Bản án số 14/2026/KDTM-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 14/2026/KDTM-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 14/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần D; giữ nguyên bản án sơ thẩm 04/2025/KDTM-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk về nội dung.Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2025/KDTM-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk về án phí.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 14/2026/KDTM-PT Bản án số 14/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/KDTM-PT Bản án số 14/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 14/2026/KDTM-PT
Ngày: 26 - 5 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê
tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hồng
Bà Nguyễn Thị My My
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Văn Việt - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Phan Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm th số
02/2026/TLPT KDTM ngày 05 tháng 02 năm 2026, về việc: “Tranh chấp hợp
đồng thuê tài sản”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 27
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2026/QĐ-PT ngày 03
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bệnh viện Đ;
Địa chỉ: Số A T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Hồng N - Chức vụ: Giám đốc.
(vắng mặt)
Người đại diện theo y quyền: Mai Thị Ngọc A; địa chỉ: Số B T,
phường B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)
- Bị đơn: ng ty Cổ phần D;
Địa chỉ: TDP Đ, phường V, tỉnh Phú Thọ.
2
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị A1 Chức vụ: Giám
đốc. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Quang T; (có mặt)
Địa chỉ: Số B H, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Văn H Công
ty L Đoàn Luật sư tỉnh Đ; (có mặt)
Địa chỉ: Căn hộ A.DV01 tầng 01, tòa nhà khu A, dán phát triển nhà
hội đường T, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tự khai v tại phiên ta người đại diện theo y
quyn ca nguyên đơn trnh by như sau:
Thực hiện theo chủ trương của Quyết định số 676/QĐ-UBND ngày
11/4/2023 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt đề án sử dụng tài sản công vào
mục đích cho thuê của Bệnh Viện Đ (Bệnh viện), Bệnh viện đã thực hiện các thủ
tục pháp cần thiết để đấu giá quyền thuê tài sản nhà ăn tại tầng 02-Khoa
dinh dưỡng của Bệnh V.
Công ty cổ phần D (Công ty D) đã đăng tham gia đấu giá đơn vị
trúng đấu giá quyền thuê tài sản nêu trên. Theo đó, ngày 06/11/2023 hai bên tiến
hành kết hợp đồng thuê nhà ăn tại tầng 02-Khoa dinh dưỡng số
03/2023/HĐCT-BVVTN, nội dung cụ thể như sau:
- Diện tích kinh doanh là 800m
2
tại tầng 2-Khoa dinh dưỡng.
- Mặt hàng kinh doanh: Bán đăn, thức uống, phê, nước uống giải khát
các sản phẩm phụ trợ cho khách lựa chọn thêm hàng để bán mang đi (Khay,
cốc, tô, đũa, thìa, dĩa… dùng một lần) khi khách hàng đã mua đồ ăn, thức uống.
- Giá thuê 6.480.000.000đồng/2 năm; cụ thể: 270.000.000đồng/tháng,
tiền ký quỹ là 270.000.000đồng. (số tiền đặt cọc được chuyển t số tiền nộp đấu
giá chuyển qua 360.000.000đồng), còn 90.000.000đồng để khấu tr vào tiền
thuê.
- Thời gian thực hiện hợp đồng 24 tháng, kể t ngày 08/11/2023 đến
07/11/2025.
Các bên cũng đã tiến hành bàn giao tài sản theo biên bản bàn giao mặt
bằng, tài sản dịch vụ căn tin ngày 31/10/2023 giao chìa khóa cho Công ty D
nắm giữ và quản lý, sử dụng tài sản.
3
Tuy nhiên, đến ngày 29/11/2023, Công ty D đã tự ý dng hoạt động kinh
doanh nhà ăn nêu trên đồng thời gửi công văn số 187/ĐN-SH ngày 29/11/2023
cho Bệnh viện về việc dng hoạt động Nhà ăn tại Bệnh viện.
Sau khi nhận công văn nêu trên, Bệnh viện đã nhiều lần mời Công ty D lên
làm việc nhưng Công ty D không phối hợp làm việc. Sau đó, Bệnh viện cũng đã
gửi nhiều công văn, thông báo đến Công ty D nhưng đều không nhận được phản
hồi.
Mãi cho đến ngày 30/01/2024 mới cuộc họp giữa đại diện Công ty D
Bệnh V. Mặc Bệnh viện đã đưa ra nhiều phương án nhằm tháo gỡ khó khăn,
thiện chí giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhưng phía Công ty D vẫn luôn
đặt ra nhiều “yêu sách”, những điều kiện không căn cứ, không trong nội
dung của Hợp đồng thuê đã được ký kết giữa hai bên.
Công ty D không thanh toán tiền thuê tài sản kể t ngày hợp đồng thuê tài
sản có hiệu lực (ngày 08/11/2023) cho đến nay.
Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê Công ty D đã tự ý dng
hoạt động kinh doanh, k t ngày ký hợp đồng thuê cho đến nay vẫn không
thanh toán tiền thuê nhà ăn nhưng cũng không chịu chấm dứt hợp đồng, không
chịu bàn giao lại tài sản cho Bệnh viện M đã nhiều lần đnghị, làm việc, thông
báo. Đây được coi hành vi vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng tại hợp đồng thuê,
do đó, hợp đồng thuê nhà ăn này cần thiết phải hủy (Căn cứ Điều 7 hợp đồng và
khoản 1 Điều 423 BLDS 2015).
+ Theo đơn khi kiện Bệnh viện Đ yêu cu:
- Hủy Hợp đồng thuê nhà ăn tại tầng 02-Khoa dinh dưỡng số
03/2023/HĐCT-BVVTN ngày 06/11/2023 được kết giữa Bệnh viện Đ với
Công ty Cổ phần D;
- Công nhận cho Bệnh viện Đ được sở hữu số tiền đặt cọc (ký quỹ) của hợp
đồng thuê nhà ăn tại tầng 02-Khoa dinh dưỡng số 03/2023/HĐCT-BVVTN là:
270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).
- Buộc Công ty Cổ phần D phải thanh toán tiền thuê nhà cho Bệnh viện Đ,
t ngày 08/11/2023 đến ngày bàn giao tài sản, số tiền thuê tạm tính đến ngày
khởi kiện (ngày 27/9/2024) là khoảng 2.916.000.000đồng (Hai tỷ chín trăm
mười sáu triệu đồng);
- Buộc Công ty Cổ phần D phải bàn giao lại cho Bệnh viện Đ tài sản là mặt
bằng nhà ăn tại tầng 02-Khoa dinh dưỡng các tài sản khác căn cứ biên bản
bàn giao mặt bằng, tài sản dịch vụ căn tin ngày 31/10/2023.
+ Sau khi Tòa án th l th ngày 13/12/2024 các bên đ bản giao tài sản
cho nhau th hiện tại biên bản thẩm định, biên bản làm việc nên yêu cu hiện tại
của nguyên đơn là:
4
- Hủy Hợp đồng thuê nhà ăn tại tầng 02-Khoa dinh dưỡng số
03/2023/HĐCT-BVVTN được ký kết giữa Bệnh viện Đ với Công ty Cổ phần D;
- Công ty cổ phần D li dẫn đến hủy hợp đồng số 03/2023/HĐCT-
BVVTN nên mất tiền quỹ (cọc), đề nghị Tòa án tuyên số tiền
270.000.000đồng trên thuộc về bệnh viện.
- Thanh toán tiền thuê t ngày 08/11/2023 đến ngày các bên bàn giao tài
sản mi tháng 270.000.000đồng, tạm tính đến ngày 27/9/2024 2.916.000.000
đồng.
- Nguyên đơn rút đối với các nội dung còn lại.
- Về chi phí thẩm định đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Người đại diện theo y quyn ca bị đơn trnh by:
Công ty Cổ phần D không đồng ý với c yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bệnh viện đa khoa vùng
T như sau:
Thứ nhất: Việc công bố thông tin trong hồ sơ đấu giá, đầu thầu các yếu tố
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới giá của tài sản đấu gkhông được Bệnh
viện đưa vào thông báo và quy chế đấu giá, mặc dù trước đó đã xảy ra tình trạng
nhà thầu hủy ngang hợp đồng với Bệnh viện các yếu tố gây ảnh hưởng (đi
vi ni này v mi ngày bệnh việc c hơn 1.000 suất ăn do người t thiện
cung cấp, nhưng ni dung này không báo trưc cho bị đơn trưc khi đấu thu
dn đn giá đấu thu cao không ph hợp vi chi phí thc t thu nhập da
trên vn kinh doanh).
Thứ hai: Khi thương thảo hợp đồng Công ty D đã ý kiến điều chỉnh các
nội dung trong hợp đồng cho phù hợp với thực tế khách quan (được bệnh viện
ghi nhận tại biên bản làm việc ngày 30/01/2024, nhưng nội dung không đồng ý
với đề xuất của Công ty D). Tuy nhiên Bệnh viện đã bác bỏ toàn bộ các ý kiến
đó của Công ty D. Bệnh viện lấy lý do: Hồ đấu giá đã ghi ràng thì phải
thực hiện theo để tránh các cá nhân, đơn vị khác khiếu kiện, Bệnh viện cũng trao
đổi thêm: Sau này khi gặp vướng mắc hai bên sẽ thêm phụ lục hợp đồng cho
phù hợp với hồ đấu giá đã ban hành. Công ty D trên tinh thần hợp tác cộng
với việc hiểu trách nhiệm cần phải nhanh chóng đưa Nhà ăn vào phục vụ
nhân dân, nên đã đồng ý hợp đồng. Bệnh viện không ép buộc Công ty D
hợp đồng, nhưng chúng tôi cho rằng Bệnh viện đã la dối đối tác trong quá
trình thương thảo hợp đồng số 03/2023/HĐCT - BVVTN ngày 06 tháng
11 năm 2023.
5
Thứ ba: Bệnh viện nêu quan điểm nhà ăn bệnh viện không phải độc quyền
cung cấp dịch vụ ăn uống cho người dân là đúng. Người dân vẫn có thể lựa chọn
sử dụng dịch vụ khác được cung cấp t bên ngoài bệnh viện. Tuy nhiên trong
khuân khổ khuân viên bệnh viện, Bệnh viện không được cho các các nhân, đơn
vị khác vào thực hiện ba bãi các dịch vụ tại nhiều vị trí khác nhau (công ty D
đã công văn 232/ĐN-SH ngày 15/01/2024 gửi Bệnh viện, nhưng vẫn không
được phía Bệnh viện chấp nhận), do các khu vực dịch vụ đã được quy hoạch sử
dụng theo tng mục đích và nhiệm vriêng, trên sở đề án sdụng tài sản
công vào mục đích cho thuê được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc Bệnh viện
nêu nội dung trên trong đơn khởi kiện cho thấy Bệnh viện rất thiếu trách nhiệm
trong việc giám sát, đồng thời buông lỏng quản lý dẫn tới các tranh chấp kéo dài
liên miên, qua đó thể hiện sự quản lý yếu kém của cả bộ máy ban lãnh đạo Bệnh
viện. Nhà tạm bán hàng tạp hóa thì cung cấp cả dịch vụ ăn uống, nhân viên K
dinh dưỡng lại lạm dụng việc t thiện nấu nướng cấp phát bán suất ăn cho
người bệnh, người dân. Cho tới khi Công ty D ý kiến bằng văn bản thì Bệnh
viện mới thực hiện nhắc nhở, đôn đốc, như vậy thiệt hại thì Công ty D đã phải
chịu, mà Bệnh viện thì chỉ dựa vào hợp đồng để yêu cầu nhà thầu nộp tiền, trong
khi Bệnh viện chưa thực hiện đúng việc phân chia hạng mục hàng hóa dịch vụ
cho các nthầu đối tác. Việc này cho thấy ngay t đầu Bệnh viện đã làm việc
không quyết liệt, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, giám sát các đơn vị thuê
ngoài, và các cá nhân, khoa phòng thuộc bệnh viện.
Thứ tư: Tiền thuê mặt bằng Công ty D chưa nộp do các yếu tố bất lợi cũng
như sai quy định đang diễn ra, và Công ty D đã có ý kiến ngay với Bệnh viện để
thương lượng tháo gỡ, Công ty D không hyêu sách, hạch sách, hay đòi hỏi
cớ với phía Bệnh viện, những t ngữ bệnh viện nói về Công ty D hồng nêu
trong Đơn khởi kiện cho thấy: Bệnh viện làm việc xử công việc không hề
trên tinh thần thiện trí hợp tác, rất chủ quan, duy ý chí, áp đặt gây khó khăn,
thậm chí bất chấp Luật pháp Đạo nhằm chiếm đoạt tiền tài sản của các
tổ chức, cá nhân trong đó có Công ty D.
Việc người bệnh, người dân không nơi ăn uống xuất phát tviệc không
nghiên cứu thực tế khi phát hành hđấu giá, không rút kinh nghiệm t thực
tế các sai lầm trước đó của Bệnh viện dẫn tới. Bệnh viện lại đtha cho
Công ty D gây ra, thể hiện sự thiếu tôn trọng với doanh nghiệp đối tác. Đồng
thời cho thấy Bệnh viện rất thiếu trách nhiệm với người dân với Đảng Nhà
nước.
Đề nghị Tòa án xem xét tuyên các nội dung sau:
6
1. Sen Hồng chấm dứt Hợp đồng số 03/2023/HĐCT - BVVTN ngày 06
tháng 11 năm 2023 không trái pháp luật, do Bệnh viện không kiểm soát được
các yếu tố, các hoạt động gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp trúng đấu giá tài sản.
2. Yêu cầu Bệnh viện trả lại cho Sen H1 số tiền nộp tiền đặt trước tham gia
đấu giá 360.000.000 VND. Số tiền này Sen H1 nộp cho Trung tâm dịch vụ
Đấu giá tài sản tỉnh Đ, sau đó Trung tâm đã chuyển sang cho Bệnh viện để làm
tiền quỹ thực hiện hợp đồng. (chứng t ủy nhiệm chi ngày 11/10/2023 nội
dung số tiền đặt trước tham gia đấu giá)
3. u cầu Bệnh viện bồi thường cho Công ty D các chi pphát sinh khi
triển khai (vận chuyển máy móc hàng hóa phụ vụ kinh doanh) thực hiện Hợp
đồng số 03/2023/HĐCT - BVVTN ngày 06 tháng 11 năm 2023, cũng ncác
chi phí phát sinh trong vụ kiện do phía Bệnh viện kiện Công ty D Công ty D
phải đi lại tham gia tố tụng, tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 200.000.000đồng.
* Người bo vệ quyn v li ch hp pháp ca bị đơn tranh luận:
Việc các bên hợp đồng thuê số 03 tự nguyện dựa trên nguyên tắc tôn
trọng đảm bảo quyền lợi cho các bên, tuy nhiên nguyên đơn không thực hiện
che dấu thông tin như bị đơn trình bày đề nghị Tòa án xem xét dựa trên
chứng cứ các bên cung cấp.
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng của nguyên đơn đã chứng minh hợp đồng bị
vi phạm ngay t khi giao kết nên đề nghị Tòa án c toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn đchấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc nguyên đơn trả
lại cho bị đơn số tiền 360.000.000đồng đặt cọc và ký quỹ.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 27
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
1. V điu luật áp dụng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 472, Điều 473, Điều 474, Điều 476, Điều 481, Điều 482 Bộ
luật Dân sự.
- Căn cứ Điều 312, 314 Luật Kinh doanh thương mại 2005, sửa đổi bổ sung
2019.
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
7
2. V nội dung:
2.1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bệnh viện đa
khoa vùng T và một phần đơn yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty cổ phần D.
+ Hủy Hợp đồng thuê số 03/2023/HĐCT-BVVTN ngày 06/11/2023 giữa
Bệnh viện Đ và Công ty Cổ phần D.
+ Buộc ng ty Cổ phần D Hồng trả cho Bệnh viện Đ 1.431.000.000đồng
tiền thuê mặt bằng, khấu tr 90.000.000đồng quỹ. Công ty Cổ phần D còn
phải trả số tiền 1.341.000.000đồng (một tỷ ba trăm buốn mươi mốt triệu đồng).
+ Công ty Cổ phần D mất số tiền đặt cọc 270.000.000đồng, Bệnh viện Đ
được quyển quản sử dụng số tiền 270.000.000đồng đặt cọc của Công ty Cổ
phần D.
+ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần D đối với
yêu cầu trả lại tiền cọc bồi thường 200.000.000đồng chi phí phát sinh thực
hiện hợp đồng và đi lại tham gia tố tụng.
K t ngày c đơn thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền li của s nợ gc còn phải thi hành án theo mức li suất các bên thỏa thuận
nhưng phải ph hợp vi quy định của pháp luật; trường hợp không c thỏa
thuận về mức li suất th quyt định theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điều
468 B luật dân s 2015.
2.2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về viêc: Buộc Công ty Cổ
phần D phải bàn giao lại cho Bệnh viện Đ tài sản Mặt bằng Nhà ăn tại tầng
02-Khoa dinh dưỡng và các tài sản khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và tuyên
quyền kháng cáo quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy định
pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/9/2025, bị đơn Công ty Cổ phần D có đơn
kháng cáo toàn bộ bản án thẩm đnghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề
nghị giữ nguyên quyết định của bản án thẩm; bị đơn giữ nguyên nội dung
kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.
* Tại phiên ta phúc thẩm, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sđã tuân thủ đầy đủ thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
8
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn Công ty cổ phần D, giữ nguyên quyết định của bản án kinh doanh
thương mại thẩm số 04/2025/KDTM-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 Đắk Lắk về nội dung. Tuy nhiên, do Tòa án cấp sơ thẩm chưa
buộc bị đơn chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện liên quan đến số tiền đặt cọc
270.000.000 đồng bị đơn phải chịu nên cần sửa án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm đối với nội dung trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định
và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình
tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng o của bđơn Công ty Cổ phần D, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[2.1]. Đối với yêu cầu hủy hợp đồng thuê tài sản của nguyên đơn và bị đơn:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng thuê tài sản, bị đơn yêu
cầu phản tố đề nghị chấm dứt hợp đồng thuê tài sản. Xét thấy, hợp đồng được ký
kết dựa trên sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm nên hiệu lực
pháp luật. Việc đề nghị hủy bỏ hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng thì đều dẫn
đến chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự. Tại Điều 7
của Hợp đồng thuê tài sản, hai bên thỏa thuận nếu vi phạm hợp đồng thì một bên
quyền đề nghị chấm dứt hợp đồng nêu trên. thực tế việc chấm dứt hợp
đồng thuê tài sản là do li của bị đơn khi không tiếp tục thực hiện hợp đồng.
vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bđơn về việc chấm dứt hợp
đồng thuê tài sản nêu trên.
[2.2]. Đối với yêu cầu buộc Công ty Cổ phần D phải bàn giao lại cho Bệnh
viện Đ tài sản mặt bằng Nhà ăn tại tầng 02 - Khoa dinh dưỡng các tài sản
khác:
Xét thấy, nguyên đơn Bệnh viện Đ đã rút yêu cầu khởi kiện đối với nội
dung này, bị đơn Công ty Cổ phần D không ý kiến về việc rút một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. vậy, Tòa án cấp thẩm đình chỉ xét xđối
với yêu cầu bàn giao lại mặt bằng của nguyên đơn là phù hợp.
9
[2.3]. Đối với yêu cầu thanh toán tiền thuê mặt bằng, yêu cầu bồi thường
thiệt hại và tranh chấp về tiền cọc, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Ngày 06/11/2023, các bên hợp đồng thuê nhà ăn tại tầng 02 - Khoa dinh
dưỡng của Bệnh Viện Đ dựa trên kết quả trúng thầu, ngày 31/10/2023 nguyên
đơn bàn giao tài sản mặt bằng cho bị đơn. Tuy nhiên, đến ngày 29/11/2023 bị
đơn đóng cửa không kinh doanh. Sau đó hai bên đã các thông báo, giấy mời
cùng nhau làm việc dựa trên nguyên tắc thỏa thuận cùng hợp tác nhưng không
thống nhất được nên ngày 17/4/2024 nguyên đơn đã mời tha phát lại lập vi
bằng xác định các tài sản của bị đơn còn để lại trong tầng 2 nhà ăn (mặt bằng
thuê) để cất vào 02 phòng theo biên bản thẩm định tại ch bàn giao tài sản
ngày 13/12/2024.
Nguyên đơn cho bị đơn thuê nhà ăn tại tầng 02 - Khoa dinh dưỡng của
Bệnh Viện Đ thông qua hình thức đấu thầu. Thông tin về việc đấu thầu và các
nội dung liên quan đã được công bố ràng, bị đơn cũng đã khảo sát toàn bộ
mặt bằng cho thuê. Do đó, việc bị đơn cho rằng nguyên đơn không cung cấp đầy
đủ thông tin cho nhà thầu là không có căn cứ. Như vậy, việc bị đơn không thanh
toán tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn vi phạm quy định tại Điều 4, Điều 7
Hợp đồng thuê mặt bằng số 03/2023/HĐCT - BVVTN ngày 06 tháng 11 năm
2023, cụ thể: Điều 4: “hàng tháng bên B phải thanh toán cho bên A
270.000.000đồng chia thành hai đợt.. đợt 1 t ngày 10-15 hàng tháng np
135.000.000đồng, đợt 2 np 135.000.000đồng t ngày 25-30 hàng tháng.”…;
Điều 7: “… nhà thu vi phạm chậm np tiền theo thời gian quy định….nu chậm
đn 5 ngày th bệnh viện c quyền chấm dứt hợp đồng tịch thu tiền đt cọc
sung công qu…”. Như vậy, việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán không
tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng
thuê tài sản nêu trên nên theo thỏa thuận của hai bên, bị đơn phải chịu phạt số
tiền đã đặt cọc 270.000.000 đồng phải thanh toán số tiền thuê mặt bằng
chưa thanh toán.
Đối với số tiền thuê mặt bằng chưa được thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu
bị đơn thanh toán tiền thuê t ngày bắt đầu thực hiện hợp đồng ngày
08/11/2023 đến ngày bàn giao tài sản, số tiền thuê tạm tính đến ngày khởi kiện
khoảng 2.916.000.000 đồng. Tuy nhiên, vào ngày 17/4/2024, nguyên đơn đã
tiến hành lập vi bằng để di dời toàn bộ tài sản của bị đơn vào 02 phòng cất giữ
lấy lại mặt bằng đã cho thuê. vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán số tiền
thuê t ngày bắt đầu thực hiện hợp đồng ngày 08/11/2023 đến ngày nguyên
đơn lấy lại mặt bằng ngày 17/4/2024 là phù hợp.
10
[2.4]. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu nguyên đơn bồi thường
chi phí phát sinh khi triển khai thực hiện Hợp đồng số 03/2023/HĐCT -
BVVTN ngày 06 tháng 11 năm 2023 chi phí đi lại tham gia tố tụng do
nguyên đơn khởi kiện thì thấy: Nguyên nhân chấm dứt hợp đồng thuê tài sản
do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tài sản còn lại của bị đơn tại mặt bằng
thuê đã được nguyên đơn bàn giao lại cho bị đơn, các bên không tranh chấp
về tài sản (căn cứ Biên bản xem xét thẩm định ngày 13/12/2024). Việc chấm dứt
hợp đồng do li của bị đơn nên Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn bồi thường chi phí phát sinh khi
triển khai thực hiện Hợp đồng và chi phí đi lại tham gia tố tụng là có căn cứ.
[3]. Về án phí kinh doanh thương mại thẩm, Tòa án cấp thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn mất số tiền đặt cọc
270.000.000đồng nhưng không buộc bị đơn phải chịu án phí thẩm đối với
yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn được chấp nhận thiếu sót. vậy, cần
sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí đối với nội dung trên.
T những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không
có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty D.
[4]. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh
thương mại phúc thẩm.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần D; giữ nguyên
bản án thẩm 04/2025/KDTM-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 Đắk Lắk về nội dung.
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại thẩm số 04/2025/KDTM-
ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk về án phí.
- Căn cứ Điều 472, Điều 473, Điều 474, Điều 476, Điều 481, Điều 482 Bộ
luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 312, 314 Luật Kinh doanh thương mại 2005, sửa đổi bổ sung
2019;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
11
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bệnh viện đa
khoa vùng T và một phần đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là Công ty cổ phần D.
1.1. Chấm dứt hợp đồng thuê số 03/2023/HĐCT-BVVTN ngày 06/11/2023
giữa Bệnh viện Đ và Công ty Cổ phần D.
1.2. Buộc Công ty Cổ phần D trả cho Bệnh viện Đ 1.431.000.000đồng tiền
thuê mặt bằng, được khấu tr 90.000.000đồng quỹ. Công ty Cổ phần D còn
phải trả số tiền 1.341.000.000đồng (Một tỷ ba tram bốn mươi mốt triệu đồng).
1.3. Công ty Cổ phần D mất số tiền đặt cọc 270.000.000đồng, Bệnh viện Đ
được quyển quản sử dụng số tiền 270.000.000đồng đặt cọc của Công ty Cổ
phần D.
1.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị
đơn thanh toán số tiền thuê mặt bằng t sau ngày 17/4/2024 đến ngày bàn giao
tài sản.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần D đối với
yêu cầu trả lại tiền cọc bồi thường 200.000.000đồng chi phí phát sinh thực
hiện hợp đồng và đi lại tham gia tố tụng.
K t ngày c đơn thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền li của s nợ gc còn phải thi hành án theo mức li suất các bên thỏa thuận
nhưng phải ph hợp vi quy định của pháp luật; trường hợp không c thỏa
thuận về mức li suất th quyt định theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điều
468 B luật dân s 2015.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về viêc: Buộc Công ty Cổ
phần D phải bàn giao lại cho Bệnh viện Đ tài sản Mặt bằng Nhà ăn tại tầng
02-Khoa dinh dưỡng các tài sản khác.
4. Về chi phí tố tụng:
Bị đơn Công ty Cổ phần D nghĩa vụ nộp 3.000.000đồng chi phí thẩm
định tại ch (đã chi phí xong), nguyên đơn Bệnh viện Đ được nhận lại số tiền
tạm ứng đã nộp nêu trên sau khi thu được của bị đơn Công ty Cổ phần D.
5. Về án phí:
5.1. Án phí sơ thẩm:
+ Nguyên đơn Bệnh viện Đ phải chịu án phí Kinh doanh thương mại
thẩm là 59.250.000đồng. Được khấu tr vào khoản tiền 48.160.000đồng tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013884 ngày 21/10/2024 tại
Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi
khấu tr Bệnh viện Đ được nhận lại số tiền 11.090.000đồng.
12
+ Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu án phí Kinh doanh thương mại
thẩm 63.030.000đồng. Được khấu tr vào khoản tiền 13.200.000đồng tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001402 ngày 08/5/2025 tại Chi cục thi hành
án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi khấu tr Cổ phần
dịch vụ Sen Hồng còn phải tiếp tục nộp số tiền 49.830.000đồng.
5.2. Án phí phúc thẩm:
Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc
thẩm là 2.000.000 đồng, được khấu tr số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí
phúc thẩm theo biên lai thu số 0001146 ngày 29/9/2025 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại ĐN;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vc 1 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vc 1;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Y Phi Kbuôr
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 14/2026/KDTM-PT Bản án số 14/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/KDTM-PT Bản án số 14/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất