Bản án số 23/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 23/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 23/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Kim A - Đỗ Trung H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 23/2026/DS-PT
Ngày 28-5-2026
V/v: Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa
vụ thông qua người thứ ba
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Toàn
Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Khánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 11/2026/TLPT-DS ngày 05/5/2026 về
“Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba”.
Do bản án Dân sthẩm số 05/2026/DS-ST ngày 27/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 51/2026/QĐ-PT ngày
14/5/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đào Th Kim A; Sinh năm 1987, số CCCD
010187000771, ngày 13/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ C.
Địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Lào Cai; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Trung H; Sinh năm 1986, số CCCD 010086003310, ngày
11/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ C.
Địa chỉ: Thôn H, xã G, tỉnh Lào Cai; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại din theo u quyn ca b đơn: Ông Hà Tiến D; Sinh năm 1988.
Địa ch: S nhà B, đường P, t A B, phường C, tnh Lào Cai; đơn đề nghị
xét xử vắng mặt.
3. Người làm chứng:
- Ông Lê Văn T; Sinh năm 1981.
2
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường S, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt.
- Ông Dương Xuân Đ; Sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn E, xã T, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt.
- Ông Vũ Tiến T1; Sinh năm 1971.
Địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Trung H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Đào Thị
Kim A trình bày:
Do quen biết để hỗ trợ ông Đỗ Trung H kinh doanh bất động sản, ngày
20/7/2024, bà Đào Thị Kim A đã cho ông H vay tiền 02 lần, cụ thể như sau:
- Lần 1 (17h15): Vay 490.000.000 đồng, lập Giấy nhận nợ, hạn trả ngày
20/7/2024.
Lần 2 (18h20): Vay 600.000.000 đồng, lập Giấy nhận nợ, hạn trả ngày
20/7/2024.
Tổng cộng nợ gốc: 1.090.000.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi triệu
đồng).
Hình thức giao tiền: Kim A khẳng định đã giao đủ tiền mặt cho ông H tại
nơi ông H làm việc Công an huyện B (cũ), việc đưa tiền mặt là theo yêu cầu của
ông H đtiện thanh toán mua đất và tránh chuyển khoản do công việc. Theo
Kim A, Giấy nhận nợ 01 ghi “Đã giúp ông H trả ncho bên chuyển
nhượng” Giấy nhận nợ 02 có ghi “Giúp đỡ ông H trả giúp ông H tiền mua đất tại
Ô, S, Lào Cai. 02 Giấy nhận nợ này bằng chứng cho việc ông H đã nhận đủ
tiền. Cụm từ ghi trong 02 Giấy nhận nợ thực chất là mục đích của khoản vay. Bà
Kim A đưa tiền cho ông H để ông H tthanh toán cho chủ đất, chứ không phải
Kim A chuyển khoản trực tiếp cho các chủ đất. Vì vậy, việc ông H cho rằng
Kim A chưa chuyển tiền cho chủ đất để phủ nhận khoản nợ trên là không có căn
cứ.
Kim A khẳng định việc lập Giấy nhận nợ hoàn toàn tự nguyện, do
chính tay ông H viết nhận, khi đến hạn trả nợ, ông H không trả, đã
nhiều lần đôn đốc tố cáo đến quan ng an, cho rằng ông H đang lật lọng
nhằm chiếm đoạt tài sản.
Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai:
- Yêu cầu ban đầu buộc ông H phải trả 1.090.000.000 đồng (tiền gốc)
228.900.000 đồng (tiền lãi) Cộng 02 khan là 1.318.900.000 đồng.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà Kim A tự nguyện rút yêu cầu về tiền lãi.
3
- Như vậy Kim A yêu cầu buộc ông Đỗ Trung H trả số tiền gốc là
1.090.000.000 đồng theo 02 Giấy nhận nợ ngày 20/7/2024.
* Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm bị đơn ông Đỗ Trung
H và người đại diện theo uỷ quyền của ông H là ông Hà Tiến Dng trình bày:
Về giao dịch mua bán đất tại S:
Tháng 6/2024, bà Kim A môi giới cho ông H cùng hai người bạn (ông T1,
ông Đ) mua 02 thửa đất tại Ô, S của ông Lê Văn T.
Ban đầu, ông H Kim A thống nhất báo giá chênh lên 4.800.000.000
đồng (giá gốc 3.600.000.000 đồng) để hưởng lợi từ phần vốn góp của ông T1
ông Đ. Tuy nhiên, sau đó ông H đã thú nhận sự thật với các bạn đàm phán giảm
giá thực tế xuống còn 2.800.000.000 đồng (đã thanh toán đủ cho chủ đất qua tài
khoản cá nhân ông H).
Bà Kim A chỉ hỗ trợ pháp lý, không trực tiếp giao dịch và không cho ông H
vay bất kỳ khoản tiền nào để trả cho chủ đất.
Về nguồn gốc của 02 Giấy nhận nợ ngày 20/7/2024:
Ông H khẳng định việc lập Giấy nhận nợ giả tạo, không việc vay mượn
hay giao nhận tiền thực tế, cụ thể: Do việc “kênh giá” bị bại lộ khiến Kim A
mất khoản lợi nhuận như dự kiến. đã gây áp lực, đe dọa làm mất uy tín công
việc của ông H tại quan Công an, buộc ông phải viết Giấy nhận nợ để “chia
phần” lợi nhuận ảo;
- Khoản tiền 490.000.000 đồng: Kim A yêu cầu tính vào chi phí hỗ trợ
mua đất nhưng thực tế không chi trả khoản nào.
- Khoản tiền 600.000.000 đồng: một nửa số tiền chênh lệch dự kiến
(1.200.000.000 đồng) từ việc “kênh giá” ban đầu nhưng không thành công.
Quan điểm và yêu cầu của Bị đơn ông Đỗ Trung H:
- Nội dung ghi trong Giấy nhận nợ 01 có ghi “Đã giúp ông H trả nợ cho bên
chuyển nhượng” trong Giấy nhận nợ 02 ghi “Giúp đỡ ông H trả giúp ông H
tiền mua đất tại Ô, S, Lào Cai hoàn toàn sai sự thật Kim A không hề
chuyển tiền cho bên bán đất.
- Bà Kim A không cung cấp được tài liệu chứng minh nguồn tiền hoặc bằng
chứng giao nhận tiền thực tế, đồng thời Phòng C1 công an tỉnh L đã kết luận
không có căn cứ cho thấy Kim A cho ông H vay tiền.
Căn cứ nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông
H đề nghị Tòa án xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Đào Thị Kim A do
không tồn tại quan hệ vay nợ thực tế.
* Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn cung cấp 02 giấy nhận nợ:
- Nội dung giấy nhận nợ 1: “Tôi là Đỗ Trung H, địa chỉ... Do việc mua đất,
thiếu số tiền hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng, bà Đào ThKim A, địa chỉ... đã giúp
4
ông Đỗ Trung H trả cho bên chuyển nhượng stiền 490.000.000 đồng (Bốn trăm
chín mươi triệu đồng).
Như vậy ông Đỗ Trung H nợ Đào Thị Kim A 490.000.000 đồng (Bốn trăm
chín mươi triệu đồng).
- Nội dung Giấy nhận nợ 2: “Tôi Đỗ Trung H, địa chỉ... nhận nợ của
Đào Thị Kim A, địa chỉ.. số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Số tiền
này do Đào Thị Kim A giúp đỡ ông H, trả giúp ông H tiền mua đất tại Ô, S,
Lào Cai.
* Theo Thông báo số 542/TB-CSHS - Đ2 ngày 07/05/2025 của Phòng C1
Công an tỉnh L nội dung: Đối với nội dung tố cáo đồng chí Đỗ Trung H
hành vi cố tình không trả nợ cho Đào Thị Kim A số tiền 1.090.000.000 đồng
(Một tỷ không trăm chín mươi triệu đồng)...là thỏa thuận dân sự; Mặt khác Đào
Thị Kim A không đưa ra được căn cứ nào chứng minh có nội dung cho đồng chí
Đỗ Trung H vay tiền, do đó không có căn cứ giải quyết.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; khoản 2 Điều 229; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 280; Điều 463; Điều 466; Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Kim A.
1. Buộc ông Đỗ Trung H trả cho bà Đào Thị Kim A số tiền gốc đã vay tổng
cộng 1.090.000.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi triệu đồng) theo 02
giấy nhận nợ.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Đào Thị Kim A đối với phần yêu cầu
ông Đỗ Trung H phải trả số tiền lãi là 228.900.000 đồng.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên lãi suất chậm trả thi hành án, án phí,
quyền kháng cáo cho các đương sự.
* Ngày 08/04/2026, ông Đỗ Trung H kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ
thẩm. Đề nghị sửa Bản án số 05/2026/DS-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 6 - Lào Cai, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Đào Thị Kim A.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự, người đại din theo u quyn ca b đơn đều có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến:
5
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét x, Thư
của các đương stừ khi thụ vụ án phúc thẩm đến trước khi Hội đồng xét xử
nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục: Kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định nên cần được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án thẩm số 05/2026/DS-ST
ngày 27/03/2026 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Kim A về việc yêu cầu ông Đỗ Trung
H trả số tiền 1.090.000.000 đồng;
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định n
sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện
để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo ông Đỗ Trung H, người đại diện
theo uỷ quyền của người kháng cáo ông Tiến D, người khởi kiện Đào
Thị Kim A đã được Tán triệu tập hợp lệ nhưng đều đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét tiến hành xét
xử theo thủ tục chung.
[2] Xét nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về tính pháp lý của 02 giấy nhận nợ:
Kim A ông H đều thừa nhận 02 giấy nhận nợ do ông H viết, ông H
cho rằng bản thân bị Kim A đe dọa nên mới viết 02 giấy nhận nợ, nhưng ông
H không chứng minh được. Do đó đủ căn cứ xác định 02 giấy nhận nthỏa
thuận dân sự tự nguyện giữa Đào Thị Kim A ông ĐTrung H, giá trị
pháp lý đối với các bên.
[2.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tòa thẩm nhận định: Đây “Hợp đồng vay tài sản” (theo Điều 463 của
Bộ luật Dân sự).
6
Xét thấy bản chất của hợp đồng vay tài sản nguyên đơn phải giao tài sản
cho bị đơn nhưng không chứng cứ chứng minh việc nguyên đơn đã giao tiền
cho bị đơn.
Thực tế cả 02 Giấy nhận nđều ghi Kim A “Giúp ông H trả cho bên
chuyển nhượng” hoặc “trả giúp ông H tiền mua đất”.
Do đó đây không phải là quan hệ “Vay tài sản”.
Đây là quan hệ “Thực hiện nghĩa vthông qua người thứ ba” (theo Điều 283
của Bộ luật Dân sự).
[2.3] Xét kháng cáo của bị đơn:
Tòa thẩm mặc định đây “Hợp đồng vay tài sản” dựa trên chữ “nợ”
nên Tòa thẩm không xem xét đến việc Kim A thực hiện hành vi “trả
giúp” đó hay không.
Giấy nhận nợ 1 ghi: Bà Kim A “đã giúp... trả cho bên chuyển nhượng”.
Giấy nhận nợ 2 ghi: “Số tiền này do Kim A giúp đỡ ông H trả giúp tiền
mua đất”, nhưng thực tế Kim A không chuyển tiền cho bên chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, nên hành vi “giúp đỡ” này chưa xảy ra dẫn đến khoản “nợ”
phát sinh từ hành vi đó không tồn tại.
Kim A giải thích rằng thực tế là giao tiền mặt cho ông H vay để ông H tự
đi trả tiền đất, xét thấy lời giải thích này hoàn toàn mâu thuẫn với nội dung khách
quan của 02 giấy nhận nợ do chính bà Kim A cung cấp. Thực tế khi xác lập giao
dịch các bên không ghi “vay tiền” không lập “Biên bản giao nhận tiền
mặt” để chứng minh việc chuyển giao tài sản mà lại ghi nhận việc bà A giúp ông
H trả tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thứ ba. Bà Kim A là
người có năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ nhận thức pháp luật, nhưng lại chấp
nhận để ông H viết nội dung là “trả giúp cho bên thứ ba”, một hành vi bà Kim
A biết mình không thực hiện. Điều này cho thấy lời khai của nguyên đơn
thiếu tính logic, nhằm mục đích hợp thức hóa tviệc “trả nợ hộ” thành quan hệ
hợp đồng vay tài sản không thực, để không phải chứng minh việc Kim A đã
trả nợ giúp ông H theo thỏa thuận giữa các bên trong giấy nhận nợ, mà chỉ căn cứ
vào chữ “nợ” và ông H đã ký tên để mặc nhiên ông H có nghĩa vụ trả tiền cho bà
Kim A.
Đối với những người làm chứng:
* Đối với anh Lê Văn T (Người bán đất) xác nhận bà Kim A không chuyển
cho anh bất kỳ khoản tiền nào nói trả hộ ông H, còn việc Kim A và ông H
nợ tiền nhau, giao tiền cho nhau như thế nào anh không được biết (BL 103).
* Đối với anh Dương Xuân Đ, anh Tiến T1 đều xác nhận không biết
về việc Kim A ông H ntiền nhau, giao tiền cho nhau như thế nào anh
không được biết (BL 109, 111).
Theo Thông báo số 542/TB-CSHS - Đ2 ngày 07/05/2025 của Phòng C1
Công an tỉnh L về nội dung Kim A không chứng minh được việc cho ông H
7
vay tiền. Đây kết luận của quan chuyên môn qua quá trình điều tra, xác minh,
có giá trị chứng minh cao nhưng đã bị Tòa án cấp sơ thẩm bỏ qua.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy yêu cầu khởi
kiện của Kim A không căn cứ pháp thực tiễn. Tòa án cấp thẩm
đánh giá chứng cứ không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, xác định
sai quan hệ tranh chấp bỏ qua nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn. Do đó,
cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bđơn ông Đỗ Trung H
không phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Đào Thị Kim A phải chịu án phí dân sựthẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Toà án,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Trung H; sửa Bản án dân sự sơ
thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào
Cai, như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản
1 Điều 147; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 283
Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí
Tòa án.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Kim A,
về việc: Buộc ông Đỗ Trung H phải trả cho bà Đào Thị Kim A số tiền gốc đã vay
tổng cộng là 1.090.000.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi triệu đồng) theo
02 giấy nhận nợ đề ngày 20/7/2024. Trong đó theo Giấy nhận nợ 01 đề hồi 17 gi
15 phút ngày 20/7/2024 là 490.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu đồng)
theo Giấy nhận nợ 02 đề hồi 18 giờ 20 phút ngày 20/7/2024 là 600.000.000 đồng
(Sáu trăm triệu đồng).
1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Đỗ Trung H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
8
- Nguyên đơn bà Đào Thị Kim A phải chịu 44.700.000 đồng (Bốn mươi bốn
triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự thẩm, được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp 25.783.500 đồng (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi
ba nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số
0001616 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, bà Đào Thị Kim
A còn phải nộp 18.916.500 đồng (Mười tám triệu, chín trăm mười sáu nghìn, năm
trăm đồng).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đỗ Trung H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho
ông Đỗ Trung H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo Biên lai số 0001363 ngày 09/04/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Lào Cai.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa PT - TANDTC tại Hà Nội
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- THADS tỉnh Lào Cai
- TAND khu vực 6 - Lào Cai;
- Phòng THADS KV 6 - Lào Cai;
- Các đương sự (đại diện);
- Lưu VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Chí Thiện
Tải về
Bản án số 23/2026/DS-PT Bản án số 23/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 23/2026/DS-PT Bản án số 23/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất