiên tòa ngày 17/9/2025, anh H1 đại diện cho bị đơn yêu cầu giám định
chữ của ông K trong tờ di chúc ngày 13/7/2017 của Đ nhưng trong quá trình
làm việc sau đó thì anh H1 xác định rút lại yêu cầu này nên chị T không có ý kiến
gì. Đối với lời trình bày của anh H1 về việc chị Q đi nước ngoài, nhưng sau đó chị
Q đã về nước và kết hôn rồi chuyển hộ khẩu đi nơi khác, bà Đ có tham dự đámới
của chQ, hiện chị Q không còn sinh sống trên phần đất tranh chấp, đồng thời chQ
cũng không văn bản trình bày ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xgiải quyết theo
quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông K xây dựng thêm nền tông
mái che phía trước nhà. Chị T và Đ thống nhất giá trị xây dựng 20.000.000
đồng.
Tại phiên toà, chị T đại diện cho bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
5
- Yêu hông Thành K phải di dời chỗ ở và tài sản để trả lại nhà và đất diện
tích đo đạc thực tế 60,9m
2
; thửa: 3298; tờ bản đồ số 04 (trong phạm vi các mốc
M1-M2-M3-M4 về mốc M1), mục đích sử dụng: đất tại nông thôn; Hình thức sử
dụng: sử dụng riêng; nguồn gốc sử dụng: Nhận thừa kế đất được công nhận QSDĐ
vào ngày 24/4/2017, và căn nhà trên đất, nhà mái tole, vách tường, cột bê-tông, nền
gạch; tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho Võ Thị Đ được quyền quản
lý và sử dụng.
- Thị Đ đồng ý hỗ trợ chi phí di dời chỗ cho hộ ông Thành K
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Đối với phần nền bê tông và mái che do ông K xây dựng trong quá trình giải
quyết vụ án thì, do kết cấu gắn liền với đất nên bà Đ đồng ý tiếp tục sử dụng trả
giá trị cho ông K là 20.000.000 đồng.
* Bị đơn ông Thành K có người đại diện theo ủy quyền anh Trần Văn H1
trình bày:
Nguyên nguồn gốc đất của cụ Dương Thị H (mẹ ông K) mua của ông Trần
Văn R được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 04/01/2005 thuộc
thửa số 2448, tờ bản đồ số 04 với diện tích là: 80m
2
, đất tọa lạc tại M, huyện T,
tỉnh Đồng Tháp do hộ bà Dương Thị H đứng tên.
Đến ngày 11/01/2005, thì gia đình làm biên bản chuyển quyền sử dụng đất
nền nhà cho ông K, được T4 ấp và cán bộ Tư pháp xác nhận. Do lúc đó ông K nghĩ
phần đất này gia đình cho nên cũng không gấp để làm thủ tục sang tên. Đến năm
2013 thì cụ H chết, sau đó không biết sao Đ đã làm thủ tục qua tên bà Đ
đứng tên phần đất tranh chấp trên.
Trong khi đó ông K người được cha mẹ cho phần đất trên ông K cũng
chung sống cha mẹ từ trước đến nay. Hiện ông K cũng đang thờ cúng cha mẹ. Hiện
nay, hộ ông K đang sinh sống trong căn nhà trên đất tranh chấp, gồm có ông K,
Phạm Kim K1, Võ Thị Phương L, Võ Thị Phương T1.
Ông K có yêu cầu bà Đ làm thủ tục sang tên nhưng bà Đ không đồng ý.
Nay ông Thành K có yêu cầu phản tố yêu cầu bà Võ Thị Đ làm thủ tục sang
tên lại cho ông K phần diện tích đo đạc thực tế là 60,9m
2
thuộc thửa số 3298, tờ bản
đồ số 04 (trong phạm vi các mc M1-M2-M3-M4 về mốc M1), đất tọa lạc tại M,
huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Đ đứng tên.
Anh H1 đại diện cho ông K thống nhất với đồ đo đạc ngày 13/5/2024 do
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp và Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ của Tòa án.
Anh H1 thống nhất xác định giá trị diện tích đất tranh chấp 800.000.000 đồng
(T3 trăm triệu đồng) và giá trị căn nhà trên đất là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu
đồng).
Ngoài phần đất trên thì gia đình ông K không còn chỗ ở nào khác.
6
Tại phiên tngày 17/9/2025, anh H1 trình bày vào thời điểm năm 2013 thì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp ngân hàng, ông K người đi
chuộc lại giấy, n việc K2 đưa 30.000.000 đồng cho ông K đi chuộc giấy hay
không thì anh H1 không biết. Năm 2015 thì các anh em có làm văn bản tạm ngừng
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ. Anh H1 thừa nhận trước đây cha
mẹ cho ông K khoảng 10 công đất ruộng nhưng hiện nay đã sang bán. Đối với
Thị Phương Q thiện đang đi lao động nước ngoài, nhưng trong thời gian này
cũng có đi về nhà ở Việt Nam.
Tại phiên họp ngày 15/01/2026, anh H1 đại diện cho ông K xác định rút lại yêu
cầu giám định chữ đối với chữ của ông K trong Di chúc ngày 13/7/2017. Đồng
thời, anh H1 trình bày hiện chị Q đã về nước sinh sống, chị Q đã biết việc tranh chấp
giữa bà Đ với ông K, đồng thời chị Q đã kết hôn và về nhà chồng sinh sống, không
còn ở trên đất tranh chấp.
Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai ngày 17/3/2026, anh H1 trình bày trong quá
trình giải quyết vụ án, ông K xây dựng thêm phần nền tông mái che phía
trước trị giá 20.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Đ1 trình bày ý kiến:
Bà Đỡ thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Đ, thống nhất với việc bà Đ
được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Dương Thị H để lại. Đối với Biên bản
chuyển quyền sử dụng đất nền nhà cho con ngày 11/01/2005 thì Đ1 không biết.
Đối với Văn bản “Lời trình bày của mẹ” ngày 17/10/2007 thì bà Đ1 nghe nói
nhưng không nhớ chính xác nội dung, Đ1 cũng có nghe cụ H nói lại với bà Đ1.
Đối với việc Đ được đứng tên phần đất tranh chấp theo di chúc của cụ H t
Đ1 thống nhất, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị K2 trình bày ý kiến:
K2 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Đ, thống nhất việc bà Đ được
hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Dương Thị H để lại. Đối với Biên bản chuyển
quyền sử dụng đất nền nhà cho con ngày 11/01/2005 thì K2 không biết. Đối với
Văn bản “Lời trình bày của mẹ” ngày 17/10/2007 thì bà K2 nghe nói nhưng không
nhớ chính xác nội dung, K2 cũng nghe cụ H nói lại với bà K2. Đối với việc bà
Đ được đứng tên phần đất tranh chấp theo di chúc của cụ H thì bà K2 thống nhất để
Đ thừa hưởng và thờ cúng theo di chúc, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh K3 trình bày ý kiến:
Ông K3 thống nhất với toàn blời trình bày của Đ, thống nhất việc Đ
được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Dương Thị H để lại. Đối với Biên bản
chuyển quyền sử dụng đất nền nhà cho con ngày 11/01/2005 thì ông K3 biết
tên biên bản. Sau đó, do buồn phiền vợ chồng ông K nên cụ H mới thay đổi ý
kiến, để cho Đ hưởng thừa kế phần đất nhà trên. Đối với Văn bản “Lời trình
bày của mẹ” ngày 17/10/2007 thì ông K3 nghe nói nhưng không biết chính xác
nội dung, ông K3 cũng nghe cụ H nói lại với ông K3. Đối với việc Đ được
7
đứng tên phần đất tranh chấp theo di chúc của cụ H thì ông K3 thống nhất để bà Đ
thừa hưởng thờ cúng theo di chúc, ngoài ra không được sang bán, không ý
kiến hay yêu cầu gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thanh T2 trình bày ý kiến:
T2 thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà Đ, thống nhất việc bà Đ được
hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Dương Thị H để lại. Đối với Biên bản chuyển
quyền sdụng đất nền nhà cho con ngày 11/01/2005 thì T2 biết do T2
người viết nội dung và tên. Sau đó, do buồn phiền vợ chồng ông K nên cụ H
mới thay đổi ý kiến, để cho Đ hưởng thừa kế phần đất và nhà trên. Đối với Văn
bản “Lời trình bày của mẹ” ngày 17/10/2007 thì bà T2 biết nội dung, T2 cũng có
nghe cụ H nói lại với T2. Đối với việc Đ được đứng tên phần đất tranh chấp
theo di chúc của cụ H thì bà T2 thống nhất để bà Đ thừa hưởng và thờ cúng theo di
chúc, ngoài ra không được sang bán, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Kim K1, Võ Thị Phương L,
Thị Phương T1, Thị Phương Q vắng mặt và thống nhất với toàn bộ lời trình
bày của ông K.
Tại bản án dân sự thẩm số 39/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10- Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 2, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 73, Điều
91, Điều 96, Điều 147, điểm b, c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
- Điều 23, Điều 26 của Luật Đất đai năm 2024;
- Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Đ.
Buộc hộ ông K gồm ông Thành K, Phạm Kim K1, chị Thị Phương
T1, chị Thị Phương L trách nhiệm di dời chỗ tài sản trả lại cho
Thị Đ phần đất có diện tích 60,9m
2
; thuộc thửa 196; tờ bản đồ số 65 (trong phạm vi
các mốc M1-M2-M3-M4 về mốc M1), mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, hình
thức sử dụng: sử dụng riêng, căn nhà trên đất, kết cấu mái tole, vách tường, cột
-tông, nền gạch, nhà và đất tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là
M, tỉnh Đồng Tháp).
Hộ ông K gồm ông Võ Thành K, Phạm Kim K1, chị Thị Phương T1, chị
Thị Phương L được quyền lưu cư trong thời hạn 06 (Sáu) tháng kể từ ngày bản
án có hiệu lực pháp luật.
8
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024, ngày
19/12/2024 và ngày 13/3/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 10 – Đồng Tháp; Ph
lục trích đo ngày 06/4/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ2).
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị Đ hỗ trợ hông Thành K gồm ông
Thành K, Phạm Kim K1, chị Võ Thị Phương T1, chị Võ Thị Phương L di dời
chỗ ở và tài sản với số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của Võ Thị Đ về việc hoàn trả giá trị nền bê tông
và mái che phía trước với số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bà
Thị Đ được quyền sử dụng phần nền sân bê tông và mái che phía trước.
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Võ Thành K về việc yêu cầu bà Võ Thị Đ
làm thtục sang tên lại cho ông K phần diện tích đo đạc thực tế 60,9m
2
thuộc thửa
số 3298, tờ bản đồ số 04 (trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 về mốc M1), đất
tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Đ đứng tên.
5. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026, bị đơn ông Thành K, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan chị Thị Phương Q kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
* Đại diện ủy quyền của ông K, chQ người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho ông K, chị Q có ý kiến cho rằng: Di chúc của bà H lập không hợp pháp vì
đất này cấp cho hộ, nhân H không quyền định đoạt nên đề nghị Hội đồng
xét x hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất cấp cho Đ, công nhận quyền sử
dụng phần đất tranh chấp cho ông K.
* Đại diện y quyền của nguyên đơn ý kiến: Cấp thẩm giải quyết vụ án
đúng pháp luật, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông K, chị Q1, đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự các văn bản pháp luật liên quan đến
việc xét xử vụ án. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền nghĩa
vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung:
Kiểm sát viên cho rằng cấp thẩm giải quyết vụ án căn cứ, đúng pháp
luật, yêu cầu kháng cáo của ông K, chị Q không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét
xử giữ nguyên bản án sơ thẩm,.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, người liên quan, lời trình bày của các đương
9
sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc hộ ông Võ Thành K phải
di dời chỗ ở và tài sản để trả lại nhà đất diện tích đo đạc thực tế 60,9m
2
; thửa
3298 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo nội dung đơn
khởi kiện của nguyên đơn, cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
“Quyền sử dụng đất; Đòi lại tài sản” và thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo
quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 07/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 10- tỉnh Đồng Tháp xét xử vụ án
xét xử vắng mặt phía bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị
đơn, không đồng ý với bản án thẩm, ngày 06 tháng 5 năm 2026, bị đơn ông
Thành K, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Phương Q kháng cáo
bản án sơ thẩm trong hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên
được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Những người quyền lợi, nghĩa vliên quan
có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Các tài liệu có trong hồ sơ ván thể hiện về nguồn gốc phần
đất tranh chấp do cụ Dương Thị H nhận chuyển nhượng vào năm 1994, sau đó, cụ
H chia thành 04 nền nhà, cho bà Đ, T2, ông K3 mỗi người một nền nhà và cụ H
còn lại một nền nhà. Ngày 06/9/2000, Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất diện tích 80m
2
, thửa 2448, tờ bản đồ số 04. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên cụ
H thỏa thuận vớiĐ cụ H bán nền của cụ cho người khác với giá 130.000.000
đồng, và Đ sẽ chuyển nhượng thửa 2448 lại cho cụ H (thời điểm này bà Đ đứng
tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tên khác Thị B). Ngày
04/01/2005, cụ H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2448.
Đến ngày 11/01/2005, cụ H lập biên bản chuyển quyền sử dụng đất cho ông K, biên
bản không Đ, Đ1 K2 tham gia. Đến tháng 5/2009, cụ H làm thủ tục
biến động đối với thửa 2448 do thu hồi đất nên diện tích phần đất trên còn lại 60,9m
2
.
Ngày 12/5/2011, cụ H lập Di chúc để lại thửa đất 2448, tờ bản đồ số 04 căn
nhà trên đất cho Đ, Di chúc chứng thực của Ủy ban nhân dân M, ngày
15/01/2013 thì cụ H chết, đến ngày 24/4/2017 thì Đ được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất trên đổi thành thửa 3298, tờ bản đồ số 4 (Nay
là thửa 196, tờ bản đồ số 65).
Xét phần tài sản trên của nhân cụ H, bỡi lphần đất này cụ H nhận
chuyển nhượng từ bà Đ từ năm 2005, các anh chị em của bà Đ, ông K đều xác nhận
việc này cho nên cụ H định đoạt tài sản này cho Đ theo thủ tục thừa kế hợp
pháp, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ.
10
Về phía ông K cho rằng cha mẹ cho đất ông bằng Biên bản ngày 11/01/2005,
nhưng suốt thời gian qua ông không đăng khai để được cấp QSDĐ, biên bản
ngày 11/01/2005 cũng không được công chứng, chứng thực, ông K biết Đ được
đứng tên phần đất tranh chấp từ năm 2017 nhưng không ý kiến về việc Đ
được nhận thừa kế đối với phần đất tài sản trên nên ý kiến của ông không
sở xem xét. Đối với yêu cầu phản tố, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với
phần đất tranh chấp, tại phiên tòa ngày 07/4/2026, anh Trần Văn H1 là đại diện theo
uỷ quyền của ông K đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà thẩm đến lần thứ
hai nhưng vẫn vắng mặt không do, cấp thẩm căn cứ điểm c khoản 2 Điều
227 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu phản tố là đúng pháp luật.
Theo xác nhận của Chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực XII Đ (bút lục 138) thì hiện
ông K được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp quyền sử dụng thửa đất số 64,
tờ bản đồ số 44, diện tích 25,4m
2
loai đất ONT, tọa lạc tại xã M, tỉnh Đồng Tháp, đủ
điều kiện di dời tới chỗ ở mới khi phải trả nhà, đất cho bà Đ.
Ý kiến và đề nghị của đại diện ủy quyền của ông K, chQ luật sư là không
căn cứ, bỡi lẽ như đã phân tích trên hiện nay Đ vẫn đang đứng tên quyền s
dụng đất, giai đoạn giải quyết vụ án thẩm phía ông K, chị Q1 không yêu cầu
hủy Di chúc lập ngày 12/5/2011, cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp
cho Đ, đồng thời phía ông K đã từ byêu cầu phản tố tại phiên xét xử sơ thẩm và
Hội đồng xét xử thẩm đã đình chỉ yêu cầu phản tố nên ý kiến này không được
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đ tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời chỗ với số tiền 50.000.000đ, hoàn
trả gtrị tài sản mà ông K xây dựng thêm 20.000.000đ cho lưu cư 06 tháng
lợi cho phía bị đơn.
Như đã phân tích trên, bà Đ đưc tha kế và đứng tên quyn s dụng đất, căn
nhà trên đất hp pháp, phía ông K, ch Q kháng cáo nhưng không tài liu, chng
c mi chng minh, cấp thẩm gii quyết v án căn cứ, đúng pháp luật nên
yêu cu kháng cáo không được chp nhn.
[ 3] Về án phí:
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân khu vực 10 ban hành
quyết định số 111/2026 ngày 30/6/2026 sửa chữa phần án phí sơ thẩm đối với ông
K, việc sửa chữa, bổ sung án phí này phù hợp với quy định tại Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội,
đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Đối với án phí dân sự phúc thẩm, do yêu cầu kháng cáo của ông K, chị Q1
không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo luật định.
[ 4 ] Các vấn đề khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
11
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Thành K, chị Thị Phương
Q.
Giữ nguyên bản án số số 39/2026/DS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Toà
án nhân dân khu vực 10– Đồng Tháp
Căn cứ: Khoản 2, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều
73, Điều 91, Điều 96, Điều 147, điểm b, c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 23, Điều 26 của Luật
Đất đai năm 2024; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Đ.
Buộc hộ ông K gồm ông Thành K, bà Phạm Kim K1, chị Võ Thị Phương
T1, chị Thị Phương L trách nhiệm di dời chỗ tài sản trả lại cho bà Võ Thị
Đ phần đất có diện tích 60,9m
2
; thuộc thửa 196; tờ bản đồ số 65 (trong phạm vi các
mốc M1-M2-M3-M4 về mc M1), mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, hình thức
sử dụng: sử dụng riêng, căn nhà trên đất, kết cấu mái tole, vách tường, cột -
tông, nền gạch, nhà và đất tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M,
tỉnh Đồng Tháp).
Hộ ông K gồm ông Thành K, Phạm Kim K1, chị Thị Phương T1,
chị Thị Phương L được quyền lưu trong thời hạn 06 (Sáu) tháng kể từ ngày
bản án có hiệu lực pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024, ngày
19/12/2024 và ngày 13/3/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 10 – Đồng Tháp; Phụ
lục trích đo ngày 06/4/2026 của Chi nhánh Văn phòng Đ2).
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thị Đ hỗ trợ hộ ông Thành K gồm
ông Thành K, Phạm Kim K1, chị Võ Thị Phương T1, chị Thị Phương L
di dời chỗ ở và tài sản với số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị Đ về việc hoàn trả giá trị nền bê tông
và mái che phía trước với số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bà
Thị Đ được quyền sử dụng phần nền sân bê tông và mái che phía trước.
12
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Thành K về việc yêu cầu Thị
Đ làm thtục sang tên lại cho ông K phần diện tích đo đạc thực tế 60,9m
2
thuộc
thửa số 3298, tờ bản đồ số 04 (trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 về mốc M1),
đất tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Đ đứng tên.
5. Về án phí:
- Án phí dân sự thẩm:
Hộ ông K gồm có ông Võ Thành K, Phạm Kim K1, chị Võ Thị Phương L,
chị Thị Phương T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba tram ngàn đồng) án phí dân sự
sơ thẩm.
Sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của
ông Võ Thành K tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Toà án số 0006241 ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp
Mười (Nay là Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Đồng Tháp).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông K phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí 300.000 đã nộp theo biên lai thu số 0006754 ngày 06/5/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp xem như đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Chị Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm được cấn trừ vào số tiền
tạm ứng án phí 300.000 đã nộp theo biên lai thu số 0006755 ngày 06/5/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp xem như đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế
thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Án tuyên lúc 08 giờ 20 phút ngày 21/8/2026 mặt ông Đoàn Đình M1, đại
diện viện kiểm sát, các đương sự còn lại vắng mặt.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
14
Nơi nhn:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 10-Đồng Tháp;
- VKSND khu vc 10- Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Ngọc Thái Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 707/2026/DSPT Bản án số 707/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 707/2026/DSPT Bản án số 707/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất