Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tánh Linh (TAND tỉnh Bình Thuận)
Số hiệu: 44/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Đ - Phạm Ngọc D, Đinh Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 44/2024/DS-ST
Ngày: 08/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mận.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Duy Bản;
2. Ông Phạm Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Biện Thị Uyển Nhi Thư ký Tòa án nhân dân huyện T,
tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Đinh Thị
Vân Anh Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử thẩm
công khai vụ án thụ số 108/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, về việc:
“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố
69/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L,
huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn:
1/Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1958;
2/ Bà Đinh Thị H, sinh năm 1964;
Cùng địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Đinh Thị H đã ủy quyền cho ông Phạm Ngọc D.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đ, bị đơn ông D có mặt, H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn – chị Trần Thị Đ trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Do quan hệ quen biết với nhau nên chị Trần Thị Đ đã cho vợ chồng ông Phạm
Ngọc D và bà Đinh Thị H vay tiền các lần cụ thể như sau:
+ Lần thứ nhất: Ngày 04/02/2023, chị Đ cho ông D vay số tiền 95.000.000đồng
để chi phí đám cưới cho con. Do không có tiền mặt nên chị Đ có vay của người khác
dùm ông Doanh số tiền này. Khi giao tiền vay thì ông D và chị Đ viết giấy mượn
tiền và ông D đã ký tên dưới mục người mượn tiền rồi giao cho chị Đ. Trong giấy vay
tiền không thể hiện thời hạn vay lãi suất vay. Tuy nhiên giữa chị Đ ông D thỏa
thuận thời hạn khoảng 01 tháng (số tiền mượn để lo đám cưới cho con); lãi suất thì có
thỏa thuận ông D phải trả lãi cho chị Đ theo mức lãi suất 6%/tháng đây là tiền chị Đ
đi vay của người khác giúp ông D.
+ Lần thứ hai: Do ông D, H vay stiền 200.000.000đồng tại Ngân hàng N
hết thời hạn vay theo hợp đồng nhưng vợ chồng ông D không có tiền trả ntại Ngân
hàng nên ông D hỏi vay tiền của chị Đ để đáo hạn tại Ngân hàng. Tính cả tiền gốc
tiền lãi 01 năm ông D không đóng cho Ngân hàng lên tới hơn 200.000.000đồng.
Ông D hứa với chị Đ cho ông D vay tiền trả cho Ngân hàng ông D sẽ vay thêm
để trả nợ cho chị Đ. Tuy nhiên sau khi chị Đ trả nợ gốc lãi tại Ngân hàng cho ông
D thì ông D không vay tăng vốn được vì các con ông D không đồng ý ký vay. Ông D
chỉ vay lại được 200.000.000đồng nên chỉ trả cho chị Đ được số tiền mượn để trả gốc
vào ngân hàng còn số tiền lãi chị Đ bỏ ra trả lãi vay cho ông D thì ông D không trả
được cho chị Đ. Cho đến ngày 14/12/2023 sau một thời gian chờ ông Doanh thu x trả
nợ không được thì chĐ mới yêu cầu ông D viết giấy mượn tiền cho chị Đ đúng với
số tiền mà trước đó chị Đ đã trả lãi tại ngân hàng T ông D 14.500.000đồng. Khi viết
giấy mượn tiền ông D có hẹn đến ngày 14/2/2024 sẽ trả cho chị Đ nhưng đến nay vẫn
không trả. Do khi viết giấy mượn tiền ông D hứa thời gian trả nợ sớm nên hai bên
không thỏa thuận với nhau về việc trả lãi trên số nợ này.
Hiện nay chị Trần Thị Đ yêu cầu vợ chồng ông Phạm Ngọc D Đinh Thị H
phải trả cho chị Đ số tiền nợ gốc 109.500.000đồng (trong đó 95.000.000đồng vay
ngày 4/2/2023 và 14.500.000đồng theo giấy vay ngày 14/12/2023).
Về tiền lãi: Đối với số tiền vay 95.000.000đồng ngày 4/2/2023, chị Đ yêu cầu
ông D, bà H phải trả tiền lãi theo mức lãi suất do pháp luật quy định tính từ ngày vay
cho đến khi thanh toán hết nợ cho chị Đ.
Đối với số tiền nợ 14.500.000đồng theo giấy mượn tiền ngày 14/12/2023,chị Đ
không yêu cầu tính lãi.
Để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn – chị Trần Thị Đ cung
cấp 01 “Giấy mượn tiền” đề ngày 04 tháng 02 năm 2023 có ký tên người mượn tiền là
Phạm Ngọc D. (Bản gốc, chữ viết bi màu xanh, viết trên giấy kẻ ngang); 01 giấy mượn
tiền đề ngày 14/12/2023 có ký tên người mượn tiền Phạm Ngọc D (Bản gốc, chữ viết
bi màu xanh, viết trên giấy kẻ ngang).
2. Bđơn – ông Phạm Ngọc D đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của
Đinh Thị H trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Phạm Ngọc D xác nhận ngày 04 tháng 2 năm 2023 ông D giấy
ợn của Trần Thị Đ số tiền 95.000.000đồng. Khi giấy mượn tiền này thì ông
D thế chấp cho Đ một giấy chứng nhận QSD đất số DA 519880. Tại thời điểm
thỏa thuận ký giấy mượn tiền thì bà Đ và ông D không thỏa thuận với nhau về lãi suất
thời hạn. Một thời gian sau khi giấy vay tiền thì Đ cũng biết hoàn cảnh của
gia đình ông D khó khăn nên cũng không yêu cầu ông D trả nợ gốc tiền lãi. Khoảng
ba tháng sau khi ký giấy mượn tiền thì bà Đ đến nhà yêu cầu ông D trả nợ. Sau đó
ông D nhờ bà Đ liên hệ làm hồ sơ vay tăng vốn tại Ngân hàng để lấy tiền trả nợ cho
Đ. Tuy nhiên, do các con ông D không thu xếp được để về vào hồ vay nên
ông D không vay tăng vốn được để trả nợ cho bà Đ.
Đối với số tiền 14.500.000đồng theo giấy mượn tiền ngày 14/12/2023 ông D
xác nhận đúng. Ông D thừa nhận vay số tiền này để trả lãi ngân hàng khi đáo hạn.
Khoản vay này đã quá thời hạn nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông D chưa
trả được cho chị Đ.
Ông D xác nhận hai giấy mượn tiền của chị Đ: Số tiền 95.000.000đồng
ngày 4/2/2023 và 14.500.000đồng ngày 14/12/2023. Tổng số tiền hiện nay ông D còn
nợ chị Đ là 109.500.000đồng. Ông D chấp nhận trả cho chị Đ số tiền này. Tuy nhiên,
hiện nay do điều kiện kinh tế của gia đình ông D khó khăn nên ông D đưa ra phương
án trả nợ như sau:
+ Đối với số tiền 14.500.000đồng ông D sẽ thu xếp trả cho chị Đ trong thời hạn
3 tháng.
+ Đối với số tiền 95.000.000đồng tôi xin trả dần cho chị Đ theo khả năng của
mình.
Về tiền lãi: Ông D không chấp nhận trả lãi vì khi vay mượn không thỏa thuận về
việc trả lãi.
Vì số tiền ông D mượn bà Đ ngày 4/2/2023 và ngày 14/12/2023 để sử dụng vào
mục đích chung trong gia đình nên ông D cùng vợ là bà Đinh Thị H sẽ có trách nhiệm
trả nợ cho bà Đ.
Ông D cũng yêu cầu chị Đ trả lại giấy chứng nhận QSD đất số DA 519880
cho gia đình ông.
Ông D xác nhận các chứng cứ Đ cung cấp đúng. Ông D không cung
cấp chứng cứ gì thêm.
Những tình tiết mà các đương sự thống nhất với nhau:
Ông Phạm Ngọc D xác nhận chứng cứ “Giấy mượn tiền” đề ngày 04/2/2023 và
giấy mượn tiền đề ngày 14/12/2023 do chị Trần Thị Đ cung cấp là đúng xác nhận
còn nợ của chị Đ tổng số tiền nợ gốc là 109.500.000đồng; đồng thời xác nhận từ thời
điểm viết hai giấy mượn tiền cho đến nay thì ông D, H chưa trả nợ gốc cũng như
chưa trả một khoản lãi nào cho chị Đ.
Những tình tiết mà các đương sự chưa thống nhất với nhau:
Đối với khoản vay 95.000.000đồng ngày 4/2/2023:
+ Theo nguyên đơn chị Đ: Khoản vay này hai bên thỏa thuận thời hạn 01
tháng và lãi suất là 6%/tháng nên yêu cầu ông D, bà H phải trả tiền nợ gốc và lãi phát
sinh.
+ Theo bị đơn – ông D: Khoản vay này không thỏa thuận về thời hạn và lãi suất
nên ông D chỉ chấp nhận trả nợ gốc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết ván
Thẩm phán đã tuân thủ các quy định về pháp luật tố tụng dân sự;
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký: Tại phiên tòa Hội đồng
xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa
thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử;
- Việc chấp hành pháp luật của đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng
như tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa v
đương sự theo Bộ luật dân sự tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35 các Điều
146, 147, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm
2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Trần
Thị Đ. Buộc ông Phạm Ngọc D và bà Đinh Thị H phải có trách nhiệm liên đới trả cho
Trần Thị Đ s tiền 109.500.000đồng tiền gốc tiền lãi cho khoản vay
95.000.000đồng theo quy định của pháp luật.
Buộc Trần Thị Đ phải trả lại giấy chứng nhận QSD đất số DA 519880 cho
ông Phạm Ngọc D.
Về án phí: Miễn án phí cho ông D, bà H.
Trả lại tạm ứng án phí cho bà Trần Thị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. V thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn Đinh Thị H vắng mặt. Tuy
nhiên, trong quá trình tố tụng H đã có văn bản ủy quyền cho ông D thay mặt mình
tham gia tố tụng trong vụ án. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 228 Bộ luật ttụng dân
sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp.
[2]. V quan hệ pháp luật:
Theo đơn khởi kiện bà Trần Thị Đ yêu cầu ông Phạm Ngọc D và Đinh Thị H
phải trách nhiệm trả cho Đ số tiền 109.500.000đồng tiền lãi phát sinh theo
mức lãi suất do pháp luật quy định từ ngày giấy mượn tiền cho đến nay. Bị đơn ông
Phạm Ngọc D, Đinh Thị H xác nhận số nợ không yêu cầu phản tố. Do đó, Hội
đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26,
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T.
[3]. Xét yêu cầu khởi khởi của nguyên đơn –Trần Thị Đ:
3.1. Về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Trần Thị Đ ông Phạm Ngọc
D.
Trong quá trình tố tụng thì bà Đ và ông D xác nhận:
Ngày 04 tháng 02 năm 2023 các đương sự có xác lập với nhau giao dịch dân sự
được thể hiện bằng “Giấy mượn tiền” viết tay chngười mượn tiền Phạm
Ngọc D. Theo giấy mượn tiền thể hiện nội dung ông D mượn của chị Đ số tiền
95.000.000đồng và thế chấp một giấy chứng nhận QSD đất số DA 519880.
Ngày 14/12/2023 giữa ông D Đ xác lập với nhau giao dịch dân sự được
thể hiện bằng “Giấy mượn tiền” viết tay có chữ ký người mượn tiền là Phạm Ngọc D.
Theo giấy mượn tiền thể hiện nội dung ông D mượn của chị Đ số tiền
14.500.000đồng.
Hội đồng xét xử xác định các giao dịch này là hợp pháp.
3.2. Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc của chị Trần Thị Đ:
Đối với hợp đồng vay thể hiện bằng “Giấy mượn tiền” đề ngày 04/02/2023,
trong đó chỉ thể hiện số tiền vay 95.000.000đồng, không thể hiện thời hạn vay và lãi
suất. Do đó, theo quy định tại Điều 469 Bộ luật dân sự, chị Đ có quyền đòi ông D trả
nợ bất cứa lúc nào nhưng phải thông báo cho ông D một thời gian hợp lý. Chị Đ cho
rằng đối với khoản vay này chị Đ cho ông D vay để tổ chức đám cưới cho con nên sau
khi vay 01 tháng chị Đ có yêu cầu đòi lại nhưng ông D không trả mà thời gian sau đó
ông D có nhờ chị Đ làm thtục đáo hạn ngân hàng để vay tăng vốn lấy tiền trả cho chị
Đ. Ông D cho rằng sau khi vay khoảng ba tháng thì chị Đ yêu cầu ông D trả nợ.
Thời điểm đó vì không có tiền để trả nợ cho ch Đ nên ông D nhờ chị Đ liên hệ làm
hồ sơ vay tăng vốn tại Ngân hàng để lấy tiền trả nợ cho chị Đ. Như vậy, mặc dù ông D
không thừa nhận việc chĐ đòi nợ ông D nhưng việc hai bên trao đổi với nhau về
việc chị Đ giúp ông D làm thủ tục đáo hạn ngân hàng đvay tăng vốn lấy tiền trả nợ
cho chị Đ. Điều đó thể hiện chị Đ đã yêu cầu ông D trả nợ ông D cũng đã thống
nhất việc trả nợ cho chị Đ đối với khoản vay ngày 4/2/2023. Như vậy, cho đến hiện
nay ông D chưa trả nợ cho chị Đ nên chị Đ khởi kiện để yêu cầu ông D trả nợ là hoàn
toàn căn cứ. Do đó cần buộc ông D phải trả cho chị Đ số tiền nợ gốc 95.000.000đồng
là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự.
Đối với hợp đồng vay thể hiện bằng “Giấy mượn tiền” đề ngày 14/12/2023,
trong đó chỉ thể hiện stiền vay 14.500.000đồng, không thể hiện thời hạn vay đến
ngày 14/02/2024. Tính đền thời điểm chị Đ nộp đơn khởi kiện ông D thì thời hạn vay
đã hết nên chị Đ được quyền khởi kiện yêu cầu ông D trả nợ theo quy định tại khoản 1
Điều 466 Bộ luật dân sự.
Do đó cần buộc ông D phải trả cho chị Đ số tiền nợ gốc 14.500.000đồng là phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự.
Như vậy tổng cộng số tiền nợ gốc ông Phạm Ngọc D phải trả cho chị Trần
Thị Đ là 109.500.000đồng.
3.3. Đối với yêu cầu trả tiền lãi của chị Trần Thị Đ:
Chị Trần Thị Đ yêu cầu ông Phạm Ngọc D trả lãi cho chị Đ trên số tiền nợ gốc
95.000.000đồng từ ngày vay (04/2/2023) đến nay theo mức lãi suất do pháp luật quy
định vì cho rằng khi thỏa thuận cho ông D vay tiền chị Đ và ông D có thỏa thuận hàng
tháng ông D phải trả lãi cho chị Đ theo mức lãi suất 6%/tháng. Tuy nhiên sau đó ông
D không thực hiện việc trả lãi.
Bị đơn ông D không thừa nhận việc thỏa thuận về việc trả lãi xác nhận từ
ngày giấy mượn số tiền 95.000.000đồng của chị Đ thì ông D cũng chưa trả một
khoản lãi nào cho chị Đ.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo “Giấy mượn tiền” đề ngày 04/2/2023 giữa ông Phạm Ngọc D chị Trần
Thị Đ chỉ thể hiện số tiền ông D mượn 95.000.000đồng, không thể hiện về thời gian
và lãi suất. Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ mà chị Đ cung cấp là các nội dung tin
nhắn qua mạng xã hội zalo giữa chị Đ và ông D thể hiện chị Đ liên tục hối thúc ông D
trả nợ vay. Ông D cũng xác nhận sau khi ký giấy mượn tiền khoảng ba tháng thì chị Đ
có yêu cầu ông D trả nợ và ông D có hứa sau khi làm hồ sơ vay đáo hạn ngân hàng có
tiền sẽ trả nợ cho chị Đ. Tuy nhiên sau đó do không vay tăng vốn được nên ông D
không trả được nợ cho chị Đ. Theo kết quả xác minh tại Ngân hàng thì thời điểm ông
D làm hồ vay vốn lại tại Ngân hàng và được giải ngân ngày 30/9/2023. Sau khi
nhận tiền vay thì ông D đã không thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ 95.000.000đồng cho
chị Đ nên ông D phải trả lãi cho chị Đ trên số tiền vay tính từ ngày 30/9/2023.
Về lãi suất: Tại phiên tòa chị Đ yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất do pháp luật
quy định. Ông D không chấp nhận trả lãi cho rằng khi thỏa thuận giấy vay tiền
không thỏa thuận về việc trả lãi. Tuy nhiên như đã phân tích trên: Sau khi vay tiền
ông D đã được chị Đ thông báo về việc trả nợ vay nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ nên phải chịu lãi suất trên số tiền nợ vay do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định
tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự, cụ thể với mức lãi suất 10%/năm.
Theo đó, tiền lãi được tính như sau:
95.000.000đồng x 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng) x 10 tháng 8 ngày (tính
từ ngày 30/9/2023 đến ngày 08/8/2024) = 8.095.000đồng (Tám triệu không trăm chín
mươi lăm ngàn đồng).
Như vậy tổng cộng tiền gốc lãi ông D phải trả cho chị Đ
117.595.000đồng.
3.4. Về nghĩa vụ trả nợ vay: Khi xác lập hợp đồng vay thì chỉ có cá nhân ông D
thực hiện giao dịch tên vào các “Giấy mượn tiền” với chị Đ. Tuy nhiên ông D
thừa nhận khoản tiền 95.000.000đồng ông vay để lo đám cưới cho con gái của ông D
và bà H; khoản tiền 14.500.000đồng ông D vay để trả tiền lãi vay tại ngân hàng. Việc
sử dụng stiền vay mục đích chung của gia đình. vậy Đinh Thị H vợ của
ông Phạm Ngọc D phải trách nhiệm liên đới cùng ông D trả nợ vay. Hội đồng xét
xxét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Đ về việc buộc vợ chồng ông Phạm
Ngọc D và bà Đinh Thị H phải trả nợ vay cho chị Đ. Cụ thể cần buộc ông Phạm Ngọc
D bà Đinh Thị H phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị Trần Thị Đ tổng số tiền nợ
vay là 117.595.000đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 27, 37 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014.
[4]. Đối với yêu cầu về việc trả lại giấy chứng nhận QSD đất của ông Phạm
Ngọc D:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đ bị đơn ông D đều xác nhận ngày
04/2/2023 khi ông D chị Đ xác lập giấy mượn tiền với nhau thì ông D có giao cho
chị Đ giữ một giấy chứng nhận QSD đất số DA 519880. Hiện tại chị Đ còn giữ giấy
chứng nhận QSD đất này chĐ đồng ý giao trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho
ông D.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của chị Trần Thị Đ được chấp nhận nên ông Phạm
Ngọc D và bà Đinh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều
146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.Tuy nhiên do hiện nay ông D và bà H đã trên 60
tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Các Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự 2015;
- Các điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Đ về việc buộc bị
đơn ông Phạm Ngọc D Đinh Thị H phải liên đới trả tiền nợ vay tiền lãi phát
sinh:
Buộc vợ chồng ông Phạm Ngọc D bà Đinh Thị H phải trách nhiệm liên
đới trả cho chị Trần Thị Đ số tiền nợ vay 117.595.000đồng (Một trăm mười bảy triệu
năm trăm chín mươi lăm ngàn đồng); trong đó: 109.500.000đồng tiền n gốc và
8.095.000đồng tiền lãi.
Kể tngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án (ông D, bà H) còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ
luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Buộc chị Trần Thị Đ phải trả cho ông Phạm Ngọc D bà Đinh Thị H giấy
chứng nhận QSD đất số DA 519880.
3. Về án phí:
- Miễn nộp án phí cho ông Phạm Ngọc D và bà Đinh Thị H
- Trả lại cho chị Trần Thị Đ số tiền tạm ứng án phí 3.395.000đồng đã nộp theo
biên lai số 0005899, ngày 2 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
T.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 8/8/2024).
Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỔNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Thuận;
- VKSND huyện T;
THÂM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS huyện T;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Dương Thị Mận
Tải về
Bản án số 44/2024/DS-ST Bản án số 44/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2024/DS-ST Bản án số 44/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất