Bản án số 213/2026/KDTM-PT ngày 01/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xây dựng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/KDTM-PT ngày 01/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xây dựng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xây dựng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 213/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH H CHÍ MINH
Bn án s: 213/2026/KDTM-PT
Ngày: 01/6/2026
V/v tranh chp hợp đng thi công
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH H CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên toà: Bà Phùng Th Như Mai
Các Thm phán: Bà Trương Thị Qunh Trâm
Bà Mai Th Thanh Tú
- Thư phiên tòa: Phan Th Thu Hin Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân Thành ph H Chí Minh.
- Đại din Vin kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh tham gia
phiên tòa: Nguyn Th Thanh Phương - Kim sát viên.
Ngày 02/4/2026 ngày 01/6/2026, ti tr s Tòa án nhân dân Thành ph
H Chí Minh xét x phúc thm công khai v án kinh doanh thương mi th
s: 37/2026/TLPT-KDTM ngày 13 tháng 01 năm 2026 về: “Tranh chấp hp
đồng thi công xây dng
Do Bn án kinh doanh thương mại thẩm s 118/2025/KDTM-ST ngày
24/9/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 7 b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x s 886/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 02
năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa s 3466/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 3
năm 2026; Quyết định đưa vụ án ra xét x s 3084/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 5
năm 2026 Quyết đnh hoãn phiên tòa s 7400/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 5
năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T.
Địa chỉ trụ sở chính: Tổ 8, ấp 2, xã L, huyện N (nay N), tỉnh Đồng
Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông C chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Ông D và ông Q.
(Giấy ủy quyền số: 01/2024/UQ-T ngày 04/4/2024)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật V1 luật V2 thuộc
đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.
( Ông Q và luật V1 có mặt, ông D, luật V2 vắng mặt)
- Bị đơn: Công ty TNHH H.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 107/33/14A đường A, Phường B, quận C (nay
phường M), Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Người đại diện theo pháp luật: Bà H Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện ủy quyền: Ông T ông Q
(Giấy uỷ quyền số: 01/GUQ 2026, lập ngày 31/3/2026)
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp: Luật R thuộc Đoàn luật sư
Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông T, ông Q, luật sư R có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần P.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 595 ấp B, xã H, huyện N, tỉnh M (nay là xã G, tỉnh
Tây Ninh)
Người đại diện hợp pháp: Ông Y.
(Giấy ủy quyền số: 0704/2021/P ngày 07/4/2021)
(Ông Y mặt tại phiên tòa ngày 02/4/2026, vắng mặt tại phiên tòa ngày
01/6/2026).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2020, trong qtrình giải quyết vụ
án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình
bày:
- Về quá trình ký kết và nội dung chính của hợp đồng:
Công ty TNHH H (gọi tắt Công ty H) đơn vị nhận thầu từ chủ thầu
Công ty cổ phần P (gọi tắt công ty P) hạng mục thi công khung kèo thép tại
công trình sân bay Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Trên sở hợp đồng nhận thầu
trên, ngày 30/5/2017, công ty H Công ty TNHH một thành viên T (gọi tắt
công ty T) kết hợp đồng giao khoán số 300517/HĐLĐ/H T (gọi tắt hợp
đồng ngày 30/5/2017) với nội dung chính như sau: Công ty H giao cho công ty
T thi công những hạng mục công trình bị đơn đã nhận thầu tchủ thầu công ty
P, gồm: Khung kèo thép Zone 1 +3 + Airlock.
Tổng giá trị hợp đồng là 4.350.911.000 đồng, thời hạn thi công dự kiến 15
ngày kể từ ngày lệnh khởi công, phát sinh tăng, phát sinh giảm trong quá
trình thi công được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Sau khi hợp đồng ngày 30/5/2017, bị đơn đã thanh toán 1.909.431.667
đồng. Nguyên đơn đơn vị thi công duy nhất thực hiện toàn bộ các hạng mục
công trình công ty H đã nhận thầu.
Nguyên đơn nhận bàn giao mặt bằng bắt đầu thi công từ ngày
16/6/2017. Trong quá trình thi công, do đơn vị thi công khác là công ty N không
kịp hoàn thành tiến độ. Vì vậy, chủ thầu giao thêm phần việc của công ty N cho
bị đơn thi công bị đơn giao cho nguyên đơn thực hiện phần công việc phát
sinh này. Ngày 15/8/2018, công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, chủ thầu đã
lập bảng theo dõi khối lượng thực hiện xác nhận toàn bộ giá trị khối lượng thi
3
công bao gồm cả khối lượng phát sinh tăng, giảm của công ty H. Căn cứ vào
bảng theo dõi khối lượng thực hiện ngày 15/5/2018 do chủ thầu P lập, nguyên
đơn lập Bảng quyết toán giá trị thi công ngày 15/5/2018 gửi bị đơn xác định:
tổng giá trị khối lượng thi công (bao gồm phát sinh tăng: 707.584.265 đồng,
giảm: 668.802.900 đồng) nguyên đơn đã thực hiện là: 4.169.576.383 đồng. Bị
đơn trách nhiệm thanh toán tiền thi công còn lại là: 4.169.576.383 đồng -
1.909.431.667 đồng = 2.260.144.716 đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị
đơn thực hiện việc quyết toán thanh hợp đồng nhưng bị đơn c tình tránh
né để không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải trả:
- Số tiền phát sinh từ hợp đồng giao khoán ngày 30/5/2017 2.260.144.716
đồng.
- Tiền lãi chậm thanh toán căn cứ vào mức lãi suất quy định tại Điều 306
Luật thương mại năm 2015, tạm tính đến ngày 15/9/2020 là: 2.260.144.716 đồng
x 15%/năm x 25 tháng (từ ngày 15/8/2018 đến 15/9/2020) = 706.295.223 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
- Về quá trình ký kết và nội dung chính của hợp đồng:
Bị đơn đơn vị nhận thầu từ chủ thầu công ty P hạng phục thi công
khung kèo thép tại công trình sân bay Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bị đơn thống
nhất với phần trình bày của nguyên đơn về quá trình hai bên kết hợp đồng
giao khoán số 300517/HĐLĐ/H T ngày 30/5/2017.
- Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Sau khi hợp đồng ngày 30/5/2017, bị đơn đã thanh toán 1.909.431.667
đồng.
Nguyên đơn nhận bàn giao mặt bằng bắt đầu thi công từ ngày
16/6/2017. Trong quá trình thi công, nguyên đơn thực hiện chậm tiến độ đến
tháng 3/2018 việc thi công mới được hoàn thành. Do thi công chậm tiến độ nên
nguyên đơn phải chịu phạt chậm thi công theo quy định của hợp đồng phải
bồi thường chi phí nhân công của bị đơn cử người giám sát trong thời gian chậm
tiến độ. Ngoài ra, nguyên đơn vi phạm an toàn lao động nên chủ thầu phạt vi
phạm an toàn lao động 26.600.000 đồng. Trong thời gian thi công, bị đơn không
văn bản nào yêu cầu nguyên đơn thực hiện phần phát sinh tăng hay phát sinh
giảm. Căn cứ quy định tại Điều V của hợp đồng: “phát sinh tăng giảm công
việc do bên A yêu cầu bên B thực hiện thi công”. vậy, bđơn xác định
không phần giá trị phát sinh, tăng giảm như nguyên đơn trình bày. Mặc dù,
tháng 3/2018 công trình hoàn thành nhưng việc bàn giao chỉ thực hiện trên thực
tế không biên bản nghiệm thu công trình. Toàn bộ công trình Cảng hàng
không sân bay Cam Ranh đã được đưa o sử dụng từ năm 2019. Căn cứ Điều
IV của hợp đồng đã quy định hồ quyết toán, tuy nhiên nguyên đơn không
thực hiện đầy đủ. Do vậy, nghĩa vthanh toán chưa phát sinh nên bị đơn không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Đối với bảng theo dõi khối lượng
thực hiện ngày 15/5/2018 do chủ thầu lập: Đây văn bản theo dõi khối lượng
4
thi công, không phải biên bản quyết toán khối lượng. Hơn nữa văn bản này
chỉ theo dõi khối lượng giữa chủ thầu bị đơn, không phải văn bản theo dõi
khối lượng thi công của nguyên đơn. Đến nay, giữa bđơn chủ thầu chưa
thực hiện xong việc quyết toán và nghiệm thu công trình.
Tại văn bản trình ý kiến ngày 30/11/2020 và các biên bản khác làm việc tại
tòa, bđơn trình bày yêu cầu nguyên đơn cấn trừ các khoản: Chi phí lương
nhân viên quản phát sinh từ tháng 7/2017 đến 3/2018, thiệt hại 10% lợi
nhuận, giá trị công việc bị cắt giảm, tiền phạt vi phạm an toàn lao động, tiền
phạt do thi công chậm tiến độ. Bị đơn xác định đây chỉ ý kiến, không phải
yêu cầu phản tố. Trong trường hợp cần thiết, bị đơn sẽ khởi kiện sau để bảo vệ
quyền lợi của mình.
Ngưi đi din hợp pháp ca ngưi có quyền lợi, nga vụ ln quan trình
bày:
Công ty P thống nhất với phần trình bày của bị đơn về việc kết hợp
đồng giao khoán lắp dựng công trình. Đến nay, hai bên đã nghiệm thu đưa vào
sử dụng thanh hợp đồng. Trong đó thỏa thuận vviệc giảm trừ giá trị
hợp đồng là 820.990.801 đồng. Căn cứ vào hợp đồng kết giữa hai bên các
văn bản liên quan, hai bên không phát sinh bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến
hợp đồng. Công ty P xác định không yêu cầu tranh chấp trong vụ án
này.
Tại bản án sơ thẩm số 129/2023/KDTM-ST, ngày 15/12/2023 của Toà án
nhân dân quận Gò Vấp nay là Toà án nhân dân khu vực 7 Quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ng ty TNHH một
thành viên T: Buộc bđơn Công ty TNHH H phải thanh toán tiền thi công phát
sinh thợp đồng giao khoán lắp dựng ng trình số 300517/HĐLD/H-T ngày
30/05/2017 là: 1.982.669.717 đồng (Bằng chữ: Một tỷ chín trăm tám mươi hai
triệu sáu trăm sáu ơi chín nghìn bảy trăm mười bảy đồng) và tiền lãi chậm
thanh toán: 198.266.972 đồng (Bng ch: Một trăm chín mươi tám triu hai
trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi hai đng), tng cng là:
2.180.936.689 đng (Bng ch: Hai t một trăm tám mươi triệu chín trăm ba
mươi sáu nghìn sáu trăm támơi chín đng).
2. Không chấp một phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH một
thành viên T vviệc yêu Công ty TNHH H thanh toán tiền lãi chậm thanh toán
là: 1.363.085.401 đồng (1.561.352.373 đồng - 198.266.972 đồng) (Bằng chữ:
Một tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm lẻ
một đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại bản án phúc thẩm số 196/2024/KDTM - PT, ngày 08/8/2024 của Toà
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:
- Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 129/2023/KDTM-ST ngày
15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Vấp, Thành phố Hồ Chí
5
Minh. Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân quận Vấp, Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 118/2025KDTM-ST ngày
24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 đã tuyên như sau:
1. Chp nhn yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV T đối với Công
ty TNHH H:
Buc Công ty TNHH H phải trả Công ty TNHH MTV T số tiền
1.776.588.817 (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm bảy mươi sáu ngàn năm trăm tám
mươi tám triệu tám trăm mười bảy) đồng 644.013.446 (Bằng chữ: Sáu trăm
bốn mươi bốn triệu không trăm mười ba ngàn bốn trăm bốn mươi sáu) đồng tiền
lãi chậm thanh toán ngay sau khi án có hiu lc pháp lut.
Công ty TNHH H tiếp tục chịu tiền lãi chậm thanh toán cho đến khi thanh
toán xong khoản nợ gốc này.
Ngi ra, bn án còn tun v án p và quyền kng o của các đương sự.
Ngày 05/10/2025, bị đơn công ty TNHH H kháng cáo toàn bộ Bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Đại diện bị đơn
trình bày: Bị đơn đề xuất hòa giải thanh toán cho nguyên đơn s tiền
1.000.000.000 (một tỷ) đồng trong thời hạn 30 ngày ktừ ngày hòa giải thành.
Nếu nguyên đơn không đồng ý thì bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, từ yêu cầu
sửa bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, bị đơn thay đổi thành đề nghị hủy bản án thẩm các do sau
đây:
Thứ nhất, cấp thẩm đã chưa khắc phục được vi phạm tố tụng theo nhận
định của Hội đồng xét xử phúc thẩm lần 1.
Thứ hai, cấp thẩm đã không thu thập các tài liệu chứng cứ căn cứ để
giải quyết vụ án cụ thể gồm tài liệu xác định khối lượng công việc thực tế các
bên đã thực hiện; đơn giá của hợp đồng cũng như đơn giá của các công việc phát
sinh, các khoản giảm trừ nguyên đơn phải trả cho bị đơn khi thanh lý hợp đồng.
Theo H, nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ này thuộc về nguyên đơn người
yêu cầu.
Thứ ba, cấp thẩm đã vi phạm tố tụng khi không xem xét các tài liệu
chứng cứ do bị đơn cung cấp về các chi pbị đơn phải thanh toán cho tai
nạn lao động diễn ra trong quá trình nguyên đơn thi công gồm đầy đủ hóa đơn
chứng từ chi trả bệnh viện bảo hiểm; cấp thẩm đã không đưa Chủ đầu
dự án sân bay Cam Ranh vào tham gia tố tụng với tư cách người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan vì hợp đồng có thỏa thuận Chủ đầu tư là một bên ký trong hồ
thanh toán; Bảng Quyết toán do P cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm đã được
nhận định tài liệu này thu thập vi phạm tố tụng nhưng sơ thẩm không khắc phục
mà tiếp tục căn cứ để giải quyết.
6
Thứ tư, cấp thẩm áp dụng pháp luật không đúng, chưa xem xét tính hợp
pháp, hiệu lực của hợp đồng giữa H P, không sở đxác định đã phát
sinh nghĩa vụ thanh toán của bị đơn đối với nguyên đơn theo Điều 4 Hợp đồng
các bên ký kết (nguyên đơn không cung cấp đầy đủ hồ sơ quyết toán), việc hội
đồng xét xử thẩm chdựa vào lời khai của đương sự để xác định công trình
cảng hàng không Cam Ranh đã bàn giao, đưa vào sdụng không đúng quy
định của Luật Xây dựng, mặc bị đơn xác nhận khối lượng phát sinh tăng
giảm nhưng những tài liệu này không đủ sđtính được giá trị thanh toán
của H chưa xác định đơn giá thi công. Hợp đồng giữa HT có ghi nhận các
bên thỏa thuận đơn giá tại phụ lục nhưng thực tế H không phụ lục này, chưa
từng được tiếp cận trong hồ sơ.
Ngoài ra, bị đơn cũng xác nhận các khối lượng thi công tăng hay giảm trừ
đều được phía P trao đổi trực tiếp với ông S là người của công ty H chỉ định làm
Chỉ huy trưởng tại công trường. Ông S sẽ trực tiếp chỉ đạo lại việc tăng hay
giảm khối lượng thi công đối với công ty T tại công trường. Nội dung trao đổi
này thực hiện ngay các bên không bất kỳ phụ lục hợp đồng hay văn bản
nào với nhau. Các khối lượng giảm thì sẽ do các đội khác thực hiện thay, còn
khối lượng thi công tăng đều do công ty T trực tiếp thực hiện.
- Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Đại diện
nguyên đơn trình bày: Các tài liệu chứng cứ Biên bản nghiệm thu bàn giao và
đưa vào sử dụng ngày 08/6/2020, Biên bản thanh Hợp đồng ngày
25/6/2020 và Bảng quyết toán khối lượng công việc ngày 02/6/2020 đều ký giữa
P H đã được chính bị đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm lần 1, tại phiên
tòa sơ thẩm lần 2 phía công ty P tiếp tục cung cấp bản sao các tài liệu này và đều
được các bên xác nhận nội dung. Các ý kiến của bị đơn đề nghị trừ chi phí bảo
hiểm cũng như viện phí cho tai nạn lao động đều không được yêu cầu phản tố
nên không sở để xem xét. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thi công, nguyên
đơn đã nhiều lần trực tiếp tìm gặp bị đơn để đề nghị nghiệm thu, quyết toán
nhưng bị đơn không gặp, gây khó khăn, kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ
thanh toán. Vì bị đơn không chịu gặp và không ký biên bản cho nguyên đơn nên
nguyên đơn đã dùng bảng quyết toán ngày 02/6/2020 giữa công ty P H để
tính khối lượng công việc đã thực hiện giữa H với T. Do H cũng xác nhận toàn
bộ khối lượng công việc giữa công ty P giao cho H đều giao lại cho công ty T
thực hiện. Về đơn giá, các bên đã xác định đơn giá tại phụ lục hợp đồng nên
nguyên đơn căn cứ vào đơn giá này đtính số tiền phải thanh toán trên khối
lượng công việc đã thực hiện theo Bảng quyết toán ngày 02/6/2020. Về tiền lãi
chậm thanh toán, nguyên đơn căn cứ thời điểm xuất hóa đơn cuối cùng cho H
20/4/2023 thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán lãi chậm trả lãi suất
15%/năm trên sở thu thập lãi suất trung bình ba ngân hàng của cấp thẩm
lần thứ nhất. Nguyên đơn cũng cho biết ngân hàng nguyên đơn mở tài khoản
nhận thanh toán tại thời điểm ký kết hợp đồng là V chi nhánh Nhơn Trạch.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Công ty P giữ nguyên ý
kiến công ty P chhợp đồng với công ty H, các bên đã biên bản nghiệm
thu bàn giao đưa vào sử dụng ngày 08/6/2020, Bản thanh hợp đồng ngày
7
25/6/2020 bảng Quyết toán khối lượng công việc ngày 02/6/2020. Toàn bộ
công trình đã được đưa vào sử dụng. Công ty P đã thanh lý hợp đồng với công ty
H, thanh toán toàn bộ theo quyết toán. Các bên không còn quyền nghĩa vụ
liên quan đến nhau. Cũng như việc công ty P hợp đồng nhận thầu với chủ đầu
dự án sân bay Cam Ranh không liên quan đến vụ án này, không đồng ý với ý
kiến của bị đơn đưa chủ đầu tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm lần 1, P đã cung cấp
toàn bộ 3 tài liệu chứng cứ nêu trên sau đó đã gửi một bộ tài liệu tương tự có
đóng dấu treo của công ty cho tòa án phúc thẩm bằng đường bưu điện. P không
tham gia ký kết hợp đồng giữa H T nhưng P biết việc H giao lại công việc
nhận từ P cho T và P không phản đối thỏa thuận này. P cũng xác định chủ đầu tư
của dự án nhân nên việc giao thầu lại không vi phạm quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, P cũng khẳng định kết hợp đồng với H trên sở giao lắp đặt,
không phải là thầu phụ. Thực tế toàn bộ công trình do P nhận thầu tại sân bay
Cam Ranh đã hoàn công, đưa vào sdụng không bất kỳ tranh chấp nào
xảy ra. P vẫn lưu trữ các hồ thi công cũng như hồ quyết toán hoàn công
với chủ đầu nhưng xét thấy không liên quan đến vụ án do bí mật kinh
doanh giữa các bên nên P không cung cấp trong vụ án này.
Đại diện Vin kiểm sát nhân n Thành phHồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án
quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng
thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện
kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay,
phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hợp đồng các bên thỏa thuận hình thức hợp đồng giao khoán, nhưng
nội dung giao khoán nhằm thực hiện thi công xây dựng. Do đó, bản chất của hợp
đồng là hợp đồng thi công xây dựng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3
Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015. Các bên thỏa thuận tổng giá trị hợp
đồng (đã bao gồm 10% thuế VAT) 4.350.911.356 đồng. Hợp đồng được
kết trên sở tự nguyện, phợp quy định tại Điều 138 Luật Xây dựng 2014
nên có hiệu lực pháp luật.
- Vyêu cầu bị đơn thanh toán số tiền phát sinh từ hợp đồng giao khoán
ngày 30/5/2017 là 1.776.588.817 đồng:
Theo như trình bày ca Công ty P tại văn bản trình bày ý kiến ngày
25/3/2025, ni dung khối lượng công việc Nguyên đơn đã thc hin theo
bảng theo dõi khối lượng thực hiện thật, được Công ty P tha nhận căn
c vào đó để thc hin quyết toán vi B đơn. Toàn bộ đầu mục công việc trong
bảng theo dõi khối lượng thực hiện hoàn toàn khớp với công tác trong bảng
quyết toán ngày 02/6/2020 giữa Công ty P và Công ty H. Trong năm 2020, hai
bên đã xác nhận 2 tài liệu này để thanh hợp đồng. Do đó, căn cứ khon 2
8
Điu 92 B lut T tng dân s 2015, bảng theo dõi khối lượng thực hiện đưc
xem là chng cứ, là cơ sở xác định khối lượng công việc mà nguyên đơn đã thực
hiện được.
Căn cứ biên bản phiên toà thẩm ghi nhận Bị đơn thừa nhận sau khi
nhận công trình từ chủ thầu (Công ty P), ngoài Nguyên đơn thì Bị đơn không
giao khoán cho đơn vị nào khác. Do đó, căn cứ để xác định khối lượng công
việc Nguyên đơn đã thực hiện chính khối lượng công việc chủ thầu
giao cho Bị đơn, trong đó có khối lượng thi công, phát sinh tăng, giảm theo bảng
theo dõi khối lượng thực hiện và bảng quyết toán nêu trên.
Nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận
công trình đã được bàn giao trên thực tế từ tháng 5/2018 được đưa vào sử
dụng từ năm 2019, thanh hợp đồng vào năm 2020. Mặc các bên chưa lập
biên bản nghiệm thu và chưa quyết toán giá trị thi công, nhưng trong quá trình
thực hiện hợp đồng cũng như trong thời gian bảo hành (12 tháng kể từ khi
nghiệm thu bàn giao công trình), không phát sinh khiếu nại, tranh chấp v
khối lượng chất lượng thi công. bị đơn cũng không chứng minh được các
hạng mục do nguyên đơn thi công không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn
xây dựng hoặc yêu cầu thiết kế để làm căn cứ từ chối nghiệm thu theo điểm b, c
khoản 2 Điều 122 Luật Xây dựng 2014. Do đó, có cơ sở xác định nguyên đơn đã
hoàn thành các công việc theo hợp đồng bị đơn nghĩa vụ thanh toán các
khoản tiền còn thiếu theo Điều 147 Luật Xây dựng 2014 khoản 11 Điều 19
Nghị định 37/2015/NĐ-CP.
Tuy nhiên, đến nay bị đơn không hợp tác trong việc quyết toán, mặc dù đã
nhận đủ tiền từ chủ thầu từ năm 2020 nhưng vẫn thoãn việc thanh toán cho
nguyên đơn, vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Căn cứ bảng quyết toán giá trị công trình của nguyên đơn ngày 22/9/2025
(bao gồm khối lượng thi công khối lượng phát sinh tăng, giảm dựa trên bảng
theo dõi khối lượng thực hiện do Công ty P cung cấp), đsở chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu
1.776.588.817 đồng nên cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
cơ sở.
- Về yêu cầu tính lãi chậm thanh toán:
Cấp thẩm căn cứ Điều 306 Luật thương mại 2005 để tính lãi chậm
thanh toán chưa chính xác quan hệ tranh chấp liên quan đến lĩnh vực xây
dựng thì áp dụng Luật Xây dựng để giải quyết.
Theo Công văn số 229 ngày 18/5/2026 của Ngân hàng TMCP V chi
nhánh Nhơn Trạch nơi nguyên đơn mở tài khoản thanh toán thì mức lãi suất q
hạn của Ngân hàng từ thời điểm 20/4/2023 đến ngày 17/5/2026 không vượt
quá 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất
15%/năm, yêu cầu này có lợi cho bị đơn nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này
của nguyên đơn là có cơ sở.
9
Tuy nhiên về phần tuyên của bản án thẩm của mục thi hành án thì cấp
thẩm tuyên thiếu phần thi hành án do đó cần bổ sung. Đề nghị Hội đồng xét
xcăn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo ca bị đơn nhưng điều chỉnh lại Bản án thẩm s
118/2025/KDTM-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành
phố Hồ Chí Minh theo phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong qtrình
giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 24/9/2025, Toà án nhân dân
Khu vực 7 ban hành Bản án số 118/2025/KDTM-ST. Bị đơn có mặt tại phiên tòa
thẩm. Ngày 05/10/2025, bị đơn đơn kháng cáo. Căn cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Ttụng dân sự 2015 thì kháng cáo của bị đơn còn
trong thời hạn nên chấp nhận.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn công ty TNH MTV T khởi kiện tranh chấp hợp đồng thi
công xây dựng đối với bị đơn công ty TNHH H, địa chỉ phường M, Thành
phố HChí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự, ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Do kháng cáo đối với Bản án sơ
thẩm nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân
dân Thành ph Hồ C Minh thẩm quyền giải quyết vụ án theo thtục pc
thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo: Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Hội
đồng xét xử xét thấy như sau:
(3.1) Xét hợp đồng giao khoán lắp dựng công trình số 300517/HĐLD/H-T
ngày 30/5/2017:
Hợp đồng giao khoán lắp dựng công trình số 300517/HĐLD/H-T ngày
30/5/2017 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng hoặc Hợp đồng 30517) giữa công ty
TNHH H (công ty H) công ty TNHH MTV T (công ty T). Nội dung công
việc được các bên thỏa thuận tại Điều 1 của Hợp đồng: Bên A giao cho bên B
thi công lắp dựng, hoàn thiện hoàn chỉnh công trình nhà thép tại Sân bay Cam
Ranh. ng ty T hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp số
3602786178 đăng lần đầu ngày 30/3/2012. Công ty H hoạt động theo Giấy
chứng nhận đăng doanh nghiệp số 0312907555 đăng lần đầu ngày
28/8/2014. Hợp đồng các bên ký kết nêu trên hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với
giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp, người tham gia kết đúng thẩm
quyền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn - công ty H cho rằng Hợp đồng 30517 vô
hiệu do nhà thầu chính P khi ký hợp đồng giao thầu cho nhà thầu phụ là bị đơn
10
công ty H phải sự đồng ý từ chủ đầu tư. Hội đồng xét xử xét ý kiến này như
sau: Tại văn bản số 229/CRTC-TKPC ngày 04/5/2026, công ty Cổ phần nhà ga
Quốc tế Cam Ranh xác định dự án Nhà ga quốc tế Cam Ranh do Công ty cổ
phần Nhà ga quốc tế Cam Ranh chủ đầu tư. Công ty cổ phần Nhà ga quốc tế
Cam Ranh không sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ
30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu của
dự án. ng ty H không phải nhà thầu phụ của dự án. Tại Bản ý kiến ngày
10/4/2026, công ty Cổ phần P (sau đây gọi tắt công ty P) trình bày: công ty H
không phải nhà thầu phụ trong dự án nêu trên. Công ty H chỉ đóng vai trò
đội lắp đặt được công ty P giao khoán thực hiện thi công, lắp dựng một hạng
mục công việc cụ thể theo Hợp đồng giao khoán lắp dựng công trình số 34-
17/HĐLD-PTC ngày 28/4/2017 (Sau đây gọi tắt là Hợp đồng giao khoán số 34-
17). Bên cạnh đó, công ty P cũng trình bày tại phiên tòa về việc công ty P biết
và không phản đối việc công ty H thuê lại công ty T thực hiện toàn bộ phần việc
trong Hợp đồng giao khoán số 34-17. Vì vậy, Hợp đồng số 300517 không thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu số 43/2019/QH13 được sửa đổi, bổ sung
theo Luật số 03/2016/QH14. Ý kiến của bị đơn, công ty H cho rằng hợp đồng
300517 vô hiệu là không có căn cứ.
Như đã phân tích, Hợp đồng 300517 được kết hoàn toàn tự nguyện,
nội dung chủ thể giao kết phợp với quy định tại Điều 138, 139 Luật xây
dựng năm 2014. Căn cứ khoản 2 Điều 139 Luật Xây dựng năm 2014 Hợp đồng
300517 căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm ký kết
ngày 30/5/2017.
(3.2) Xét ý kiến của bị đơn đề nghị hủy Bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ
thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng khi triệu tập thiếu người tham gia tố tụng,
không đưa công ty Cổ phần nhà ga Quốc tế Cam Ranh vào tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử xét thấy: N
đã nhận định trên, căn cứ văn bản số 229/CRTC-TKPC ngày 04/5/2026, công
ty Cổ phần nhà ga Quốc tế Cam Ranh xác định công ty H không phải là nhà thầu
phụ của dự án. Bị đơn cho rằng giữa bị đơn và nguyên đơn thỏa thuận Chủ
đầu một bên trong hồ thanh toán thỏa thuận giữa hai bên, không
được chủ đầu cùng ký kết cũng không được chủ đầu xác nhận tại công văn
đã viện dẫn, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ nào của công ty Cổ phần nhà
ga Quốc tế Cam Ranh. Việc tranh chấp giữa công ty H công ty T. Cấp
thẩm chỉ thiếu sót khi không xác minh thông tin tại công ty Cổ phần nga
Quốc tế Cam Ranh những nội dung cần làm về nguồn vốn chủ đầu tư, danh
sách thầu phụ, thời điểm công trình thi công được đưa vào khai thác sử dụng.
Nội dung này đã được cấp phúc thẩm bổ sung, không cần thiết đưa công ty Cổ
phần nhà ga Quốc tế Cam Ranh vào tham gia tố tụng trong vụ án này, cũng
không có cơ sở để hủy án sơ thẩm với lý do này theo ý kiến của bị đơn.
(3.3) Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh
toán tiền thi công xây dựng được cấp sơ thẩm chấp nhận:
Căn cứ Hợp đồng 300517, công ty T thi công lắp dựng, hoàn thiện công
trình nthép Sân bay Cam Ranh cho bên giao khoán là công ty H. Hội đồng
11
xét xử xem xét khối lượng công ty T đã thực hiện cho công ty H như sau:
Tại Bản ý kiến ngày 25/3/2025 của ông Y, đại diện công ty P trình bày có
nội dung thể hiện ngày 28/4/2017, công ty P hợp đồng giao khoán lắp dụng
công trình với công ty H. Nội dung công việc gồm thi công lắp dựng, hoàn thiện
nhà thép tại Sân bay Cam Ranh. Công trình đã được nghiệm thu đưa vào sử
dụng. Hợp đồng ngày 28/4/2017 đã được thanh lý. Công ty P cung cấp cho Tòa
án nhân dân quận Vấp (nay Tòa án nhân dân Khu vực 7) Bảng theo dõi
khối lượng thực hiện ngày 15/5/2018 là tài liệu do Giám đốc dự án ký, không có
giấy ủy quyền, chỉ mang tính chất tiếp nhận thông tin để chuyển đến bộ phân
chuyên môn kiểm tra quyết toán khối lượng. Tuy nhiên, toàn bộ công tác
đầu mục công việc thực hiện) trong “Bảng theo dõi khối lượng thực hiện” hoàn
toàn khớp với “công tác” trong “Bảng quyết toán” lập ngày 02/6/2020 (BL1567,
1568, 1569) được giữ đại diện pháp luật của công ty H H đại diện
pháp luật của công ty P là ông C.
Phía nguyên đơn cho rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ thi công và nhiều
lần chuyển giao hồ sơ, yêu cầu bị đơn công ty H nghiệm thu, xác nhận giá trị
quyết toán nhưng bị đơn không hợp tác nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán. Vì
vậy, nguyên đơn căn cứ vào Bảng quyết toán ngày 02/6/2018 nêu trên để làm
căn cứ xác định khối lượng công ty T đã thi công cho công ty H. Hội đồng xét
xử xem xét ý kiến này như sau: Trong hồ tcấp thẩm lần 1 đến phiên tòa
phúc thẩm lần 2, không chỉ nguyên đơn mà cả bị đơn cũng đều xác nhận toàn bộ
phần việc công ty H được nhận từ công ty P giao khoán đều giao lại cho một
mình công ty T thực hiện. Bao gồm cả phần khối lượng giảm và khối lượng phát
sinh tăng. Điều này cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng ông S (bút
lục số 926) do chính công ty H thuê làm giám sát công trình trong thời gian
công ty T thực hiện các khối lượng thi công tại công trình Sân bay Cam Ranh.
Bị đơn cho rằng cấp thẩm không thu thập tài liệu chứng cứ không
đúng như viện dẫn các bút lục trên. Với tài liệu chứng cứ này cùng lời khai của
các đương sự phân tính nêu trên sở để xác định khối lượng công ty T
thi công được tính theo khối lượng thể hiện tại “Bảng quyết toán” lập ngày
02/6/2020 (BL1567, 1568, 1569).
Xét giá trị yêu cầu thanh toán của nguyên đơn:
Công ty T yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền thi công theo khối lượng
“công tác” thể hiện tại “Bảng quyết toán” lập ngày 02/6/2020 với giá trị tính
theo Bảng quyết toán giá trị thi công lập ngày 22/9/2025. Như đã nhận định
trên, do công ty H không thực hiện nghĩa vụ hồ quyết toán với công ty T
nên không tài liệu trực tiếp của các bên. Tuy nhiên, tài liệu gián tiếp hồ sơ
nghiệm thu giữa công ty H công ty P sở để chấp nhận căn cứ
xác định khối lượng công ty T đã thi công cho công ty H. Bảng Quyết toán giá
trị thi công do công ty T lập ngày 22/9/2025 được tính đúng với khối lượng đã
thể hiện trên “Bảng quyết toán” lập ngày 02/6/2020 (BL1567, 1568, 1569).
Công ty H lập luận rằng Hợp đồng 300517 các bên không thỏa thuận cụ thể về
giá nên không có cơ sở để chấp nhận giá do công ty T đưa ra tại Bảng quyết toán
22/9/2025. Hội đồng xét xxét thấy, tại Bảng khối lượng dtoán được kết
12
giữa công ty T công ty H (có chữ con dấu của cả hai pháp nhân) (BL
691) đã thể hiện cụ thể đơn giá của từng hạng mục. Bảng khối lượng này đính
kèm Hợp đồng 300517 phù hợp thỏa thuận của các bên tại Điều IV của Hợp
đồng. Như vậy, có căn cứ để chấp nhận giá trị khối lượng mà công ty T thi công
theo Bảng quyết toán lập ngày 22/9/2025 thể hiện cụ thể như sau:
Khối lượng công tác: 3.876.552.080 đồng
(I) Khối lượng phát sinh tăng: 427.811.091 đồng
(II) Khối lượng phát sinh giảm: 953.435.458 đồng
Tổng cộng: (I) + (II) – (III) = 3.350.927.713 đồng
Giá trị sau VAT: 3.686.020.484 đồng.
Các bên đều xác nhận số tiền công ty H đã thanh toán 1.909.431.667
đồng. Do đó, số tiền công ty H còn phải thanh toán 1.776.588.817 đồng. Yêu
cầu này của công ty T giảm so với yêu cầu khởi kiện ban đầu và phù hợp với các
tài liệu chứng cứ đã viện dẫn, phân tích nêu trên, nằm trong phạm vi xét xử của
cấp thẩm. Do đó, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị
đơn thanh toán số tiền thi công còn nợ là 1.776.588.817 đồng là có căn cứ.
(3.4) Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh
toán tiền lãi chậm thanh toán được cấp sơ thẩm chấp nhận:
Các bên đã thỏa thuận về tiến độ thanh quyết toán tại Điều IV Hợp đồng
300517: “Sau khi có biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng của Bên A,
Bên A sẽ thanh toán đến 100% giá trị quyết toán hợp đồng sau khi trừ đi 10%
giá trị tạm ứng, trong vòng 14 ngày kể từ ngày bên B cung cấp đầy đủ hồ
thanh toán”.
Hợp đồng cũng đồng thời thỏa thuận trách nhiệm của bên A (Công ty H)
nghiệm thu khối lượng giao khoán tại Điều VII. Như vậy, việc Bên B công
ty T không thể cung cấp hồ thanh toán đầy đủ do công ty H không thực hiện
hết trách nhiệm của mình. Căn cứ biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử
dụng ngày 8/6/2020 ký giữa công ty H và công ty P chứng tỏ phần công việc thi
công của công ty T đã được nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng. Công ty H
cũng đã được công ty P thanh toán toàn bộ giá trị thi công và hai bên đã thanh lý
hợp đồng tại Biên bản thanh hợp đồng ngày 25/6/2020. Công ty H quyền
giảm trừ hoặc ngưng thanh toán khối lượng cho công ty T theo thỏa thuận tại
Điều IV của Hợp đồng 300517. Nhưng thực tế từ khi công trình được các bên
bàn giao, nghiệm thu vào tháng 6/2020 đến nay, công ty H không bất kỳ văn
bản nào thể hiện việc yêu cầu giảm trừ, ngừng thanh toán gửi cho công ty T hay
yêu cầu phản tố nào trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án từ năm 2020 đến nay.
Căn cứ Điều 146 Luật xây dựng năm 2014, Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP
thì yêu cầu thanh toán lãi do chậm thanh toán của nguyên đơn đối với bị đơn
căn cứ. Lãi suất chậm thanh toán được tính theo lãi suất quá hạn do ngân
hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng
với các thời kỳ chậm thanh toán. Ngân hàng do công ty T mở tài khoản Ngân
hàng thương mại Cổ phần V. Căn cứ Văn bản số 229/BC-NHT-KT ngày
13
19/5/2026 của V cho biết mức lãi suất quá hạn từ thời điểm 20/4/2023 đến
17/5/2026 là không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn. Như vậy, văn bản
này của V không xác định được mức lãi suất cụ thể cần được áp dụng trong
trường hợp này khi căn cứ Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP. Do không xác
định được mức lãi suất theo văn bản pháp luật về xây dựng, Hội đồng xét xử
thẩm áp dụng Điều 306 Luật Thương mại, chấp nhận mức lãi suất theo yêu cầu
của nguyên đơn 15%/năm là phù hợp quy định pháp luật như đã phân tích.
Xác định mốc thời gian đtính phát sinh nghĩa vụ chậm thanh toán như
sau: Tại Điều IV Hợp đồng 300517 các bên thỏa thuận trong vòng 14 ngày kể
từ ngày bên B cung cấp đầy đủ hồ sơ thanh toán gồm:
- Bản thanh quyết toán hợp đồng
- Biên bản nghiệm thu hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng khung o
thép Zone 1+3+ Arilock.
- Hóa đơn VAT
- Bảo lãnh bảo hành gtrị bằng 5% giá trị quyết toán hiệu lực
trong vòng 12 tháng kể từ ngày biên bản nghiệm thu hoàn thành bàn giao
công tác lắp dựng...”
Như đã phân tích trên, mặc dù bên B là công ty T đã nhiều lần cung cấp
hồ sơ quyết toán nhưng công ty H không thực hiện ký nghiệm thu nên việc hồ sơ
thanh toán không Bản thanh quyết toán, biên bản nghiệm thu do lỗi của
công ty H. Các mốc thời gian để tính giá trị biên bản thay thế theo các biên bản
giữa công ty H công ty P. Đối với phần bảo hành bảo lãnh hiệu lực 12
tháng cũng đã quá hạn nếu tính từ ngày biên bản nghiệm thu 08/6/2020 nên
không còn giá trị. Căn cứ ngày hóa đơn VAT cuối cùng của công ty T được gửi
cho công ty H nhận 19/4/2023 theo vận đơn số EW773435682VN thì thời hạn
thanh toán trong vòng 14 ngày kể từ 19/4/2023 được xác định đến hết ngày
3/5/2023. Cấp thẩm xác định mốc thời gian tính lãi chậm thanh toán
20/4/2023 không chính xác cần phải điều chỉnh. Thời gian chậm thanh toán
được tính từ ngày 03/5/2023 đến ngày xét xử thẩm 24/9/2025 28 tháng 21
ngày. Số tiền lãi được chấp nhận là:
1.776.588.817 x 15%/năm x 28 tháng 21 ngày = 637.351.225 đồng.
Tổng cộng, số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn (tính đến ngày
24/9/2025) 2.413.940.042 (hai tỷ bốn trăm mười ba triệu chín trăm bốn mươi
nghìn không trăm bốn mươi hai) đồng.
Tại Đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc
2.260.144.716 đồng tiền lãi chậm thanh toán 706.295.223 đồng. Tổng cộng,
nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 2.966.439.939 đồng. Số tiền Nguyên đơn
không được chấp nhận 552.535.897 (năm trăm năm mươi hai triệu năm trăm
ba mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi bảy) đồng. Mặc nguyên đơn không
được chấp nhận một phần yêu cầu như nhận định nêu trên nhưng cấp thẩm
không tuyên trong phần quyết định về việc không chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có sai sót, cần phải điều chỉnh.
14
(3.5) Ngoài ra, bị đơn còn kháng cáo cho rằng cấp thẩm đã vi phạm tố
tụng khi không xem xét tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp về các chi phí
bị đơn phải thanh toán cho tai nạn lao động diễn ra trong quá trình nguyên đơn
thi công. Hội đồng xét xnhận thấy, yêu cầu này của bị đơn nếu được xem xét
căn cứ để cấn trừ nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Do đó, căn cứ
khoản 4 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn quyền đưa ra yêu
cầu phản tố. Nhưng như đã nhận định ở trên, trong suốt quá trình tố tụng từ năm
2020 đến nay, bị đơn không bất kỳ yêu cầu phản tố nào liên quan đến nội
dung này. Do đó, Tòa án cấp thẩm không xem xét các tài liệu chứng cứ này
của bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn sở chấp nhận
một phần. Ý kiến của Viện kiểm sát là phù hợp/ không phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích nêu trên.
[4] Về án phí:
Án phí thẩm sẽ được tính lại theo số tiền các bên thực tế phải thanh
toán cho nhau. Công ty H phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho công
ty T 2.413.904.042 đồng. Án phí công ty H phải chịu 80.278.081 (tám
mươi triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi mốt) đồng.
Công ty T phải chịu án phí trên phần yêu cầu không được chấp nhận cũng
như phần yêu cầu đã rút một phần tại phiên tòa 552.535.897 đồng. Số tiền án
phí 26.101.436 (hai mươi sáu triệu một trăm lẻ một nghìn bốn trăm ba mươi
sáu) đồng.
Do sửa án thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc
thẩm. Hoàn trả cho công ty H số tiền tạm ứng án p kháng cáo đã nộp
2.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0027248 ngày 16/10/2025
của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3
Điều 38, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 138, Điều 139, Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014;
- Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại;
- Căn cứ Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã sửa đổi bổ sung năm
2014).
Tuyên xử:
15
Chấp nhận một phần kháng cáo của Bị đơn, ng ty TNHH H, sửa Bản án
thẩm số 118/2025/KDTM-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực
7, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công ty TNHH
MTV T. Buộc công ty TNHH H thanh toán cho công ty Công ty TNHH MTV T
số tiền là 2.413.940.042 (hai tỷ bốn trăm mười ba triệu chín trăm bốn mươi
nghìn không trăm bốn mươi hai) đồng. Trong đó:
Số tiền gốc: 1.776.588.817 (một tỷ bảy trăm bảy mươi sáu triệu năm trăm
tám mươi tám nghìn tám trăm mười bảy) đồng.
Số tiền lãi tính đến ngày 24/9/2025: 637.351.225 (sáu trăm ba mươi bảy
triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm hai mươi lăm) đồng.
Công ty TNHH H còn phải thanh toán tiền lãi với mức lãi suất quy định
tại Điều 306 Luật Thương mại tương ứng với số tiền chưa thi hành án từ ngày
25/9/2025 đến ngày thực tế thanh toán.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công ty
TNHH MTV T về việc yêu cầu bị đơn công ty TNHH H thanh toán số tiền
552.535.897 (năm trăm năm mươi hai triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn tám
trăm chín mươi bảy) đồng.
3. Án phí sơ thẩm:
- Công ty TNHH MTV T phải chịu án phí 26.101.436 (hai mươi sáu
triệu một trăm lẻ một nghìn bốn trăm ba mươi sáu) đồng nhưng được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã đóng 45.664.400 (bốn mươi lăm triệu sáu trăm sáu
mươi bốn nghìn bốn trăm) đồng theo biên lai thu số 0027169 ngày 16/10/2020
của Chi cục Thi hành án dân sự quận Vấp (nay là Thi hành án dân sự Thành
phố Hồ Chí Minh). Hoàn trả cho công ty T 19.562.964 (mười chín triệu năm
trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi tư) đồng.
- Công ty TNHH H phải chịu án phí 80.278.081 (tám mươi triệu hai
trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi mốt) đồng.
4. Án phí phúc thẩm:
Hoàn trả cho công ty TNHH H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.000.000
(hai triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0027248 ngày 16/10/2025
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thinh án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
16
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Tp. Hồ
Chí Minh;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử
phúc thẩm tại Tp. Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 7 Tp. Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7
Tp. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Thị Như Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/KDTM-PT Bản án số 213/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất