Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 395/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 395/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đoàn Ngọc V - Nguyễn Hữu K - tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 395/2026/DS-PT
Ngày: 04/6/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thị Xuân Đào.
Các Thẩm phán: Bùi Lan Hương.
Ông Nguyễn Văn Thư.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Linh Phương - TTòa án nhân dân
thành phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Lê Hồng Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2026 tại tại Phòng xét xử số 2 Trsở Tòa án nhân
dân thành phố Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
208/2026/TLPT-DS ngày 08/4/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Do Bản án dân sự thẩm số 114/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 338/2026/QĐ-PT ngày
24/4/2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 437/2026/QĐ-PT ngày
25/5/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Đoàn Ngọc V, sinh năm 1968.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp X, PH, huyện N (nay ấp Nhơn Phú, phường N), thành phố
Đ.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1991
Địa chỉ: p Xóm Hố, xã Phú Hội, huyện N (nay ấp Nhơn Phú, phường N),
thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1966.
Địa chỉ: 1133 (B22 cũ), tổ 17, khu phố 2, phường T, thành phố B (nay
1133, tổ 17, khu phố 12, Phường TH), thành phố Đ.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp XH, xã PH, huyện N (nay là ấp NP, phường N), thành phố Đ.
2. Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ 9, ấp BC, xã PT, huyện N (nay là ấp B, phường N), thành phố Đ.
3. Ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ 3, ấp Đ, Phú Hội, huyện N (nay là ấp MH, phường N), thành
phố Đ.
4. Ông Nguyễn Trí Th, sinh năm 1992
Địa chỉ: p Đ, P, huyện N (nay ấp Mỹ Hội, phường N), thành phố Đ.
(Hiện đang bị tạm giam tại trại giam XL, công an tỉnh Đồng Nai).
(Ông S, ông T có mặt, các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
Đoàn Ngọc V do ông Nguyễn Hoàng S đại diện trình bày:
Nguyễn Hữu K quan hệ họ hàng với ông chồng V. K gọi ông chú
họ.
Ngày 8/01/2023 Nguyễn Hữu K hỏi mượn V 400.000.000đ (trăm triệu
đồng). Bà V đã cho K mượn 400.000.000đ (đưa tiền mặt là 50.000.000đ và chuyển
khoản 350.000.000đ).
Đến ngày 10/01/2023 K đến nhà V nói kẹt tiền làm ăn nên hỏi mượn
thêm của V 3.500.000.00hẹn 02 tháng sau sẽ trả hết số tiền của 2 lần ợn
3.900.000.000đ. tin tưởng K nên V đã cho K mượn thêm 3.500.000.000đ
tiền mặt, khi mượn tiền có làm giấy viết tay cho bà. Như vậy K đã mượn của bà 02
lần tiền tổng cộng là 3.900.000.000đ (ba tỷ chín trăm triệu đồng) K hẹn đến ngày
10/3/2023 sẽ trả lại số tiền đã mượn.
Qua ngày 10/3/2023 không thấy K trả nợ cho bà V, V nhiều lần gặp K và
điện thoại đđòi nợ, K hứa hẹn nhưng cố tình kéo dài thời gian không trả nợ cho
V. Khi cho K mượn tiền xuất phát từ tình cảm hhàng nên V không tính lãi
ch cho ợn không. Việc K không trả nợ đúng như cam kết, cố tình chiếm dụng
vốn của V đã gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của V. vậy V yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc Nguyễn Hữu K phải trả số tiền đã ợn của V
3.900.000.00(ba tỷ chín trăm triệu đồng). Buộc ông Nguyễn Hữu K phải thanh
toán tiền lãi theo lãi quá hạn do ngân hàng nnước quy định tương ứng với thời
gian chậm trả, tạm tính lãi quá hạn 1%/ tháng thời gian chậm trả tính đến ngày
04/12/2024 là 23 tháng là 897.000.000đ (tám trăm chín mươi bảy triệu đồng).
V xác định chỉ khởi kiện ông Nguyễn Hữu K, không khởi kiện vợ của
ông K là bà Trương Ngọc Th nên đề nghị tòa án không đưa vợ ông K vào tham gia
tố tụng.
3
Việc ông K cho rằng ông K đứng ra mượn giùm cho ông Nguyễn Chí Th số
tiền 500.000.000 đồng, Trần Thị Kim H số tiền 500.000.000 đồng, ông
Huỳnh Đ số tiền 500.000.000 đồng không đúng sự thật. Khi cho ợn thì V
đưa trực tiếp ông K, ba người kia bà V không cho mượn, chỉ cho ông K mượn.
Việc ông K cho rằng V cho vay lãi suất 60%/năm không đúng sự thật.
Bà V cho vay không lấy lãi vì tình nghĩa họ hàng chứ không như ông K trình bày.
-Quá trình tố tụng, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hữu K do ông Văn
Th đại diện ủy quyền trình bày:
Ông K đứng ra mượn của bà Đoàn Ngọc V giùm cho ông Nguyễn Chí Th số
tiền 500.000.000 đồng, Trần Thị Kim H số tiền 500.000.000 đồng, ông
Huỳnh Đ số tiền 500.000.000 đồng. khi dẫn ông Th, H, ông Đ đến gặp V
để vay tiền thì V không cho vay V cho rằng chỉ quen biết với ông K, nên
đề nghị ông K đứng ra để vay tiền.
Việc V người đại diện ông S cho rằng bà V chỉ cho mượn tiền
tình cảm họ hàng chứ không lấy lãi suất, ông K không đồng ý, V cho ông K
những người trên mượn với lãi suất 60%/năm. Hằng tháng từ năm 2019 ông
K đều đưa tiền lãi cho V đầy đủ, khi đưa tiền lãi ông K không làm biên bản
giao nhận ông K chỉ hình ảnh tin nhắn giữa ông K ông Đ, H, ông Th
sao kê tài khoản ông Đ, H, ông Th chuyển tiền lãi cho ông K hằng tháng. Đến
đầu năm 2022 thì không còn khả năng thanh toán tiền lãi nữa.
Ông Th mượn 500.000.000 đồng, H mượn 500.000.000 đồng, ông Đ
mượn 500.000.000 đồng, ông K mượn 350.000.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc
mượn của V 1.850.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng).
Vào ngày 10/01/2023, giấy mượn tiền mượn của bà V số tiền 3.500.000.000
đồng là chữ viết của ông K, 1.150.000.000 đồng tiền lãi ông K không khả
năng thanh toán tính từ đầu năm 2022 đến ngày 10/01/2023. Giấy này ông K tự
viết, không bị ai ép, và khi viết có ông K và bà V, ông S, không có ai làm chứng vì
V, ông S nói viết như vậy cho dễ tính tin tưởng chú cháu trong gia đình nên
ông K viết.
Nay V nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông K thanh toán 3.900.000.000 đồng
và thanh toán tiền lãi 1%/tháng thì ông K không đồng ý. trong số tiền 3,5 tỷ thì
ông K chỉ vay 350.000.000đ, còn lại của Ông Th vay 500.000.000đ, ông Đ vay
500.000.000đ, H vay 500.000.000đ. Nên ông K chỉ đồng ý trả cho V số tiền
350.000.000đ. Ông xác định đến thời điểm hiện nay thì ông K ng không tài
liệu chứng cứ nào chứng minh đã trả lãi cho ông S để cung cấp cho tòa án.
- Quá trình tố tụng, tại phiên tòa người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị Kim H trình bày:
Cuối tháng 9/2019, nhờ ông Nguyễn Hữu K hỏi vợ chồng ông Nguyễn
Hoàng S và bà Đoàn Ngọc V là người thường cho vay tiền lãi cùng ấp xóm Hố vay
500.000.000đ. Ông K dẫn tôi đến nhà ông S, V. Tại đây ông S bà V đồng ý
4
cho vay 500.000.000đ lãi suất 5%/tháng (60%/01 năm). Ông K là người đứng ra
bảo lãnh cho , do vậy nhận tiền và không viết giấy tờ gì. đã đóng lãi trực
tiếp cho vợ chồng bà V ông S và có gửi qua ông K đến năm 2022, sau đó không
đóng lãi được và nhờ ông K là người đứng ra đóng lãi cho bà đến năm 2024. Trong
năm 2023, được ông K cho biết theo yêu cầu của vợ chồng bà V, ông K đã đứng
ra viết giấy nợ số tiền 3,5 tỷ đồng, trong đó phần tiền gốc của
500.000.000đ; tiền gốc của ông Huỳnh Đ vay vchồng V 500.000.000đ;
tiền gốc của ông Nguyễn Chí Thiện (thường gọi ) vay V 500.000.000đ.
Ngoài ra ông K còn vay của vợ chồng bà V là 350.000.000đ. Tổng cộng tiền gốc là
1.850.000.000đ. Tuy nhiên ông K phải viết số tiền 3,5 tỷ đồng là vì vợ chồng V
tính lãi suất cộng chung vào tiền i trong đó tiền lãi của thời điểm ông K
viết giấy mượn tiền ngày 10/01/2023.
Việc thông qua ông K vay 500.000.000đ của vchồng ông S, V
thật số tiền lãi đã thanh toán hàng tháng cho vợ chồng V 5%/ tháng,
việc trả tiền lãi nhắn tin cho ông K chkhông làm giấy tờ đối với vợ
chồng ông S bà V. Do vậy vợ chồng bà V nói cho tôi vay tiền không lấy lãi là hoàn
toàn sai sự thật. khẳng định trong số tiền ông K viết nhận nợ với vợ chồng bà V
ngày 10/01/2023 với số tiền 3,5 tỷ đồng số tiền gốc 500.000.000đ đã vay
của vợ chồng bà V ông S.
đồng ý nhận nợ với vợ chồng bà V ông S đối với số tiền 500.000.000đ
trong số tiền 3,5 tỷ đồng do ông K đã viết giấy nhận nvới vợ chồng V ông S.
Tuy nhiên hiện nay chưa có tiền trả gốc và lãi cho vợ chồng ông S bà V.
Do bận công việc đi lại khó khăn nên tôi xin phép được vắng mặt trong tất
cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao, nộp tiếp cận công khai chứng
cứ và hòa giải tại tòa án và kể cả khi xét xử.
- Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Đ
trình bày:
Tháng 8/2020 ông nhờ Nguyễn Hữu K hỏi vợ chồng ông Nguyễn Hoàng S
bà Đoàn Ngọc V vay tiền lãi giúp ông 500.000.000đ. Ông K dẫn ông đến nhà
ông S, V. Tại đây ông S V đồng ý cho ông vay 500.000.000đ lãi suất
5%/tháng (60%/01 năm). Ông K người đứng ra bảo lãnh cho ông, do vậy ông
nhận tiền không viết giấy tờ gì. Ông đã đóng lãi trực tiếp cho vợ chồng V
ông S gửi qua ông K đến năm 2022, sau đó ông không đóng lãi được nhờ
ông K người đứng ra đóng lãi cho tôi đến năm 2024. Trong năm 2023, ông được
ông K cho biết theo yêu cầu của vợ chồng V, ông K đã đứng ra viết giấy nợ số
tiền 3,5 tỷ đồng, trong đó phần tiền gốc của ông 500.000.000đ; tiền gốc của
Trần Thị Kim H vay vợ chồng V là 500.000.000đ; tiền gốc của ông Nguyễn
Chí Th ( thường gọi ) vay V 500.000.000đ. Ngoài ra ông K còn vay
của vợ chồng bà V 350.000.000đ. Tổng cộng tiền gốc là 1.850.000.000đ. Tuy
nhiên ông K phải viết số tiền 3,5 tỷ đồng vợ chồng V tính lãi suất cộng
5
chung vào tiền lãi trong đó có tiền lãi của ông thời điểm ông K viết giấy mượn tiền
ngày 10/01/2023.
Việc ông thông qua ông K vay 500.000.000đ của vợ chồng ông S, bà V là có
thật số tiền lãi ông đã thanh toán hàng tháng cho vợ chồng V 5%/ tháng,
việc trả tiền lãi hàng tháng ông trực tiếp đi cùng ông K đến nhà vợ chồng V ông
S để trả lãi, có khi chuyển tiền qua ông K nên không có giấy giao nhận tiền lãi giữa
ông với vợ chồng V, ông S. Do vậy vchồng V nói cho ông vay tiền không
lấy lãi hoàn toàn sai sự thật. Ông khẳng định trong số tiền ông K viết nhận nợ
với vợ chồng V ngày 10/01/2023 với số tiền 3,5 tỷ đồng số tiền gốc
500.000.000đ ông đã vay của vợ chồng bà V ông S.
Ông đồng ý nhận nợ với vợ chồng V ông S đối với số tiền 500.000.000đ
trong số tiền 3,5 tỷ đồng do ông K đã viết giấy nhận nvới vợ chồng V ông S.
Tuy nhiên hiện nay ông chưa có tiền trả gốc và lãi cho vợ chồng ông S bà V.
Do bận công việc đi lại khó khăn nên ông xin phép được vắng mặt trong tất
cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao, nộp tiếp cận công khai chứng
cứ và hòa giải tại tòa án và kể cả khi xét xử.
- Quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chí
Thiện trình bày:
Ông Nguyễn Hữu K bạn bè, ông không quen biết với Đoàn Ngọc
V, ông Nguyễn Hoàng S, Trần Thị Kim H, Lê Huỳnh Đ.
Ông xác định từ trước đến nay tôi không vay tiền của Nguyễn Hữu K, ng
không vay mượn gì với ông S bà V.
Việc anh K khai tháng 2/2019, anh K có dẫn ông đến nhà V ông S để vay
số tiền 500.000.000đ không đúng, ông không vay mượn ông S, V cũng
không biết họ là ai.
Nay V, ông S khởi kiện ông K về việc vay số tiền 3.900.000.000đ, ông
không biết không liên quan gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp
luật. Đồng thời đề nghị Tòa án không đưa ông vào tham gia tố tụng với cách
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc vay mượn tiền này.
Do hiện nay ông đang bị tạm giam tại Trại giam XL nên ông xin phép được
vắng mặt tại Tòa án và kể cả khi xét xử.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng S trình bày:
Ông chồng của Đoàn Ngọc V. Số tiền V đứng ra cho ông Nguyễn
Hữu K (K cháu họ của ông) của chung vợ chồng. Tuy nhiên ông xác định
không tranh chấp hay yêu cầu trong vụ án này. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc
Nguyễn Hữu K phải trả lại cho V tiền gốc đã mượn 3.900.000.00lãi
theo yêu cầu của bà V. Sau này giữa ông và bà V sẽ tự thỏa thuận giải quyết.
Tại Bản án dân sự thẩm số 114 /2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025,
Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tuyên xử:
6
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V về:
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Nguyễn Hữu K đối với số tiền
tranh chấp 50.000.000đ
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V
về: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu K
Buộc ông Nguyễn Hữu K phải trả cho Đoàn Ngọc V số tiền vay
3.850.000.000đ ( Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng ).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Ngọc V việc yêu cầu
ông Nguyễn Hữu K trả tiền lãi 1%/tháng tính từ ngày 10/1/2023 đến ngày
16/9/2025 với số tiền 1.155.000.000đ.
4. Về án phí: ông Nguyễn Hữu K phải chịu 109.000.000 đồng án phí dân sự
sơ thẩm.
Đoàn Ngọc V phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp
nhận 46.650.000đ. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Đoàn
Ngọc V đã nộp 55.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0022330 ngày 15/11/2024 và số
tiền 19.455.000 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0022568 ngày 24/12/2024 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện N ( nay phòng thi hành án dân sự khu vực 2
Đồng Nai ). Trả lại cho bà Đoàn Ngọc V số tiền 17.805.000đ
Ngoài ra, án còn tuyên về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành
án, án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/10/2026 đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hữu K
ông Lê Văn Th kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày
19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2025/DS-ST ngày
19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai về tranh chấp hợp
đồng vay tài sản.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn
bị đơn kể từ khi thụ ván cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
được thực hiện đúng quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ y Bản án sơ thẩm. Đình chỉ một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V về: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
với bị đơn ông Nguyễn Hữu K đối với số tiền tranh chấp 50.000.000đ. Chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V về: Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu K, buộc ông Nguyễn Hữu K
phải trả cho Đoàn Ngọc V số tiền vay 3.850.000.000đ ( Ba tỷ tám trăm năm
mươi triệu đồng ). Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Ngọc V việc
7
yêu cầu ông Nguyễn Hữu K trả tiền lãi 1%/tháng tính từ ngày 10/1/2023 đến ngày
16/9/2025 với số tiền 1.155.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Hữu K ông Văn Th làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí
đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim H, ông
Huỳnh Đ ông Nguyễn Trí Th đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung: Đoàn Ngọc V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu K
thanh toán số tiền vay 3.900.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả. Trong quá trình giải
quyết vụ án tại cấp thẩm, đại diện theo y quyền của nguyên đơn rút một phần
yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 50.000.000 đồng cho vay ngày 08/01/2023. Việc
Tòa án cấp thẩm đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này phù hợp quy định
tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với khoản tiền 350.000.000 đồng chuyển khoản ngày 08/01/2023, tài
liệu do Ngân hàng Vietcombank cung cấp thể hiện ông Nguyễn Hoàng S đã
chuyển khoản cho ông Nguyễn Hữu K số tiền nêu trên. Ông K cũng thừa nhận
nhận khoản tiền này. Do đó đủ căn cứ xác định giữa các bên phát sinh quan
hệ vay tài sản đối với khoản tiền 350.000.000 đồng.
Đối với giấy mượn tiền ngày 10/01/2023 thể hiện ông Nguyễn Hữu K vay
của bà Đoàn Ngọc V số tiền 3.500.000.000 đồng, ông K thừa nhận chữ viết và chữ
trong giấy vay tiền của mình, việc lập giấy vay hoàn toàn tự nguyện, không
bị ép buộc. Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây tình tiết, sự
kiện không phải chứng minh.
Ông K cho rằng trong số tiền 3.500.000.000 đồng phần tiền vay của
Trần Thị Kim H, ông Huỳnh Đ, ông Nguyễn Chí Th và phần tiền lãi được cộng
dồn vào gốc. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bản thân và lời trình bày của bà H, ông
Đ, ông K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp pháp nào chứng minh việc
V trực tiếp cho H, ông Đ, ông Th vay tiền; cũng không chứng minh được
việc các bên có thỏa thuận nhập lãi vào gốc.
Mặt khác, ông Nguyễn Trí Th không thừa nhận việc vay tiền của V; V
ông S cũng xác định chỉ giao dịch vay mượn trực tiếp với ông K. Ông K không
cung cấp được chứng cứ chứng minh việc vay dùm Ông Th. Nên không sở
chấp nhận lời trình bày của ông K về việc đứng ra vay giùm cho người khác.
8
Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Hữu K nghĩa vụ thanh toán cho
Đoàn Ngọc V tổng số tiền 3.850.000.000 đồng căn cứ, đúng quy định tại
các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Giấy vay tiền ngày 10/01/2023
không thể hiện thỏa thuận về lãi suất và thời hạn thanh toán. Đại diện nguyên đơn
cũng xác định việc cho vay xuất phát từ quan hệ họ hàng nên không thỏa thuận lãi.
Đối với khoản tiền 350.000.000 đồng chuyển khoản, các bên cũng không tài
liệu thể hiện thỏa thuận về lãi suất. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
tính lãi 1%/tháng của nguyên đơn là phù hợp pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn:
Tại cấp phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Các căn cứ kháng cáo chủ yếu
lặp lại lời trình bày tại cấp sơ thẩm nhưng không có tài liệu chứng minh kèm theo.
Tòa án cấp thẩm đã đánh giá đầy đủ chứng cứ, xác định đúng quan hệ
pháp luật tranh chấp, cách tham gia ttụng của các đương sự và áp dụng đúng
quy định pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn
Hữu K.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Nguyễn Hữu K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Hữu K là ông Văn Th. Giữ nguyên Bản án thẩm số 114/2025/DS-
ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai.
Căn cứ Điều 463; 466; 469 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V về:
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Nguyễn Hữu K đối với số tiền
tranh chấp 50.000.000đ
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đoàn Ngọc V
về: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu K
9
Buộc ông Nguyễn Hữu K phải trả cho Đoàn Ngọc V số tiền vay
3.850.000.000đ ( Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng ).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Ngọc V việc yêu cầu
ông Nguyễn Hữu K trả tiền lãi 1%/tháng tính từ ngày 10/1/2023 đến ngày
16/9/2025 với số tiền 1.155.000.000đ.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Hữu K phải chịu 109.000.000 đồng án phí dân sự
thẩm 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0002775 ngày 09/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đ).
Đoàn Ngọc V phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp
nhận 46.650.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Đoàn
Ngọc V đã nộp 55.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0022330 ngày 15/11/2024 và số
tiền 19.455.000 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0022568 ngày 24/12/2024 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện N (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Đồng
Nai). Trả lại cho bà Đoàn Ngọc V số tiền 27.805.000đ.
Kể từ ngày Đoàn Ngọc V có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hữu
K chưa thi hành xong số tiền 3.850.000.000đ (Ba tỷ tám trăm m mươi triệu
đồng), thì hàng tháng ông Nguyễn Hữu K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân
sự 2015.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đ;
- TAND khu vực 2 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 2 – Đồng Nai;
- Thi hành án thành phố Đ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Xuân Đào
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất