Bản án số 77/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 77/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 77/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 77/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 77/2026/DS-PT Bản án số 77/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 77/2026/DS-PT Bản án số 77/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 77/2026/DS-PT
Ngày: 04 tháng 6 năm 2026
V/v: T/c QSD đất t/c
chuyển nhượng QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ.
Ông Nguyễn Thế Doanh.
- Thư ký a án ghi biên bn phiên tòa: Diệp Thu Trang - Thư Toà
án nhân dân tnh Thái nguyên.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Thái nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Mai Duy Định - Kim sát vn.
Ngày 04 tháng 6 năm 2026, ti Toà án nhân dân tnh Thái Nguyên xét x
phúc thm công khai v án dân s phúc thẩm th s 21/2026/TLPT-DS ngày
03/3/2026 v “Tranh chấp quyền sử dụng đất tranh chấp Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Do Bn án dân s sơ thm s 03/2026/DS-ST ngày
26/01/2026 ca Tòa án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa v án ra t x s 59/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 4
năm 2026 gia các đương s:
Nguyên đơn: Thị H, sinh năm 1960; Địa chỉ: xóm T, V, tỉnh
Thái Nguyên. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Quang N
ông Nguyễn Công Q - Luật sư, văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; Địa
chỉ: Số G, tổ C đường T, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Đều có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm T, H, huyện Đ,
tỉnh Thái Nguyên (Nay là xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên). Có mặt.
2.2. Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm Đ, H, huyện Đ,
tỉnh Thái Nguyên (Nay là xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên). Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
3.1. Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Quốc Đ - Phó Chủ tịch UBND xã V. Có
đơn xin xét xử vắng mặt.
2
3.2. Ông Dương Tiến B, sinh năm 1960. Có mặt.
3.3 Ông Bùi Văn B1, sinh năm 1967. Có mặt.
3.4. Bà Ngô Thị K, sinh năm 1967. Có mặt.
3.5. Chị Bùi Thị Lê N1, sinh năm 1990. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.6. Anh Bùi Ngọc O, sinh năm 1992. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đều trú tại: xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên.
3.7. Triệu Thị S, sinh năm 1959; Địa chỉ: xóm K, V, tỉnh Thái
Nguyên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.8. Nguyễn Thị B2, sinh năm 1982; Địa chỉ: xóm T, V, tỉnh Thái
Nguyên. Có mặt.
3.9. Thị H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: xóm Đ, V, tỉnh Thái
Nguyên. Có mặt.
* Ngoài ra còn có 8 người làm chứng gồm: Ông Lăng Viết K1, ông Dương
Tiến T1, Ngô Thị H2, ông Đặng Văn H3, Thị H4, ông Nguyễn C,
Dương Thị H5, bà Hoàng Thị H6. Đều vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Vũ Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu trong hồ sơ vụ án và tại phiên
toà, nguyên đơn bà Vũ Thị H trình bày:
Năm 1992, mua của ông Bùi Văn B1 một khu đất rừng rộng khoảng
5ha, địa chỉ diện tích đất tại xóm T, V, huyện Đ, không thoả thuận giá bao
nhiêu nên mua cho ông B1 một bao gạo đlấy diện tích đất đó. Việc chuyển
nhượng giấy mua bán viết tay xác nhận của trưởng xóm T ông Lăng
Viết K1. Hiện nay tgiấy mua bán viết tay đã làm mất, nhưng đã được
ông trưởng xóm và những người làng xóm biết việc ông B1 mua bán
xác nhận lại. Khoảng cuối năm 1992, khi đợt giao đất, giao rừng đã
khoanh nhận toàn bộ diện tích đất của nhà bà, đất nhà ai tự người đó chỉ chứ
không các hộ giáp ranh. Năm 2013, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên ông Dương Tiến B và Thị H số BT 401855
thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, tổng diện tích đất được cấp 75.120m
2
mục
đích sử dụng đất rừng. Từ sau khi hai bên gia đình mua bán không mâu
thuẫn gì, các con khi đó đi học xa không làm được hết diện tích nên cho
ông B1 mượn làm một nửa. Việc bà cho ông B1 mượn đất không giấy tờ gì,
phần đất cho mượn có ranh giới rõ ràng giữa hai diện tích đất của nhà và nhà
ông B1, hiện nay ông B1 đã chuyển nhượng cho ông V ông T. Đến tháng
4/2022 bà phát hiện ông B1 bán đất của bà thì bà mới làm đơn khởi kiện.
Qua đo đạc thực tế diện tích đất ông V đang sử dụng của 17.576,9m
2
ông T đang sử dụng diện tích 33.807,8 m
2
. Nay bà khởi kiện yêu cầu công
nhận toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 159, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại xóm T,
3
V, tỉnh Thái Nguyên của buộc ông V, ông T phải thu hoạch cây, trả lại
đất cho bà.
* Tại bản tự khai, các tài liệu trong hồ sơ vụ án tại phiên toà, bị đơn
ông Nguyễn Văn V trình bày:
Năm 2016 ông B1 chuyển nhượng cho ông diện tích khoảng 2ha, ông B1
có giấy giao đất giao rừng. Diện tích đất ông mua của ông B1 giáp đất nhà bà H,
bờ len ràng, trên đất cây keo do ông B1 trồng được khoảng 1 năm tuổi,
với giá tiền 100.000.000đ. Khi mua bán hai bên chỉ có giấy tờ viết tay, chưa làm
thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Vị trí đất có một mặt giáp đất nhà anh T2,
một mặt giáp đất nhà anh T3, anh H3, một mặt giáp chân đường đi đường Đèo
Bụt cũ và một mặt giáp đất nhà H có hàng bạch đàn làm ranh. Năm 2022 ông
đã khai thác được 01 lứa gỗ keo, từ khi ông nhận chuyển nhượng của ông B1
không tranh chấp với ai, ông sử dụng ổn định. Sau khi khai thác keo ông lại
tiếp tục trồng lứa nữa cho đến nay cây keo đã trồng được 4 năm tuổi.
Nay bà H khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của ông, ông xác định đất
nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông B1, ông người sử dụng ổn định hợp
pháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp nhầm cho bà Vũ Thị H, cấp sai
không đúng đối tượng, cấp chồng lấn lên đất người khác, ông yêu cầu huỷ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà H và công nhận quyền sử dụng đất
cho ông theo Hợp đồng chuyển nhượng đã kết giữa ông B1 với ông theo
đúng hiện trạng sử dụng đất.
* Bị đơn ông Nguyễn Tiến T trình bày: Năm 2015 do ông B1 không chăm
sóc được cây nên đã nhượng lại cho ông diện tích khoảng 2ha, có bờ len rõ ràng,
trên đất ông B1 chuyển nhượng cho ông vẫn còn cây keo do ông B1 trồng được
khoảng 1 năm tuổi, với giá tiền 200.000.000đ. Khi mua bán hai bên chỉ giấy
tờ viết tay, chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Vị trí đất ranh
giới ràng được ngăn cách bởi 1 hàng bạch đàn một mặt giáp đường Đèo
Bụt cũ, một mặt giáp đất nhà anh P, một mặt giáp khe đất nhà chị U một mặt
giáp đất nhà ông B1 (hiện nay phần diện tích đất của ông B1 này ông cũng đã
mua hết, nhưng chưa sang tên). Năm 2022 ông đã khai thác được 01 lứa gỗ keo,
từ khi ông nhận chuyển nhượng của ông B1 không tranh chấp với ai, ông sử
dụng ổn định. Sau khi khai thác keo ông lại tiếp tục trồng lứa nữa cho đến nay
cây keo đã trồng được 3 năm. Việc ông nhận chuyển nhượng đất của ông B1
khai thác keo bà H đều biết vì khi ông khai thác keo do nhà con gái bà H đi vắng
không ở nhà nên ông đã ra nhà bà H mượn nhà con gái H để khai thác keo.
Sau khi khai thác và trồng keo lại xong thì ông lại trả nhà con gái của H cho
bà H quản lý.
Nay H khởi kiện đòi quyền sử dụng đất, ông xác định đất nguồn gốc
của ông B1 đã chuyển nhượng cho ông, ông là người sử dụng ổn định hợp pháp,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp nhầm cho Thị H, cấp sai
không đúng đối tượng, cấp chồng lấn lên đất người khác, ông yêu cầu huỷ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà H và công nhận quyền sử dụng đất
cho ông theo đúng quy định.
4
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Tiến B: Nhất trí với ý
kiến của nguyên đơn H, không bổ sung thêm ý kiến gì khác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn B1 trình bày: Nguồn
gốc diện tích đất hiện nay bà H đang tranh chấp với ông V, ông T là do ông khai
phá năm 1988, đến năm 1991, ông tiến hành trồng bạch đàn khoảng 1ha theo dự
án PAM trên chính diện tích thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3 hiện nay. Năm 1992
ông được UBND huyện Đ, B giao đất, giao rừng diện tích 7,23 ha thuộc lô 6, k6
T tại xóm T, V, huyện Đ nay là thửa số 159, tờ bản đồ số 3. Năm 2007 ông
cắt cho nhà H, ông B 1 khoảng 1ha, vợ chồng ông H, Báo tự trồng 01
hàng bạch đàn làm ranh giới đất giữa hai gia đình. Trước năm 2007 khi ông
chưa cho đất bà H thì ông vẫn cho bà H lấy nứa sao chè theo đúng diện tích hiện
tại bây giờ bà H đang sử dụng. Sau năm 2007 thìH mới trồng keo trên đất
canh tác trồng cây từ đó đến nay. Phần đất còn lại ông tiến hành trồng keo trên
toàn bộ diện tích đất ông được giao. Ông đã thu hoạch 01 vụ keo và trồng vụ thứ
2. Đến năm 2015 ông đã chuyển nhượng cho anh T 01 khoảnh, có chỉ vị trí, ranh
giới ràng. Năm 2016 số diện tích còn lại ông đã chuyển nhượng nốt cho anh
V, chỉ vị trí ràng. Trong suốt quá trình gia đình ông làm từ năm 1988 đến
nay, gia đình ông vẫn sử dụng ổn định, không tranh chấp với bất kể ai, kể cả
gia đình nH, H cũng chưa bao giờ trồng cây trên đất của ông. Sau khi
chuyển nhượng cho anh V, anh T các anh vẫn làm ổn định, không tranh chấp với
ai. Năm 2022 mới phát sinh tranh chấp do ông nghe anh V nói đất của ông đã
khoanh hết vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H, UBND
hướng dẫn hai gia đình thoả thuận, giải quyết tình cảm với nhau, làm đơn xin
cấp lại bìa, nhưng bà H có ý kiến bà H và gia đình không nhất trí.
Nay ông xác định chỉ cho H 1 diện tích khoảng 1ha, phần diện tích đất
còn lại, hiện nay ông đã chuyển nhượng cho anh V, anh T đất của ông, các vị
trí đất này đều có ranh giới rõ ràng, việc chia ranh giới làm len giữa hai gia đình
là do vợ chồng H, ông B tự trồng cây bạch đàn.
Nay H trình bày cho ông mượn là không đúng. Việc H khởi kiện anh
V, anh T ông không nhất trí, ông vẫn nhất trí ông chuyển nhượng cho anh V
anh T theo đúng hiện trạng hiện nay đang sử dụng. Ông yêu cầu huỷ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai cho bà H để cấp cho anh V, anh T cho đúng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày:
Năm 2015 vợ chồng mua đất của ông B1 với tổng diện tích
64.638m
2
với số tiền 200.000.000đ, khi mua bán hai bên giấy viết tay, chỉ
vị trí ranh giới ràng. Khi nhận chuyển nhượng không tranh chấp với ai,
gia đình sử dụng ổn định từ đó đến nay. Khi mua trên đất trồng keo, gia đình
đã khai thác hiện nay đang trực tiếp trồng lứa keo mới. Nay H khởi
kiện yêu cầu trả đất bà không nhất trí, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho
gia đình bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B2 trình bày:
Ngày 03/11/2016 ông B1 đã làm thủ tục chuyển nhượng cho vợ chồng
diện tích đất khoảng 2ha đã trồng keo với giá tiền 100.000.000đ, đất quyết
5
định giao đất, giao rừng của UBND huyện Đ, vị trí phía Đông giáp đất nhà
ông T2 anh H3, phía Tây giáp đường đi, phía Nam giáp đất H, phía Bắc
giáp đất nhà anh T3. Gia đình bà đã trả đủ tiền và đã nhận đất, sử dụng đất từ đó
đến năm 2022 không tranh chấp với ai, gia đình đã khai thác 1 lứa keo
hiện nay đang trồng lứa keo mới. Đến tháng 7/2023 bà H mới làm đơn khởi kiện
yêu cầu vợ chồng bà trả đất, bà không nhất trí.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị S trình bày:
xác định đứng tên mua cho anh T khu đất rừng nhà ông B1, diện tích
đất tranh chấp hiện nay là của anh T, không liên quan đến bà.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch UBND xã V, đại diện
theo uỷ quyền ông Đặng Quốc Đ trình bày:
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 do UBND V
được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T giao cho đơn vị vấn đến V để hỗ
trợ khai đăng cấp giấy CNQSD đất cho các hộ dân trên địa bàn V. Gia
đình ông Dương Tiến B Thị H đã tự khai để cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với toàn bthửa 159, tờ bản đồ số 3, diện tích 75.120m
2
,
loại đất rừng. Trên sở đơn tự kê khai, UBND đã thực hiện đúng các
bước về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay
tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Vũ Thị H với ông Nguyễn Văn V, Nguyễn
Văn T4 đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Những người làm chứng trình bày: Có biết việc ông B1 bán đất cho bà H,
nhưng bán diện tích bao nhiêu, giá bao nhiêu thì không biết. Chỉ biết từ trước
đến nay bà H vẫn làm phần diện tích đất hiện nay bà H đang trồng cây.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157,
Điều 158, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 482, Điều
483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 164, Điều 166, Điều 500,
Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 31, Điều 32 Luật
tố tụng hành chính. Điều 166, Điều 167, Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Điều
26 Luật thi hành án dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị H về
việc yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đất 75.120 m
2
của buộc ông
Nguyễn Văn V trả lại diện tích 17.576,9m
2
; ông Nguyễn Tiến T trả lại diện tích
33.807,8m
2
thuộc thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, GCN quyền sử dụng đất số
BT 401855 cấp ngày 29/12/2013 diện tích 75.120m
2
(Diện tích đo thực tế
72.621,7m
2
)
địa chỉ thửa đất tại xóm T, V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Nay
là xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên) mang tên ông Dương Tiến B, bà Vũ Thị H.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn ông Nguyễn Văn V, ông
Nguyễn Tiến T.
6
2.1. Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 401855, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận CH00820 do UBND huyện Đ cấp cho bà Thị H ông
Dương Tiến B ngày 29/12/2013 tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3 tại xóm T, xã
V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Nay là xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên).
2.2. Công nhận quyền sdụng đất cho ông Nguyễn Tiến T; ông Nguyễn
Văn V, cụ thể như sau:
2.2.1. Ông Nguyễn Văn V được toàn quyền sử dụng diện tích đất
17.576,9m
2
, mục đích đất rừng sản xuất thuộc thửa 159, tờ bản đồ số 3. Diện
tích đất được thể hiện tcác điểm 36, 37, 79, 80, 46, 47, 81, 82, 83, 84, 85, 86,
87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 74, 75, 76, 77, 78 đến 36.
Ông Nguyễn Tiến T được toàn quyền sử dụng diện tích đất 33.807,8m
2
,
mục đích đất rừng sản xuất thuộc thửa 159, tờ bản đồ số 3. Diện tích đất được
thể hiện từ các điểm 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 78, 77, 76, 75, 74, 73, 72, 71,
1, 100, 2, 3, 101, 102, 103, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 104, 105, 106 đến 29.
(bản trích đo hiện trạng sử dụng đất do Công ty cổ phần T5 xây
dựng số 6 đo đạc kèm theo)
3. Buộc bà Thị H, ông Dương Tiến B nghĩa vụ nộp bản gốc GCN
QSD đất số BT 401855, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00820 do UBND
huyện Đ cấp ngày 29/12/2013 tại cơ quan nhà nước thẩm quyền để thực hiện
việc điều chỉnh biến động QSD đất theo quyết định của bản án này. Các đương
sự ông Nguyễn Văn V, ông Nguyễn Tiến T quyền nghĩa vụ làm thủ tục
cấp GCN QSD đất tại quan thẩm quyền đối với phần diện ch đất
mình được quyền sử dụng nêu trên.
Khi Tòa án tuyên công nhận quyền sdụng đất thì các quan thẩm
quyền theo pháp luật đất đai căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải
quyết cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án. Các bên đương sự phải trách nhiệm giao nộp giấy chứng
nhận QSD đất bản gốc cho các Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tăng giảm
biến động diện tích đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên ván phí thẩm, chi phí tố tụng
quy định về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/02/2026, nguyên đơn Thị H kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái
Nguyên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bác toàn bộ yêu cầu phản tố của
các bị đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện giữ
nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: H
có căn cứ xác định quyền sử dụng đất vì đã nhận chuyển nhượng đất của ông B1
từ năm 1992, phù hợp với lời khai của ông B1, người làm chứng hồ xin
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà H tiếp
7
tục khai phá thêm đất, sử dụng ổn định, công khai, không tranh chấp thực
hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H năm 2013 được
thực hiện đúng trình tự, có xác nhận của các hộ giáp ranh, khu dân cư và UBND
V; trong đó ông B1 cũng xác nhận không tranh chấp. UBND huyện Đ
UBND xã V đều xác định việc cấp giấy chứng nhận là đúng quy định.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn V ông Nguyễn Tiến T,
không có căn cứ chấp nhận vì diện tích ông B1 khai đã chuyển nhượng vượt quá
diện tích được Nhà nước giao; thời điểm chuyển nhượng ông B1 chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời chưa căn cứ xác định đất ông
T, ông V nhận chuyển nhượng trùng với thửa đất đã cấp cho H. Ngoài ra,
H đã được cấp giấy chứng nhận từ năm 2013 nhưng ông B1, ông T ông V
không khiếu nại hay tranh chấp trong thời gian dài, thể hiện việc sử dụng đất của
bà H là ổn định và công khai.
Từ những căn cứ trên đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Bị đơn: Không nhất trí với ý kiến của nguyên đơn, đề nghị ginguyên
bản án sơ thẩm.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm, nội
dung đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến có quan
điểm như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn hợp lệ được xem xét, giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm. Những người tham gia tố tụng, những người tiến
hành tố tụng từ khi th lý v án cho đến trước khi ngh án đã thc hiện đúng các
quy định ca B lut t tng dân s.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản
án số sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, lời trình bày của các
đương sự quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tranh tụ tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử (HĐXX) nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn Thị H đảm bảo về hình thức
trong hạn luật định, bà H được miễn nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2]. Về sự mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm những
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (ông Đặng Quốc Đ, bà Triệu Thị S, chị
Bùi Thị N1, anh i Ngọc O) đều đơn xin xét xử vắng mặt; những người
8
làm chứng vắng mặt nhưng những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và
được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử vắng mặt người này là đúng quy định
tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung
[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị H về việc đề nghị Tòa án sửa
bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác toàn bộ yêu
cầu phản tố của bị đơn.
[3.1]. Xác định diện tích đất tranh chấp: Theo kết quả xem xét, thẩm định
tại chỗ thể hiện tổng diện tích đất thửa 159, tbản đồ số 3 72.621,7m
2
, trong
đó phần diện tích đất bà H sử dụng thuộc thửa 159 có diện tích 21.237,0m
2
; Ông
V sdụng thuộc thửa 159 diện tích 17.576,9m
2
; Ông T sử dụng thuộc thửa
159 có diện tích 33.807,8m
2
.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đất thuộc thửa
159, tờ bàn đồ số 3, địa chỉ tại xóm T, V, tỉnh Thái Nguyên của nguyên
đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V phải trả lại diện tích 17.576,9 m
2
ông T phải trả lại diện tích là 33.807,8 m
2
tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, địa
chỉ thửa đất tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên cho nguyên đơn.
Các bị đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất đã cấp
cho H đối với thửa số 159 công nhận quyền sử dụng đất cho các bị đơn
theo Hợp đồng chuyển nhượng đã kết giữa ông B1 với ông theo đúng hiện
trạng sử dụng đất.
Tòa án cấp thẩm xác định diện ch đất tranh chấp 17.576,9 m
2
của ông
V ông T phải trả lại diện tích 33.807,8 m
2
tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số
3, địa chỉ thửa đất tại xóm T, V, tỉnh Thái Nguyên như trên giải quyết đối
với diện tích đất này đúng thẩm quyền, phạm vi, yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
phản tố của các đương sự.
[3.2]. Về nguồn gốc đất tranh chấp, các đương sự, những người làm chứng
trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc toàn bộ thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, có
diện tích theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất 75.120m
2
, trong đó bao
gồm cả diện tích đất tranh chấp của ông Bùi Văn B1 đây tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh theo quy định tại điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.3]. Về quá trình và thực tế sử dụng, việc mua bán chuyển nhượng đất:
H cho rằng năm 1992 đã nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất của
ông B1 sau đó cho ông B1 mượn lại một phần diện tích để sử dụng. Tuy
nhiên, bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho mượn
đất, bà H cũng thừa nhận từ trước đến nay không trực tiếp quản lý, sử dụng phần
diện tích hiện do ông V và ông T quản lý, sử dụng.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định giữa phần đất H sử dụng
với phần đất ông V, ông T đang sử dụng có ranh giới ràng, ổn định. Theo kết
quả đo đạc thực tế, thửa đất số 159 tổng diện tích 72.621,7m², trong đó bà H
sử dụng 21.237,0m², ông V sử dụng 17.576,9m² ông T sử dụng 33.807,8m².
Mặt khác, theo biên bản lấy ý kiến khu dân cùng lời khai của những người
làm chứng đều xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp ban đầu của ông
9
Bùi Văn B1 do khai hoang có; sau đó ông B1 chuyển nhượng cho H
một phần diện tích, phần còn lại ông B1 sử dụng sau đó chuyển nhượng cho ông
V ông T sử dụng. HĐXX thấy không căn cứ xác định ông B1 đã chuyển
nhượng toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho H, sau đó H cho ông B1
mượn để canh tác như bà H trình bày.
[3.4]. Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Hội đồng xét xử
nhận thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 159, tờ bản đồ
số 3 được UBND huyện Đ cấp cho ông Dương Tiến B Thị H năm
2013 trên sđơn tkhai của các hộ dân, nguồn gốc đất đất khai phá.
UBND xã V trình bày việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được thực
hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy. Tuy
nhiên, tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa
thể hiện nội dung kê khai về nguồn gốc quá trình sử dụng đất không phù hợp
với thực tế. H ông B đều thừa nhận chưa từng trực tiếp quản lý, sử dụng
phần diện tích đất hiện đang tranh chấp với ông V ông T; phần diện tích này
do ông B1 quản lý, sử dụng ổn định, liên tục từ trước năm 1992 sau đó chuyển
nhượng cho ông V, ông T tiếp tục sử dụng đến năm 2022 mới xảy ra tranh chấp.
Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quan thẩm quyền chưa
xác minh đầy đủ về nguồn gốc đất, hiện trạng sdụng, ranh giới diện tích
thực tế của các hộ liền kề chủ yếu căn cứ vào việc tự khai của người sử
dụng đất đ cấp giấy chứng nhận. Do đó, căn cứ xác định việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho H ông B chưa bảo đảm phợp với
hiện trạng và quá trình sử dụng đất thực tế. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3.5]. Xét yêu cầu phản tố của của các bị đơn:
Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
28/9/2015 giữa ông Bùi Văn B1 với ông Nguyễn Tiến T và Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/11/2016 giữa ông Bùi Văn B1 với ông
Nguyễn Văn V đều được lập bằng giấy viết tay, chưa thực hiện công chứng,
chứng thực theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án lời khai của các đương sự đều thể hiện ông T, ông V đã giao đủ tiền
nhận chuyển nhượng cho ông B1, K1; đồng thời đã nhận đất, quản lý, s
dụng ổn định, liên tục từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay. Kết quả xem
xét, thẩm định tại chỗ xác định ông T hiện đang sử dụng diện tích thuộc thửa đất
số 107 một phần thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3; ông V sử dụng phần diện
tích còn lại theo hiện trạng thực tế. Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa,
ông B1 K1 tiếp tục xác nhận việc chuyển nhượng đất cho ông T, ông V
theo hiện trạng các bên đang quản lý, sử dụng. Do đó, căn cứ xác định các
bên đã thực hiện xong phần lớn nghĩa vụ trong giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.
Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân snăm 2015 quy định Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng,
chứng thực một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ
trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định
10
công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Từ căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu phản tố của các bị đơn, công nhận hiệu lực các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B1 ông V, ông T căn cứ, đúng quy
định của pháp luật.
[3.6]. Xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận QSD đất số BT 401855,
số vào sổ CH00820 ngày 29/12/2013 cho bà Vũ Thị H và ông Dương Tiến B đối
với thửa đất số 159, tbản đồ số 3 yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất
nêu trên của các bị đơn.
Như đã phân tích trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BT 401855, số vào sổ CH00820 ngày 29/12/2013 cho Vũ Thị H ông
Dương Tiến B đối với thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3 không phù hợp với nguồn
gốc, hiện trạng và quá trình sử dụng đất thực tế. Theo quy định tại khoản 1 Điều
34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án
quyền hủy quyết định biệt trái pháp luật của quan, tổ chức, người
thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân
sự Tòa án nhiệm vụ giải quyết…”. Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp
thẩm hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là có căn cứ.
[3.7]. Từ các căn cứ, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xphúc thẩm xét
thấy không căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn. Bản án dân sự thẩm đã
đánh giá chứng cứ đầy đủ, toàn diện, đúng bản chất pháp của vụ án, áp dụng
đúng quy định của pháp luật đất đai và tố tụng dân sự, không sai lầm nghiêm
trọng trong việc xác định sự thật vụ án. Nguyên đơn Thị H kháng cáo
nhưng không đưa ra được tình tiết mới hoặc căn cứ pháp lý nào làm thay đổi nội
dung bản án thẩm. Do đó, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo nguyên
đơn bà Vũ Thị H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa là có căn cứ chấp nhận.
[4]. Về án phí: Do giữ nguyên án thẩm nên người kháng cáo H phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do H người cao tuổi nên được
miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Thị H về việc kháng
cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số
03/2026/DSST ngày 26/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.
11
2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Vũ Thị H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7a, 7b Điều 9 Luật thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 5- Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 5- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 5- Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 5- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 77/2026/DS-PT Bản án số 77/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 77/2026/DS-PT Bản án số 77/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất