Bản án số 96/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 96/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 96/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 96/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 96/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 96/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công nhận sự thỏa thuận |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 96/2026/DS-PT
Ngày: 26/5/2026
V/v tranh chấp về
thừa kế tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hành;
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Lưu Thị Lý -
Kiểm sát viên.
Từ ngày 19 đến ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại Phòng xét xử của Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025,
về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2026/QĐ-PT ngày
02 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1940; người đại diện theo uỷ quyền của bà Lý
Thị Đ: Ông Trịnh Xuân M, sinh năm 1963; cùng nơi cư tr: Thôn XYT, xã ĐS,
tỉnh Quảng Ngãi (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/5/2021); ông Mai có mt tại
phiên tòa.
Người bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của bà Lý Thị Đ: Ông Trần Việt N,
Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ gip pháp lý Nhà nước tỉnh số 1; có mt
tại phiên tòa.
1.2. Bà Lý Thị Ph, sinh năm 1950, người đại diện theo uỷ quyền của bà
Lý Thị Ph: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1946; cùng nơi cư tr: Thôn XYT, xã
2
ĐS, tỉnh Quảng Ngãi (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/5/2021); ông Hội có đơn
xin xét xử vắng mt.
Người bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của bà Lý Thị Ph: Ông Trịnh Văn
H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ gip pháp lý Nhà nước
tỉnh số 1; có mt tại phiên tòa.
1.3. Bà Lý Thị H, sinh năm 1955, người đại diện theo uỷ quyền của bà Lý
Thị H: Ông Lê Minh L, sinh năm 1958; cùng nơi cư tr: Thôn TB, xã TP, tỉnh
Quảng Ngãi (theo văn bản ủy quyền ngày 10/5/2021); ông Long có mt tại phiên
tòa.
Người bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của bà Lý Thị H: Ông Trần Việt N,
Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ gip pháp lý Nhà nước tỉnh số 1; có mt
tại phiên tòa.
1.4. Ông Lý Tài T, sinh năm 1955, nơi cư tr: Thôn LT, xã ĐS, tỉnh Quảng
Ngãi; có mt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Lý Tài X, sinh năm 1950, nơi cư tr: Thôn LTĐ, xã ĐS,
tỉnh Quảng Ngãi; người đại diện theo uỷ quyền của ông Lý Tài Xuân: Chị Nguyễn
Thị Như Hunh, sinh ngày 14/5/2001, nơi cư tr: Thôn Ph Long 1, xã Vạn
Tường, tỉnh Quảng Ngãi; ông Xuân, chị Hunh có mt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, ngha vụ liên quan:
3.1. Ông Lý Tài Đức, sinh năm 1978, nơi cư tr: Thôn LTĐ, xã ĐS, tỉnh
Quảng Ngãi; có mt tại phiên tòa.
3.2. Bà Nguyễn Thị Ti, sinh năm 1955 và bà Lý Thị N,sinh năm 1985;
cùng nơi cư tr: Thôn LTĐ, xã ĐS, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mt tại phiên tòa.
3.3. Bà Phạm Thị Mỹ Tr,sinh năm 1979, anh Lý Tài Q, sinh năm 2000,
anh Lý Tài Qu,sinh năm 2001; cùng nơi cư tr: Thôn LTĐ, xã ĐS, tỉnh Quảng
Ngãi; đều vắng mt tại phiên tòa.
3.4. Ông Lý Tài T,, sinh năm 1965, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969, anh
Lý Tài L, sinh năm 1993, bà Lý Thị H, sinh năm 1971, anh Nguyễn Lý Đ, sinh
năm 2006 và bà Lý Thị Ph, sinh năm 1976; cùng nơi cư tr: Thôn XYT, xã ĐS,
tỉnh Quảng Ngãi; đều vắng mt tại phiên tòa.
3.5. y ban nhân dân huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi; người kế thừa quyền
và ngha vụ của y ban nhân dân huyện BS: y ban nhân dân xã ĐS, tỉnh Quảng
Ngãi; người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đnh C, chức vụ: Chủ tịch y ban
nhân dân xã ĐS; vắng mt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
1. Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm:
Theo ni dung đơn khi kiện ngy 30/3/2021, cc đơn khi kiện bổ sung
ngy 14/6/2021, 09/4/2024, nguyên đơn l b Lý Thị Đ, bà Lý Thị Ph, b Lý Thị
Hải v ông Lý Ti Thiện (sau đây viết tắt l b Đông, b Phương, b Hải v ông
Thiện) v trong qu trình giải quyết vụ n, người đại diện hợp php của cc b
Đông, Phương, Hải trình by:
Cha mẹ của các ông bà là cụ Lý Đoạt (sau đây viết tắt là cụ Đoạt) và cụ
Đinh Thị Nghiêng (sau đây viết tắt là cụ Nghiêng), có 05 người con chung là các
ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải (sau đây viết tắt là các bà Đông, Phương,
Hải), Lý Thị Phiên (chết lc nhỏ) và Lý Tài Bảy (chết lc nhỏ). Ngoài ra, cụ Đoạt
còn có một người vợ khác là cụ Châu Thị Cấn (sau đây viết tắt là cụ Cấn), giữa
cụ Đoạt và cụ Cấn có 02 người con chung là ông Lý Tài Xuân và ông Lý Tài
Thiện (sau đây viết là các ông Xuân, Thiện). Cụ Đoạt chết vào ngày 06/12/1981,
cụ Nghiêng chết vào ngày 26/5/1991 và cụ Cấn chết vào ngày 18/8/1990, đều
không để lại di chc.
Thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 9, xã Bnh Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi, nay là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi với diện tch đo đạc thực tế
(sau khi trừ phần diện tch lối đi và các ngôi mộ) là 1.622,9m² (sau đây viết tắt là
thửa đất số 1055) có nguồn gốc do cụ Đoạt, cụ Nghiêng tạo lập, sử dụng, xây nhà
ở từ trước năm 1945 đến khi cụ Đoạt, cụ Nghiêng chết. Sau khi cụ Nghiêng chết
vào năm 1991 th bà Đông đã về sinh sống và trực tiếp quản lý thửa đất số 1055.
Năm 1999 th ngôi nhà cũ bị sụp đổ, đến năm 2009 th bà Đông được nhà nước
hỗ trợ để xây dựng lại một ngôi nhà cấp 4 và tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số
1055 cho đến nay.
Tuy không có sự thỏa thuận, đồng ý nào của các ông, bà, nhưng ông Xuân
đã tự ý kê khai và được y ban nhân dân huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L394285, vào sổ số 00089QSDĐ/668/QĐ-
UB(H) ngày 19/02/2000 cho hộ ông Xuân đối với thửa đất số 1055. Việc cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông Xuân là xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ch hợp
pháp của các ông, bà.
Các ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản của các cụ Đoạt, Nghiêng
là thửa đất số 1055 theo diện tch thực tế là 1.622,9m², cụ thể:
Chia di sản của cụ Đoạt để lại là diện tch đất 811,45m² (1/2 thửa đất nêu
trên) cho 05 người con của cụ Đoạt là các ông bà Đông, Phương, Hải, Thiện, Xuân
và cho 02 người vợ của cụ Đoạt là cụ Nghiêng, cụ Cấn, trong đó các ông bà
Phương, Hải, Thiện, Xuân, cụ Nghiêng, cụ Cấn mỗi người được hưởng 01 kỷ
phần là 101,43m², riêng bà Đông được hưởng 02 kỷ phần là 202,86m².
4
Chia di sản của cụ Nghiêng là diện tch đất 811,45m² (1/2 thửa đất nêu
trên) và phần tài sản cụ Nghiêng được hưởng của cụ Đoạt là 101,43m² cho 03
người con của cụ Nghiêng là các bà Phương, Hải mỗi người được hưởng 01 kỷ
phần là 228,22m², riêng bà Đông được hưởng 02 kỷ phần là 456,44m².
Chia di sản của cụ Cấn là 101,43m² (phần tài sản mà cụ Cấn được hưởng
di sản của cụ Đoạt) cho 02 người con chung của cụ Đoạt, cụ Cấn gồm các ông
Thiện, Xuân mỗi người được 50,71m².
Buộc ông Lý Tài Đức (sau đây viết tắt là ông Đức) phải thu dọn cây keo
giâm hom trồng trên đất và tường rào trụ bê tông, kẽm lưới B40 xung quanh thửa
đất nêu trên.
Ngoài yêu cầu khởi kiện nêu trên th ông bà có ý kiến đề nghị Tòa án xem
xt hủy quyết định cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L394285,
vào sổ số 00089QSDĐ/668/QĐ-UB(H) ngày 19/02/2000 do y ban nhân dân
huyện Bnh Sơn cấp cho hộ ông Lý Tài Xuân đối với thửa đất số 1055 nêu trên.
Tại bản trình by ý kiến ngy 13/5/2021 v trong qu trình giải quyết vụ
n, bị đơn l ông Lý Ti Xuân v người đại diện hợp php của ông Lý Ti Xuân
trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, huyết thống của cụ Đoạt, cụ Nghiêng và cụ Cấn
đng như nguyên đơn đã trnh bày. Tuy nhiên, ông Xuân được cụ Đoạt đưa về
nuôi dưỡng từ nhỏ, sinh sống cùng với cụ Nghiêng, cụ Đoạt tại thửa đất số 1055
và là người trực tiếp phụng dưỡng cụ Đoạt, cụ Nghiêng cho đến khi các cụ qua
đời, duy tr việc thờ cng cho đến nay.
Thửa đất số 1055 có nguồn gốc là do ông, bà để lại cho cụ Đoạt. Khi cụ
Đoạt cưới cụ Nghiêng th hai cụ cùng sử dụng chung, sau đó hai cụ đã giao lại
thửa đất này cho ông sử dụng và bản thân ông đã sinh sống trên thửa đất đó cùng
cụ Đoạt, Nghiêng từ khi còn nhỏ. Sau khi đi kinh tế mới vào năm 1980, ông trở
về địa phương xã Bnh Hiệp vào cuối năm 1981 và tiếp tục sống cùng cụ Đoạt, cụ
Nghiêng trên thửa đất số 1055. Sau khi cụ Nghiêng qua đời vào năm 1991, ông
tiếp tục quản lý và sử dụng đất. Ngôi nhà cũ của cụ Đoạt, cụ Nghiêng đã bị sụp
đổ vào năm 1999. Vào năm 2009, do hoàn cảnh khó khăn nên bà Đông đã hỏi
mượn một phần diện tch thửa đất số 1055 để xây dựng quán buôn bán mưu sinh.
V tnh chị em, ông đã cho bà Đông mượn một phần diện tch đất để xây dựng
quán, phần diện tch đất còn lại được ông cùng con trai là ông Đức quản lý, sử
dụng.
Hộ gia đnh ông đã được Nhà nước xt cân đối thửa đất số 1055 theo Nghị
định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chnh phủ về việc ban hành bản quy định về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đnh, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục
5
đch sản xuất nông nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định 64-CP) và đã được y
ban nhân dân huyện Bnh Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
L394285, vào sổ số 00089QSDĐ/668/QĐ-UB(H) ngày 19/02/2000 đối với thửa
đất số 1055. Việc đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận đất là công khai,
phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm đó theo Thông tư 346/1998/TT-
TCĐC ngày 16/3/1998 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chnh và
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Thông tư 346/1998/TT-
TCĐC) và các anh chị em trong gia đnh đều biết việc này nhưng không ai phản
đối hay tranh chấp g.
Ông không đồng ý với toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn v thửa
đất số 1055 do cụ Đoạt, cụ Nghiêng đã giao lại cho ông sử dụng từ lâu, đã được
Nhà nước cân đối theo Nghị định 64-CP, được Nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo đng quy định pháp luật, thời hiệu để các nguyên đơn yêu
cầu chia di sản của cụ Đoạt, cụ Cấn đã hết nên đề nghị áp dụng thời hiệu khởi
kiện. Trong trường hợp Tòa án xác định thửa đất số 1055 là di sản của cụ Đoạt và
cụ Nghiêng, ông Xuân đề nghị Tòa án xem xt phần đóng góp của ông Xuân trong
việc quản lý di sản và thờ cng ông bà, tổ tiên trong một thời gian dài.
Tại đơn trình by ý kiến ngy 12/4/2024 v trong qu trình giải quyết vụ
n, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan l cc ông b Lý Ti Đức, Nguyễn Thị
Tình, Lý Thị Nga, Phạm Thị Mỹ Trang, anh Lý Ti Quyền trình by: Thống nhất
với ý kiến, trnh bày của bị đơn là ông Xuân và không đồng ý với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của các nguyên đơn; các ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại biên bản lm việc ngy 28/5/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là ông Lý Tài T, trình bày:
Ông là người sử dụng đất liền kề thửa đất số 1055; theo ông được biết th
nguồn gốc thửa đất số 1055 là của cụ Đoạt và cụ Nghiêng được thừa hưởng của
ông, bà và đã sử dụng từ trước năm 1975 cho đến khi cụ Đoạt, cụ Nghiêng chết.
Lối đi vào nhà ông hiện nay là một phần diện tch thửa đất số 1055 do các đương
sự cho ông vào năm 2019; ranh giới thửa đất số 1055 ổn định, không có tranh
chấp g; những người sử dụng lối đi nêu trên gồm ông, vợ ông là bà Nguyễn Thị
Tiện, anh Lý Tài Lễ, bà Lý Thị Hoa, anh Nguyễn Lý Đen, bà Lý Thị Phượng.
Anh Lý Ti Quang, cc ông b Lý Thị Tiện, Lý Tài L, Lý Thị H, Nguyễn
Lý Đ, Lý Thị Phượng không có ý kiến đi vi yêu cu khi kiện của nguyên đơn.
UBND huyện Bình Sơn v người kế thừa quyền, nghĩa vụ t tụng của Ủy
ban nhân dân huyện Bình Sơn l UBND xã Đông Sơn không có ý kiến đi vi yêu
cu khi kiện của nguyên đơn.
6
* Bản án s 21/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
2 - Quảng Ngãi đã xử:
1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L394285, vào sổ số
00089QSDĐ/668/QĐ-UB(H) ngày 19/02/2000 do y ban nhân dân huyện Bình
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho hộ ông Lý Tài Xuân đối với thửa đất số 1055, tờ
bản đồ số 9, xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Đông
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh
chấp về thừa kế tài sản; xác định quyền sử dụng đất thửa đất số 1055, tờ bản đồ
số 9, xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Đông Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi), diện tch đo đạc thực tế 1.622,9m² là di sản thừa kế của cụ Lý Đoạt,
cụ Đinh Thị Nghiêng và cụ Châu Thị Cấn, trong đó di sản của cụ Lý Đoạt là
405,72m², của cụ Đinh Thị Nghiêng là 811,45m², của cụ Châu Thị Cấn là
405,72m² và phân chia thừa kế đối với di sản của cụ Lý Đoạt, cụ Đinh Thị Nghiêng
như sau:
2.1. Bà Lý Thị Đông được quyền sử dụng diện tch đất 332,2m², thuộc
thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 9, xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
(nay là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi); phần diện tch đất này được ký hiệu là
B1 trên sơ đồ địa chính thửa đất kèm theo bản án.
2.2. Bà Lý Thị Hải, bà Lý Thị Ph và ông Lý Tài Thiện được quyền sử
dụng diện tch đất 502,1m
2
thuộc thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 9, xã Bình Hiệp,
huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi); phần
diện tch đất này được ký hiệu là B2 trên sơ đồ địa chính thửa đất kèm theo bản
án.
2.3. Ông Lý Tài Xuân được quyền sử dụng diện tch đất 332,2m², thuộc
thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 9, xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
(nay là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi); phần diện tch đất này được ký hiệu là
B3 trên sơ đồ địa chính thửa đất kèm theo bản án.
3. Buộc ông Lý Tài Xuân, ông Lý Tài Đức dỡ dọn toàn bộ tài sản gắn liền
với phần đất đã chia cho các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải và Lý Tài
Thiện như đã nêu trên.
4. Đnh chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
yêu cầu chia di sản của cụ Châu Thị Cấn thuộc thửa đất số 1055, tờ bản đồ số 9,
xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi); không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia
di sản thừa kế của cụ Lý Đoạt đối với diện tch đất 405,72m² (nguyên đơn yêu cầu
chia đối với diện tích 811,45m² nhưng chỉ được chấp nhận chia diện tích 405,72m²
7
như đã nêu trên và không chấp nhận chia đối với diện tích 405,72m²) thuộc thửa
đất số 1055, tờ bản đồ số 9, xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay
là xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền
thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
2. Kháng cáo:
- Ngày 02/10/2025, ông Lý Tài Đức kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề
nghị tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Lý do: bản án sơ thẩm vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không xem xt đánh giá chứng cứ một cách khách
quan, đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ Đoạt nhưng Tòa án vẫn chia di
sản là sai pháp luật, cụ Nghiêng chết trước Nghị định 64-CP nên không có đất
nông nghiệp. Tòa án buộc ông tháo dỡ tài sản trên đất là gây thiệt hại cho ông, vì
ông được cha là ông Lý Tài Xuân giao quản lý, sử dụng trồng cây từ năm 2021,
do đó các bên phải thanh toán lại giá trị tài sản và cây trồng trên đất cho ông.
- Ngày 08/10/2025, chị Nguyễn Thị Như Hunh (là người đại diện theo
ủy quyền của ông Lý Tài Xuân) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tòa án
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm. Lý do: Hồ sơ gốc của thửa đất không còn
nhưng cấp sơ thẩm vẫn căn cứ Công văn số 323/UBND ngày 28/8/2023 của
UBND xã Bình Hiệp xác định thửa đất 1055 không được cân đối theo Nghị định
64-CP là không có căn cứ; đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ Đoạt nhưng
Tòa án vẫn chia di sản là sai pháp luật, cụ Nghiêng chết trước Nghị định 64-CP
nên không có đất nông nghiệp.
- Ngày 09/10/2025, ông Lý Tài T, bà Lý Thị Ph, bà Lý Thị Hải kháng cáo,
đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
+ Chia tài sản chung của cụ Lý Đoạt, cụ Đinh Thị Nghiêng để lại là thửa
đất số 1055, tờ bản đồ số 09, diên tích 1.500m² (nay là thửa đất 137, tờ bản đồ số
24, diện tích thực tế là 1622.9m²) tại xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thành 02
phần bằng nhau, mỗi phần gồm diện tích 811,45m² đất (1622.9m²: 2).
+ Cụ Lý Đoạt và cụ Châu Thị Cấn, cụ Đinh Thị Nghiêng sống chung nên
cụ Đoạt, cụ Cấn, cụ Nghiêng được sở hữu chung như nhau về tài sản tương ứng
270,48m²/1 người (811,45m²: 3).
+ Chia di sản của cụ Lý Đoạt để lại cho hàng thừa kế thứ nhất gồm các
ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài T, Lý Tài X, bà Châu Thị Cẩn
và Đinh Thị Nghiêng thành 08 kỷ phần bằng nhau, mỗi kỷ phần gồm 33,81m² đất
(270,48m²: 8). Mỗi đồng thừa kế của cụ Lý Đoạt được hưởng 01 kỷ phần ngang
nhau là 33,81m². Riêng bà Lý Thị Đông là người có công gìn giữ, quản lý di sản
của cụ Lý Đoạt nên đề nghị chia cho bà Đông được nhận thêm 01 kỷ phần.
+ Chia di sản của cụ Đinh Thị Nghiêng để lại gồm: 811,45m²; 270,48m²
cụ Nghiêng được hưởng chung với cụ Đoạt và 33,81m² kỷ phần cụ Đinh Thị

8
Nghiêng được hưởng thừa kế của cụ Lý Đoạt được chia cho hàng thừa kế thứ nhất
thành 4 kỷ phần cho 3 người con là các ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải,
mỗi kỷ phần gồm 278,935m² đất (811,45m²+ 270,48+33.81): 4). Riêng bà Lý Thị
Đ, là người có công gìn giữ, quản lý di sản của bà Đinh Thị Nghiêng nên đề nghị
chia cho bà Đông được nhận thêm 01 kỷ phần.
+ Đối với kỷ phần là di sản của bà Châu Thị Cấn gồm 304,29m² đất
(270,48m²+ 33,81) đã hết thời hiệu chia di sản nên đề nghị không chia đối với
phần di sản của cụ Cấn. Hiện nay bà Lý Thị Đông và ông Lý Tài Xuân cùng quản
lý, sử dụng nên đề nghị giao cho bà Lý Thị Đông và ông Lý Tài Xuân quản lý, sử
dụng phần di sản của cụ Châu Thị Cấn.
3. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
3.1 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đng theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của các đương sự đng quy định tại Điều
271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn, chủ thể và nội dung kháng cáo,
nên được cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm
theo hướng công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.
3.2 Các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án và
đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hi đồng xét
xử nhận định:
[1] Ngày 29/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi xét xử vụ
án nêu trên. Ông Lý Tài Đức, chị Nguyễn Thị Như Hunh, ông Lý Tài T, bà Lý
Thị Ph, bà Lý Thị Hải có đơn kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại khoản 1
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Những người có quyền và ngha vụ liên quan là: Ông Lý Tài T,, bà
Nguyễn Thị T, anh Lý Tài L, bà Lý Thị H, anh Nguyễn Lý Đ, bà Lý Thị Ph, bà
Nguyễn Thị Tình, bà Lý Thị Nga, bà Phạm Thị Mỹ Trang, anh Lý Tài Quang, anh
Lý Tài Quyền, Chủ tịch y ban nhân dân xã Đông Sơn đã được Tòa án triệu tập
9
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận. Xét thấy sự thỏa
thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không
trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
như sau:
[3.1] Các ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài X, Lý Tài
Thiện thống nhất về người thừa kế của các cụ Lý Đoạt, Đinh Thị Nghiêng và Châu
Thị Cấn gồm: bà Lý Thị Đ, bà Lý Thị Ph, bà Lý Thị Hải, ông Lý Tài Xuân và ông
Lý Tài T, ngoài ra không còn người nào khác.
[3.2] Các ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài X, Lý Tài
Thiện thống nhất xác định thửa đất số 1055 tờ bản đồ số 9 (nay là thửa đất số 137,
tờ bản đồ số 24 đo vẽ năm 2023) tại xã Bình Hiệp, huyện Bnh Sơn (nay là xã
Đông Sơn), tỉnh Quảng Ngãi, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
1.550m², được y ban nhân dân huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số L394285, vào sổ số 00089QSDĐ/668/QĐ-
UB(H) ngày 19/02/2000 cho hộ ông Lý Tài X, diện tch đo thực tế là 1.738,8m
2
,
trong đó:
Phần đất là lối đi có diện tích 65,0m
2
và phần đất mồ mả có diện tích
50,9m
2
không có tranh chấp (Có ký hiệu A v C trong sơ đồ kèm theo bản án).
Phần đất có diện tích 1.622,9m
2
là di sản thừa kế của các cụ Lý Đoạt, Đinh
Thị Nghiêng và Châu Thị Cấn (Có ký hiệu B trong sơ đồ kèm theo bản án).
[3.3] Các ông bà là bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài X, Lý Tài
Thiện thống nhất chia diện tích 1.622,9m
2
thuộc thửa đất số 1055 tờ bản đồ số 9
(nay là thửa đất số 137, tờ bản đồ số 24 đo vẽ năm 2023) tại xã Bình Hiệp, huyện
Bnh Sơn (nay là xã Đông Sơn), tỉnh Quảng Ngãi là di sản thừa kế của các cụ Lý
Đoạt, Đinh Thị Nghiêng và Châu Thị Cấn như sau:
Các ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện được chia
chung phần đất có diện tích 1.080,1m
2
trong đó đất thổ cư 100m
2
, đất vườn
980,1m
2
, được ký hiệu [B1 = 1.080,1m
2
] trong sơ đồ kèm theo bản án, có độ dài
các cạnh và giới cận thể hiện trên sơ đồ kèm theo bản án.
Ông Lý Tài Xuân được chia phần đất có diện tích 542,8m
2
, trong đó đất
thổ cư 100m
2
, đất vườn 442,8m
2
được ký hiệu [B2 = 542,8m
2
] trong sơ đồ kèm
theo bản án, có độ dài các cạnh và giới cận thể hiện trên sơ đồ kèm theo bản án.
(Sơ đồ kèm theo bản án là một bộ phận không tách rời bản án).
[3.4] Anh Lý Tài Đức được tiếp tục khai thác cây trồng, sử dụng hàng rào
trụ bê tông, ko lưới B40 và các tài sản khác gắn liền trên diện tch đất 1.080,1m
2
10
chia cho các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện cho đến hết
ngày 31/12/2026. Từ ngày 01/01/2027, anh Lý Tài Đức phải tháo dỡ hàng rào trụ
bê tông, ko lưới B40, thu dọn cây trồng và các tài sản gắn liền trên diện tch đất
này để trả đất cho các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện.
[3.5] Tổng chi phí xem xét, thẩm định và thẩm định giá tài sản là
18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng). Các đồng nguyên đơn là các ông bà Lý
Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Các ông, bà Lý Thị Đ, bà Lý Thị H, Lý Thị Ph Lý Tài Xuân, Lý Tài Thiện
là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí là phù
hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Ông Lý Tài Đức không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu
300.000 (ba trăm nghn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền
tạm ứng án ph đã nộp, theo biên lai số 2487 ngày 21/11/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12,
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm
số 21/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
1. Xác định 1.622,9m
2
đất theo đo đạc thực tế
thuộc thửa đất số 1055 tờ
bản đồ số 9 (nay là thửa đất số 137, tờ bản đồ số 24 đo vẽ năm 2003) tại xã Bình
Hiệp, huyện Bnh Sơn (nay là xã Đông Sơn), tỉnh Quảng Ngãi đã được y ban
nhân dân huyện Bnh Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số L394285, vào sổ số 00089QSDĐ/668/QĐ-UB(H) ngày 19/02/2000 cho hộ
ông Lý Tài Xuân là di sản thừa kế của các cụ Lý Đoạt, cụ Đinh Thị Nghiêng và
cụ Châu Thị Cấn.
2. Chia chung cho các ông, bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài
Thiện phần đất có diện tích 1.080,1m
2
, trong đó diện tích đất thổ cư ONT=100m
2
,
11
diện tích đất vườn BHK= 980,1m
2
, được ký hiệu [B1 = 1.080,1m
2
] (trong sơ đồ
kèm theo bản án), có độ dài các cạnh và giới cận thể hiện trên sơ đồ kèm theo bản
án.
Chia cho ông Lý Tài Xuân phần đất có diện tích 542,8m
2
, trong đó diện
tích đất thổ cư ONT=100m
2
, diện tích đất vườn BHK= 442,8m
2
được ký hiệu [B2
= 542,8m
2
] (trong sơ đồ kèm theo bản án), có độ dài các cạnh và giới cận thể hiện
trên sơ đồ kèm theo bản án.
(Sơ đồ kèm theo bản án là mt b phận không tách rời bản án).
Các ông bà Lý Tài X, Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải. Lý Tài Thiện có
ngha vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Anh Lý Tài Đức được tiếp tục khai thác cây trồng, sử dụng hàng rào trụ
bê tông ko lưới B40 và các tài sản khác gắn liền trên diện tch đất 1.080,1m
2
chia
cho các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện cho đến hết ngày
31/12/2026. Từ ngày 01/01/2027, anh Lý Tài Đức phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào
trụ bê tông ko lưới B40, thu dọn cây trồng và các tài sản gắn liền trên diện tích
đất này để trả đất cho các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị Hải, Lý Tài Thiện.
4. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là
18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng). Các ông bà Lý Thị Đ, Lý Thị Ph, Lý Thị
Hải, Lý Tài Thiện tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
5. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho các ông, bà Lý
Thị Đ, bà Lý Thị H, Lý Thị Ph Lý Tài Xuân, Lý Tài Thiện.
Ông Lý Tài Đức không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu
300.000 (ba trăm nghn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền
tạm ứng án ph đã nộp, theo biên lai số 2487 ngày 21/11/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Ông Lý Tài Đức đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 2 – Quảng Ngãi;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
- Lưu hồ sơ vụ án; Tổ HC-TP.
Vũ Văn Thuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 18/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Bản án số 917/2026/DS-PT ngày 11/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm